- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đôi Mắt Hoa Vàng

18 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 62111)

w-nxtvy-101_0_130x300_1Ngày tôi gặp chị, chị hãy còn xuân sắc, thứ nhan sắc mặn mà đằm thắm của "gái một con trông mòn con mắt". Chị nhỏ tí tẹo như con chuột nhắt, riêng đôi mắt lại to, hun hút như lòng giếng sâu thăm thẳm. Tôi nhìn đôi mắt chị, rờn rợn. Chị giam ai trong lòng giếng?

"Không có ai. Trống rỗng. Thế nên mới sâu."

"Phải vậy không?"

Tôi nghi ngờ câu trả lời của chị. Tôi soi gương tìm tòi. Chỉ có hai vũng nước nhìn lại tôi. Đăm đăm.

"Em đầy hạnh phúc."

Chị buộc lại những sợi tóc vướng trên cổ áo, khẳng định.

"Nên mắt cạn?"

Tôi chẳng tin được lời chị nói. Tôi vẫn đi tìm hạnh phúc trong hôn nhân. Đêm qua, nằm bên N, tôi hỏi N có thương tôi.

"Không thương sao lại lấy."

N trả lời. Lơ lửng. Không hẳn xác định, cũng chẳng thể xem là lời phủ nhận. Úp mặt vào bờ ngực, tôi nghe trái tim N bình thản, cơ hồ không còn nhịp đập. Tôi chao người bồng bềnh trong giấc ngủ, mơ hồ một giam cầm trên chiếc giường êm ái. N có lỗi gì? Phải chăng điều tôi tìm kiếm chỉ là những ảo ảnh. Tôi vẫn sống với N như ngày mới cưới, vẫn ăn chung mâm, vẫn ngủ cùng giường, nhưng sao tôi vẫn cứ cô đơn, vẫn cứ tội tình trong tuyệt vọng. Mẹ tôi bảo, cứ nghèo khó ít lâu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, phải lăn xả vào cuộc đời, còn giờ đâu mà đòi tình hỏi yêu. Sống với nhau phải có cái nghĩa. Tôi cũng đã bao lần ép mình sống theo cách sống "nghĩa" của mẹ, nhưng rồi được vài hôm, tôi lại thấy mình rơi vào nỗi trống trải ngút ngàn. Tôi tìm gì với N? Tôi tìm gì trong cuộc đời?


Chị tuổi Thân. Chị bảo đàn bà tuổi thân long đong lận đận về tình duyên. Chiến tranh chấm dứt, chị lấy chồng vội vã, chưa kịp tìm hiểu, cũng chưa kịp yêu. Đêm tân hôn, chị ôm chồng trong phút giây xúc động, rên rỉ đê mê những tiếng tỏ tình. Chồng chị quát, "Im đi, đừng ồn ào." Chị trở thành người vợ câm từ đó. Chị câm luôn cho tới khi chồng chị dẫn về nhà một người đàn bà khác. Chị bình thản, không phản đối, không la hét rùm trời. Khi anh yêu chị, chị không được bầy tỏ, thì nay anh hết yêu chị, chị cũng không được phân bua. Chị câm lặng ôm con bỏ đi thật xa. Đổi đời. Chị líu lo ca hát, tự do phát biểu. Tôi lây cái tật nói nhiều của chị.


"Người ta cũng yêu nhau thế này sao?"

Tôi quay đầu hỏi N. N không trả lời, chỉ nghe từng hơi thở gấp rút, tựa không khí trong phòng đặc quánh cạn kiệt oxy. Vợ chồng yêu nhau như hành tội. Như tử tù lên máy chém. Tôi cứng người, đau thốn từng cú thúc đẩy, dù đã quen từ ngày mới cưới. Mặt ép xuống gối, hai cánh tay tôi bấu chặt khung giường. Tình yêu khuất mặt từ ngày tôi về với N. N hiền lành, nhu mì, đôi lúc e thẹn như đàn bà khi anh hôn tôi những ngày chưa cưới. Tôi không thể hình dung nét mặt N trên lưng tôi, sau ngày cưới. N có bình lặng trong tiếng kêu đau đớn của tôi? N cưỡi lên tôi, như đang cưỡi lên tình yêu của chúng tôi. Đêm đầu tiên của tuần trăng mật, tôi ngồi lặng lẽ trước lan can nhìn ra biển. Hawaii lộng gió. Biển đêm chập chùng từng điệu như một phần thân thể tôi đang thở dài. Tôi nghĩ đến chị. Và liên tưởng đến đêm tân hôn cũ xưa của chị.


N thở dốc, căng người, cương mình, trút đến giọt mật cuối cùng, rồi buông tay đi vào phòng tắm. Tôi lật người nằm thẳng, nhìn trần nhà lốm đốm ánh đèn. Thân thể tôi in lên trần với vũng mật nhòe. Vũng mật cựa quậy, trong lúc tôi nằm như chết. Cái chết của một người đàn bà sau ân ái không đẹp như trong tiểu thuyết.

Đêm vắng. Trăng non rỉ giọt nơi bực cửa. Vẫn cái vết trắng sữa lúc nãy nhiễu xuống trên lưng tôi, bây giờ vươn dài giống vòi bạch tuột. Gió tấp vào, đập lùng bùng lên rèm cửa. Gió ngây thơ vô tội. Gió hồn nhiên. Gió không mang tiếng tôi la hét vang dậy bóng đêm bên ngoài. Gió cũng không mang tiếng tôi kêu rú trong cổ họng và cả tiếng quát "Im đi." Tôi tưởng tượng đến đôi mắt chị mở lớn. Trống rỗng. Đen thẳm như lòng giếng sâu.

"Ngủ đi em."

N mơn trớn khi anh trở vào giường. Như mọi lần, N lăn vào sát bên tôi. Bàn tay anh trơn bóng dầu thơm bạc hà. N vuốt ve tôi, bắt đầu từ đôi vai. Da thịt nguội lạnh rực lên, xúc cảm cuồn cuộn tuôn theo những ngón tay miết mải. Tôi nhắm mắt, hiểu mình sẽ không bao giờ thoát khỏi bàn tay mê hoặc phù thủy của N.


Ánh sáng đầu ngày len vào rèm cửa đánh thức tôi dậy. Chung quanh im phắc, chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc trên tường. Tôi mang thân thể nhức buốt vào phòng tắm. Căn phòng dậy mùi bạc hà. Tôi ngỡ bàn tay N trơn tuột tựa thỏi bơ vẫn vân vê khắp người. Hai vũng mắt lạ lẫm phản chiếu từ tấm gương lớn không nhận ra chính mình. Tôi mở nước ở vòi sen, hình dung đến gương mặt chị, đôi mắt to đen trên thân hình chuột nhắt. Hôm qua, chị gọi điện thoại, giọng bình thản.

"Ngày mai chị vào bệnh viện cắt đi cái bướu ở cổ, bác sĩ nói chị yếu sức, hơi nguy hiểm, nhưng cái bướu lớn quá, phải mổ."

Tôi hoảng hốt:

"Thôi đừng mổ."

"Đâu được."

Chị bình tĩnh như không còn gì luyến tiếc. Thân thể, cục bướu, cõi đời. Chị hay nói, cuộc đời buồn tênh, ra đi tức là được giải thoát.


Tôi gặp N ở cửa bếp. Café thơm nức, trứng tráng béo ngậy. N dậy sớm, pha café, chuẩn bị điểm tâm, đảm đang như một người vợ. Đôi lần, không, nhiều lần tôi tưởng mình đã đổi vai thành người chồng. N nhu mì nhỏ nhẹ. N mủm mỉm cười. N sơ-mi tím, cà-vạt vàng. Tôi rót café ra tách, lảng tránh ánh mắt, đôi mắt dịu dàng ban ngày nhưng dữ dội ban đêm. Khuôn mặt N đã từ lâu tôi không dám nhìn thẳng vào. Sợ cổ họng tắc nghẽn, sợ thanh quản vô âm như người vợ câm. Chị hay nói: Em đầy hạnh phúc. Hạnh phúc không? Tôi soi mặt vào tách café tìm tòi. Chỉ có hai vũng nước nhìn tôi đăm đăm. Đen đục váng sữa.


Buổi sáng se lạnh. Nắng sớm buông trên những ngọn cây vừa tan hết sương đêm. Tôi thích lái xe với cửa sổ mở rộng, để gió đầu ngày tự do quấn quít lên da, thứ gió mịn màng mềm mát hơn những ngón tay N mê muội. Tôi bẻ tay lái dọc con đường rợp bóng cây xanh, chạy loanh quanh viền theo cánh đồng nở rộ hoa vàng. Màu vàng rực rỡ tựa những đợt sóng chói chang đuổi nhau đến tận chân trời. Tôi ngỡ mình đang trôi, trên mặt biển lấp lánh sóng vàng. Trong những cơn mơ hạnh phúc, tôi thấy mình trôi trên biển, bay trên mây, trên trời. Càng lên cao tôi càng hạnh phúc. Vũng mắt tôi trong veo sáng ngời. Hạnh phúc là điều có thật. Ở trên cao. Tôi thường nói với chị: ngày nào đó em sẽ lạc tay lái. Điều tất nhiên phải đến. Thế mà, chị đang có vẻ như muốn ra đi trước tôi mới lạ lùng.


Tôi vào đến sở làm, hoa vàng vương trên tóc. Ngày bắt đầu bằng buổi họp bàn giao. Công ty đổi chủ. Tương lai mù mịt chưa biết về đâu. Tách café ở nhà chưa đủ vực dậy đôi mắt mất ngủ thâm quầng. Tôi nghe lơ mơ, những lời nói thủ tục rườm rà.

"Trời đất, họp bàn giao mà mày lơ ngơ thế này, coi chừng mất chức." Amy huých tay tôi.

Tôi nhướng mắt nhìn người đàn ông đang thuyết trình tận đầu phòng. Amy bảo với tôi ông ta là giám đốc mới.

"Người xứ mày đó."

"Có gì lạ đâu. Dân Việt Nam của tao có mặt trên khắp thế giới."

Tôi tỉnh hẳn người sau khi bảo với Amy điều ấy. Một người Việt Nam ở đây chẳng là chuyện lạ, nhưng một người Việt Nam có "máu mặt" trong nghành biotech là chuyện không thường. Những chữ "sĩ" uy lực vẫn muôn đời quyến rũ con người. Cử nhân khoa học là bước đầu của các "sĩ" tương lai. Thuở mới ra trường, có người hỏi tôi làm gì với tấm bằng cử nhân "nửa đường gãy cánh", tấm bằng bọn sinh viên mang mộng bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ học hoài không tới nên đâm ngang, rẽ vào biotech.

"Cô Hiên!"

Tôi giật mình quay lại. Khuôn mặt đàn ông rắn rỏi hiện ra với đôi mắt bén sắc dưới hàng mi rợp. Đôi mắt nhìn thẳng, đen nháy, xoáy vào từng sợi lông trên mặt kẻ đối diện. Tôi bất chợt rùng mình, biết rằng đôi mắt sắc lịm ấy sẽ đeo đuổi ám ảnh tôi đến hồi bấn loạn. Mắt mở to, tôi đứng lặng nhìn sóng hoa vàng dập dìu quanh mặt người đàn ông mang trên ngực áo dòng chữ "Hello, My Name is Hoan Nguyen".

"Cô Hiên, tôi có thể gặp cô bây giờ, bàn giao các projects cô phụ trách?" "Hoan Nguyen" hỏi tôi, khoé môi hơi nhếch, ánh nhìn đã dịu.

Tôi máy móc gật đầu, vẫn còn bồng bềnh như đang trôi trên biển hoa vàng.


"Hiên có người chồng thật khéo."

Hoàn nói, ngọt lịm. Ánh mắt Hoàn làm tôi ngộp thở. Ánh mắt như dao lam bén cứa sâu vào thịt. Tôi nhìn vào đôi mắt Hoàn, vẫn không thể đọc được điều gì trong ấy.

Một lần sau buổi họp, Amy thả vào tai tôi những lời kỳ dị:

"Mày ghê lắm, mắt toàn những toan tính."

"Chỉ là công việc."

"Công việc ngoài giờ hành chánh?"

"Chỉ chuyện trò." Tôi chống chế.

"Đàn ông… chuyện trò gì rồi cũng nghĩ đến phải đem mày lên giường…"

Amy bỏ lửng câu nói rồi biến mất vào nhà vệ sinh. Tôi biết nó muốn nói đến Hoàn, người đàn ông có ánh mắt sắc nhọn, có khuôn mặt nở thành biển hoa vàng. Tim tôi đã chao đảo bởi môi Hoàn cười, đã bàng hoàng bất động khi ánh mắt Hoàn phủ chụp ráo riết. Tôi thèm đôi môi dầy khiêu gợi của Hoàn. Tôi chờ hơi thở nóng hổi Hoàn phả lên cổ. Tôi đợi Hoàn, khao khát lẫn sợ hãi, ngả xuống trên tôi tình yêu đối mặt. Nhưng Hoàn cứ lơ lửng. Đôi mắt Hoàn đầy ham muốn dừng lại bên vành tai, rà xuống nơi ngấn cổ. Rồi thôi. Hoàn lạnh lẽo dửng dưng trước mọi đẩy đưa, khuyến dụ. Hoàn lập lờ, phớt tỉnh. Hoàn lấy đi từng phân oxy trong bầu không khí của tôi. Tôi ngạt thở, thoi thóp như con cá trên thớt. Thì thôi, Hoàn cứ chém xuống, cứ cứa vào thịt tôi bằng đôi mắt dao lam bén ngời. Thì đây, cứ lột trần tôi ra, từ nút áo đầu tiên đến mảnh vải cuối cùng. Tôi không còn gì phải sợ. Tôi đang nắm trong tay bước ngoặc mới của đời mình. Tờ tổng kết cuối tháng của ngân hàng ghi một món chi tiêu ở khách sạn Marriott ngay tại trung tâm thành phố cho một đêm phù phiếm, one-night stand của N với ai đó. Lạ lùng, tôi không thấy mình tức giận ghen tuông, như thể đó là việc tôi hiển nhiên mong đợi.

"Anh biết gì về N mà nói."

Tôi trả lời, giận dỗi. Chúng tôi ra cửa, bước vào hoàng hôn bát ngát của biển hoa vàng. Bầy sẻ nhỏ ríu rít gọi nhau về tổ. Nắng yếu ớt đổ trên vai Hoàn như buổi chiều Hoàn đến nhà thăm tôi. Hoàn chỉ biết N, gặp N một lần ấy.


Chiều đến nhà dùng cơm, Hoàn đem theo đôi mắt dưới hàng mi rợp ngày đầu gặp tôi. Hoàn đứng sững nơi bực cửa, chăm chăm nhìn N khéo léo dọn bữa, như không tin tôi có người chồng tuyệt vời đến vậy. Hoàn đến từ miền Đông nước Mỹ, nơi tuyết lạnh và thiếu hơi hướm Á đông. Hoàn len vào hẳn trong bếp. N nấu bún bò giò heo. N mở tủ lạnh, lấy chân giò ra thảy lên thớt. Hoàn xắn tay áo, dành lấy con dao từ tay N. Ánh kim loại loé sáng lên cánh tay Hoàn vồng những múi thịt săn. Chân giò trắng phau ngon lành. Con dao phầm phập chặt xuống, loang loáng tựa ánh mắt sắc lạnh Hoàn quét lên cổ tôi hôm trước. N dùng cuống dao đập dập mấy tép xả, bỏ vào nồi nước dùng sôi liu riu trên bếp, rồi vớt miếng thịt bò bắp ra thái. Từng lát thịt tái hồng đều như đếm dôi đầy trên thớt. Tôi đứng chôn chân ở cửa nhìn hai người đàn ông xoắn xít làm bếp. Không nhìn thấy mặt N, nhưng qua cử chỉ nhịp nhàng tỉ mỉ của N, tôi biết N thích thú bởi sự hiện diện của Hoàn. N luộc bún, xả nước lạnh cho sạch, tắt bếp, rồi dọn tô chén ra bàn. Gian bếp thơm lừng. Nồi nước dùng vàng lườm óng ánh, tiết nâu mềm lún phún bọt, húng quế tím, chanh xanh mướt. Hoàn dùng đũa nhuyễn nhuần. Tuyệt vời. Những ngón tay đàn ông to cứng mạnh mẽ và từng đũa bún vào đôi môi dầy bóng nhẫy. Hoàn cười. Đôi mắt Hoàn bình thường dữ dằn, khi cười nheo lại có đuôi. Tôi đánh bạo nhìn sâu vào đôi mắt ấy khi N rời khỏi bàn ăn. Mắt Hoàn không sâu, không cạn, vừa tầm như mắt của bao người đàn ông khác, riêng chỉ ánh nhìn lục lọi sỗ sàng. Không sâu như mắt chị, không cạn như mắt tôi, Hoàn có hạnh phúc không? Tôi cân hạnh phúc của Hoàn bằng thước đo của chị.

Hai người đàn ông uống rượu ngoài ban công. Buổi chiều nắng úa loang lổ trên bức tường bếp. Tôi biết không thể, nhưng vẫn rùng mình với những ao ước vu vơ rải trên người Hoàn, từ đôi môi dầy bóng nhẫy, nheo mắt dài, đến những ngón tay mạnh mẽ. Amy nói cũng chẳng oan, đầu óc tôi đầy toan tính. Tôi ngồi xem chương trình hài kịch trên tivi, để mặc đám khán giả trong phòng quay cười ầm ĩ hộ mình. Tôi không cười. Tôi mê mải dõi theo vầng áng sáng đậm đặc hoàng hôn rớt trên vai Hoàn. Đằng sau Hoàn, bóng tối bất trắc và quyến rũ trải dài mênh mông.


Tôi tới thăm chị tại nhà, thấy chị đã yếu nhiều. Chứng ung thư bạch huyết đã lây lan khắp người. Chị bình thường đã bé tí teo, nay thân thể gầy gò như một tấm lụa mỏng. Hai bàn tay xương xẩu đầy những nhánh gân xanh. Tôi nhìn vào mắt chị, rờn rợn. Hai giếng mắt sâu thẳm, trống rỗng. Hình như sự sống cũng vắng mặt. Tôi nắm chặt bàn tay chị, mân mê lần cuối.

Chị hỏi:

"Em làm gì thế? Chị đã chết đâu."

"Chị ốm quá." Tôi nói trại đi.

"Trong xách tay của chị có xâu chuỗi. Chị tặng em."

Tôi ngỡ chị trối trăn, nên cứ ngồi yên nắm tay chị. Chị giục:

"Trong cái tủ ở cuối phòng kìa. Đem tới đây cho chị."

Xâu chuỗi ngọc trai tôi thấy chị vẫn thường đeo trên cổ. Chị mua vào một ngày mùa xuân năm nào tại phố biển. Chị bảo để kỷ niệm một ngày hạnh phúc trong đời chị, thứ hạnh phúc được đúc kết từ những kinh nghiệm đau khổ và niềm cô đơn cùng cực, thứ hạnh phúc chị đi tìm suốt cuộc đời. Hạnh phúc của sự an bình nội tâm. Tôi mân mê từng hạt ngọc trai sáng rỡ, óng ánh sắc màu như một thứ hàng xa xỉ. Tôi chưa thể nào được như chị, tâm tôi còn dậy sóng, hồn tôi còn lênh đênh giữa sương mù dầy đặc.

Chị đeo chuỗi ngọc trai vào cổ tôi. Móng tay chị sắc như móng mèo, xước lên da tôi.

"Em đầy hạnh phúc."

Chị cười. Tôi nhìn vào mắt chị. Chị sẽ hạnh phúc ra đi?

Ngồi một lúc, chị bảo:

"Ở chơi với chị đến mai."

Tôi lắc đầu, không dám nhìn chị. Tôi nhất định ra về. Tôi sợ mình sẽ khóc. Mắt chị thăm thẳm, ngay cả đến sự sống cũng vắng mặt. Tôi sợ mình sẽ khóc. Em chẳng đầy hạnh phúc.


Chiều cuối tuần vắng vẻ, con đường hiu quạnh buồn tênh. Tôi lái xe chậm rãi về lối nhỏ quen thuộc. Biển hoa vàng mải mê đuổi sóng, từng đợt trải dài dưới chân tôi. Gió lồng lộng luồn vào ô cửa mở. Chuỗi ngọc trai đong đưa trên ngấn cổ nóng. Vết xước sau gáy xót buốt mồ hôi.

Tôi về đến nhà trời vừa sẩm tối. Trong nhà tù mù ánh đèn. Tôi vào, cửa nhà không khóa. Đèn phòng khách chưa bật, tối om om. Mùi thức ăn thoảng ra từ gian bếp. Hai chân nến lập lòe, soi lờ mờ bữa ăn dang dở. Nồi bún bò giò heo lạnh ngắt. Mấy thanh tiết bầm sứt sẹo tổ ong lêu bêu dưới đáy nồi. Tôi vào hành lang lung linh ánh nến. Sáp nến nhỏ vào lòng tay tôi bỏng rát. Tivi từ phòng trong, vọng ra những âm thanh rên xiết đứt quãng, những tiếng thở rền rĩ man dại. Tôi ngỡ N ngủ quên chưa tắt. Tôi vào phòng, ánh nến lung linh vỡ òa. Sáp nến bỏng rộp lòng tay tôi nát. Bốn cánh tay gân guốc quấn chặt. Hai đôi chân lồng lên nhau. Rập rình. N bật lên tiếng rên xúc động đầy khoái cảm. Những ngón tay mạnh mẽ của Hoàn, không thể là ai khác, bấu trên mặt giường bung ra thỏa mãn. Tôi rú lên. Chân nến lập lòe cạn. Lửa cháy bừng trên tay tôi. N ngẩng nhìn. Đôi mắt N dài dại, u mê, oằn oại đến sợ. Lửa cháy đỏ rực trong đôi mắt N, đôi mắt bao năm ẩn trên lưng tôi. Hừng hực.


Tôi quay nhanh ra cửa, mắt cuồng bởi ánh lửa chói lòa. Hai tấm lưng đàn ông ướt nhẫy chồng lên nhau. Lửa bập bùng cháy. Tôi lao vào xe. Ánh mắt N bám theo, châm chích kỳ quặc khiến tôi bủn rủn không bẻ nổi tay lái. Hai hàng cây vươn những cánh tay dài sần sùi đen đủi bủa chụp. Sương đêm lênh láng dâng lên từ biển hoa. Tôi nhấn mạnh chân ga. Chiếc xe chồm lên phía trước, hai bánh sau nghiến lạo xạo lên đường. Tôi thấy mình trôi trên biển đen, gió đại dương ào ào ập đến. Đằng sau tôi, lửa vẫn lồng lộn cháy. Tôi nhìn vào kiếng xe. Hai vũng đen sậm đặc sệt nhìn lại tôi. Đăm đăm. Lửa bập bùng. Những hạt ngọc trai nở tung, rần rật trên cổ tôi tựa đàn kiến vàng hung hăng cắn xé.

Rồi thì ra, mắt sâu mắt cạn cũng buồn như nhau. Hạnh phúc là điều không có thật. Chị ơi!

Nguyễn Xuân Tường Vy
tháng bảy, 2008

Ý kiến bạn đọc
14 Tháng Mười Hai 20173:10 CH
Khách
Người ta run rẩy khi hạnh phúc và cũng như thế khi bất ngờ ngộ ra mình không như vậy.
12 Tháng Mười Hai 20177:48 SA
Khách
Hay...đắng quá
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 643)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 489)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1254)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1296)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1130)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1005)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3212)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2044)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3042)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2544)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9873)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16719)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15712)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16134)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1296)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3211)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3042)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2991)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1128)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5200)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7173)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6500)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 643)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 488)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1253)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2544)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2362)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2204)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2375)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2405)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1005)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13525)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29616)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35680)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10700)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12636)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2044)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3042)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3225)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3433)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4057)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7755)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7097)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9859)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.