- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Nhìn Lại Vấn Đề Hoàng Sa

01 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 65872)

hoangsa1974_0_208x300_1

Nhìn Lại Vấn Đề Hoàng Sa

Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu, Ph.D., J.D.

LTS: Bài viết của Tiến sĩ Sử học và Tiến sĩ Luật học Vũ Ngự Chiêu "Nhìn Lại Vấn Đề Hoàng Sa" trên cả hai bình diện sử học và công pháp quốc tế. Bài nghiên cứu được viết vào năm 2009 và đã đăng trên Hợp Lưu báo in cũng như trên trang nhà của Hợp Lưu. Dù nhiều năm đã trôi qua nhưng tính thời sự vẫn còn rất mới ... Chúng tôi xin post lại bài viết để gởi đến quí bạn đọc và văn hữu Hợp Lưu.

TCHL

I. Hoàng Sa [Paracels hay Huangsha, Xisha]:

Quần đảo Hoàng Sa (Paracels) từ nhiều thế kỷ thuộc lãnh thổ Việt Nam.

1. Tài liệu VNCH ghi Quần đảo Hoàng Sa cách bờ biển Đà Nẵng khoảng 300 cây số về hướng Đông (Kinh tuyến 111 độ tới 113 độ Đông Greenwich; vĩ tuyến 15 độ 15 tới 17 độ 5). Gồm hai nhóm đảo Tuyên Đức (Amphritite), 9 đảo, và Nguyệt Thiềm (Croissant), 7 đảo. (1)

2. Bách Khoa Từ Điển Quân Sự Hà Nội, ấn bản 1996, ghi Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng khoảng 350 cây số về hướng Đông. Đông qua Tây, 222 km (113-115 kinh tuyến Đông), Bắc Nam, 160 cây số (15.45-17.15) Diện tích 15,000 cây số vuông; gồm trên 30 đảo. Chia làm hai cụm:

Đông, gồm 12 đảo, với hai đảo lớn Phú Lâm và Linh Côn, bị Trung Cộng chiếm từ 1956, mỗi đảo rộng khoảng 1.5 cây số vuông. Nhóm miền Tây, gồm Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Duy Mộng, v.. v.. (2)

Nhóm miền Tây [Nguyệt Thiềm hay Croissant] do các chính phủ Việt Nam quản lí từ đời Gia Long (1802-1820), gồm 7 đảo chính: Hoàng Sa (Pattie), Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan),ợ Duy Mộng (Drummond), Bách Qui (Pussa Keah), Tri Tôn (Triton), và một số ghềnh san hô không tên.

Hoàng Sa (Pattie): Quan trọng nhất do san hô tạo thành. Diện tích chung khoảng 3.5 km2, nhưng chỉ có 1.5 km2 nhô trên mặt nước khoảng 6 thước tây, gồm những tảng đá nhỏ và bụi rậm. Tàu hay thuyền lớn phải bỏ neo cách bờ khoảng 100 mét, rồi dùng thuyền nhỏ. Số phosphate khoảng 1 triệu tấn.

Cam Tuyền (Robert): khoảng 4 cây số Tây Nam Hoàng Sa, diện tích 1.5 cây số vuông; có 1 cầu sắt và một đường đi được, với nhiều bụi rậm và đá tảng. 657,000 tới 1 triệu tấn phosphate.

Vĩnh Lạc (Money), [Quang Ảnh, hay Hữu Nhật?]: Tây Nam Cam Tuyền. Cũng do san hô tạo nên. Gồm nhiều đá tảng và bụi cây. Quanh đảo nhiều đá ngầm. Phosphate từ 787,000 tới 1.2 triệu tấn.

Quang Hòa (Duncan): Đông Nam Hoàng Sa, Tây Nam Duy Mộng. Gồm 1 đảo lớn, và 1 đảo nhỏ, nối liền với nhau bằng một bãi cát dài. Cao hơn mặt biển 4 thước. Cũng quan trọng như đảo Hoàng Sa.

Duy Mộng (Drummond), Phía Đông Hoàng Sa. Đặc biệt nhất, vì có một con lạch nhỏ nên thuyền lớn có thể vào sát bờ. Nhô trên mặt biển 4 thước. Phosphate từ 700,000 tấn.

Bách Qui (Pussa Keah):

Tri Tôn (Triton), [Hữu Nhật, hay Quang Ảnh?]. (3)

3. Trên phương diện quân sự, đây là trung tâm kiểm soát lộ trình trên biển Nam Hải. Về kinh tế, ngoài phốt phát, nhiều tài nguyên thiên nhiên và hải sản (ốc, rong biển).

4. Về pháp lý, năm 1951, 51 quốc gia tham dự Hội nghị San Francisco nhìn nhận chủ quyền của QGVN.

Trên thực tế, VNCH cai trị Hoàng Sa theo các Nghị định số 4762 (21/12/1937) và SL số 143/NV ngày 20/10/1957. Một đài khí tượng đã dựng lên từ năm 1939. Hải quân VNCH thường tuần tiễu, và ĐPQ Quảng Nam trú đóng thường xuyên. [p.5] Sự việc này thỏa mãn đòi hỏi chiếm ngự liên tục [continual occupation and habitation] tại Hoàng Sa–một yếu tố quan trọng trong việc tranh chấp chủ quyền theo công pháp quốc tế.

5. Chủ quyền lịch sử của Việt Nam được ghi nhận qua ít nhất bốn [4] sự kiện sau:

a. Theo Lê Quí Đôn, tác giả Phủ Biên Tạp Lục [q. 2], Hoàng Sa [tức Vạn lý Trường Sa]: Năm Càn Long thứ 19 [1754?], người Việt từ Hoàng Sa bị bão, trôi giạt qua đất TH; được Càn Long gửi lại. (5)

b. Tháng 3-4/1816 [Tháng Ba Bính Tí], vua Gia Long sai thủy quân và đội Hoàng Sa cỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy. (6)

c. Tháng 9-10/1833 [Tháng 8 Quí Tị], Minh Mạng nói với Bộ Công: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một giải Hoàng Sa [Paracels hay Huangsha], xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường hay bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ sai người ra dựng bia trồng cây cối. Ngày sau, cây cối to lớn, xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh được cảnh mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời.” (7)

d. Tháng 1-2/1837 [Chạp Bính Thân], tàu Bri-tên bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Hơn 90 người ghé bãi biển Bình Định. Nguyễn Tri Phương đưa một số người qua Hạ Châu để về nước. (8)

II. Tranh Chấp Chủ Quyền:

1. Năm 1947, chính phủ Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch ra tuyên cáo tự nhận chủ quyền biển Đông. Tuyên cáo này thiếu cơ sở pháp lí, vì Trung Hoa chưa bao giờ thực sự sinh sống tại đây hay kiểm soát quần đảo Hoàng Sa.

a. Chứng cớ [evidence] duy nhất chỉ có lập luận là thuyền bè và thương đoàn TH từng ghé qua đây.

b. Nên ghi nhận thêm, những tài liệu gọi là “chứng cớ lịch sử”TH chẳng có chút khả tín nào.

(1) Tưởng Giới Thạch và cả hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa từng lập nhiều thành tích ngụy tạo tài liệu: Nổi danh nhất có những tài liệu về cái gọi là “cuộc thảm sát Nam Kinh” [“The Nanking Massacre”] vào tháng 12/1937.

(2) Xa hơn nữa, hơn một thế kỷ sau khi sử sách TH ghi chép đã đặt “quận Nhật Nam” [hay Tượng Lâm], “vào bản đồ đế quốc Hán” từ thế kỷ thứ II TTL, Lưu Trang (Hán Minh đế, 58-75) còn hỏi Trương Trọng: “Dân Nhật Nam làm nhà cửa hướng về phương Bắc để đón ánh mặt trời chăng?” [Nhật Nam quận bắc hướng thị nhật gia?] (9)

Nhiều thế kỷ sau nữa, văn gia Hán còn chú thích “Nhật Nam là nói “nằm về phía Nam mặt trời.” Nhan Sư Cổ (581-645), làm việc dưới triều Lý Uyên (Đường Cao Tổ, 618-626) và Lý Thế Dân (Thái Tông, 627-647) thường chú giải ngũ kinh và Hán Thư của Ban Cố, nói “Nhật Nam là nói về phía Nam mặt trời; là bảo mở cửa phía Bắc để hướng về mặt trời.” (10)

Sử sách phong kiến TH còn ghi lại những “công trình khoa học” như dựng cây nêu tại thành Khu Túc, lị sở huyện Tượng Lâm (Nhật Nam), thì cây nêu 8 thước bóng của nó ở phía Nam là 8 tấc; dựng nêu ngày 5/5 âm lịch [mùa Hè] cũng thấy bóng ở phía Nam của cây nêu! (11)

(3) Sử quan Nguyễn ghi Tượng Lâm: Đời Tần thuộc Tượng quận, đời Triệu thuộc Giao Chỉ; Hán tách ra thành Nhật Nam. Đến đời Lưu Tống bị Lâm Ấp chiếm. Nhà Tùy mới lấy lại, đặt làm Đãng Châu, rồi đổi làm quận Tị Ảnh. Sau nhập vào Chiêm Thành. Nay là Quảng Bình-Quảng Trị. (CM, TB, II:5b-6a, (Sài Gòn, 1967), II:160-163. Nhưng theo Từ Hải: Lãnh thổ Nhật Nam tương đương từ núi Hoành Sơn [đèo Ngang] tới núi Đại Lãnh [Đèo Cả]). (12)

(4) Sử sách phong kiến Trung Hoa đưa ra những huyền thoại về Mã Viện [Ma Yuan], người từng tái xâm lăng cổ Việt năm 42-43, như “thần sét” giúp phá đá ngầm làm nên kinh Thiên Uy. Đặc biệt nhất là việc dựng “đồng tiêu” [trụ đồng] phân định biên thùy phía Nam đế quốc Hán. Chẳng những sự hiện hữu của trụ đồng này đã bị bác bỏ, mà ngay cả vị trí của nó trong sách sử Trung Hoa cũng không ngừng Nam tiến–từ khoảng động Cổ Sâm (Quảng Yên cũ, từ năm 1540 lọt vào lãnh thổ Quảng Tây), di chuyển dần xuống Nghệ An, Quảng Bình-Quảng Trị, núi Đá Bia (Phú Yên), rồi tới tận Phù Nam (khoảng An Giang ngày nay).

Cổ sử Trung Hoa thực tế chẳng nói gì về cổ Việt, ngoại trừ cách mô tả chung chung “bách Việt” ở phía Nam sông Dương tử, trong mục “Nam Man Chí” của Sử Ký (Tư Mã Thiên), hay “Mã Viện truyện” trong Hậu Hán Thư. Nhưng văn gia Hán đời sau bịa đặt thêm những chi tiết hoang đường nhằm phục vụ mục tiêu “thôn tính thiên hạ.” (Như mới đây ở hải ngoại có người ngụy tạo lệnh bổ nhiệm Ngô Đình Nhu làm Quản thủ văn khố Hà Nội mà Giáo sư/Tiến sĩ Dương Đình Nham đã tặng tôi một bản sao trong dịp về Việt Nam năm 2005, hay “hình ảnh” Tổng thống Eisenhower đã “gặp” Ngô Đình Nhu năm 1953 [sic]!)

(5) Ngoại trưởng Vương Văn Bắc có phần hữu lí khi ra tuyên cáo ngày 19/1/1974 rằng “Trung Cộng đã mạo nhận chủ quyền trên Hoàng Sa.”

2. Năm 1956, sau khi Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương Tổng tuyển cử, và Pháp bắt đầu rút quân viễn chinh khỏi Việt Nam, cả Bắc Kinh và Đài Bắc đều tự nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ tự đặt tên là Xixha [Tây Sa] và Nansha [Nam Sa]. Năm này, Trung Cộng chiếm hai đảo lớn ở cụm Tuyên Đức, phía Đông.

Bộ Ngoại Giao VNCH đã tích cực phản đối việc này. Hà Nội chỉ im lặng. Ngày 4/9/1958, Bắc Kinh công bố một bản đồ có lãnh hải phía Nam gồm những dấu chấm và gạch đứt đoạn gần giống với bản đồ năm 1947 của Đài Loan. Ngày 14/9/1958, Phạm Văn Đồng nhân danh Thủ tướng VNDCCH, viết thư cho Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc vụ viện [ Thủ tướng] thừa nhận biên giới công bố ngày 4/9/1958 của Bắc Kinh. (13)

3. Cuộc tranh chấp lãnh hải bùng lên sau khi Hà Nội yêu cầu thương thuyết về lãnh hải Vịnh Bắc Bộ vào cuối năm 1973.

Ha Noi informed Beijing of its intention to prospect for oil in the Gulf of Tonkin. (Sách Trắng, 1979:68; Zhai, 2000:208)

Vịnh Bắc Bộ [Gulf of Tonkin] là vùng biển nằm giữa Bắc Việt và đảo Hải Nam của Trung Hoa. Diện tích khoảng 36,000 hải lí vuông [square nautical miles], hay 126,250 cây số vuông [square kilometres]. Chỗ rộng nhất là 176 hải lí (310 cây số), chỗ hẹp nhất 112 hải lí (207.4 km). Dưới thời Pháp thuộc, Tonkin [tức Bắc Kỳ hay Bắc Bộ ngày nay] được chủ quyền 2/ 3 lãnh hải vịnh, nhưng Bắc Kinh cho rằng qui ước Pháp-Thanh năm 1885 và 1887 bất bình đẳng. Muốn ký lại một hiệp ước có thể gọi là “bất bình đẳng” khác giữa THNDCHQ và VNDCCH, dựa theo luật kẻ mạnh.

Sau khi ký hiệp định Paris (27/1/1973), ngày 26/12/1973, Hà Nội yêu cầu Bắc Kinh thương thuyết về lãnh hải vì dự định tìm dầu hỏa ở vịnh Bắc Bộ. Ngày 18/1/1974, BK đồng ý, nhưng cấm Hà Nội thăm dò dầu khí trong vùng 20,000 km vuông do BK định ra. Ngoài ra, cấm không cho nước thứ ba vào thăm dò. Đàm phán ở cấp thứ trưởng trong thời gian tháng 8-11/1974, nhưng không đạt kết quả. (14)

Thời gian này, VNCH cũng tuyên bố sẽ cho thăm dò dầu khí ở vùng Hoàng Sa. Bắc Kinh không trả lời VNCH, dù lúc đó VNCH đang thực sự quản lí Hoàng Sa. Chính phủ tiền nhiệm, Quốc Gia Việt Nam, cũng tiếp nhận chủ quyền từ Pháp, rồi Nhật từ năm 1951.

4. Ngày 11/1/1974, Bắc Kinh “mạo nhận” các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đang do VNCH quản lí, là một phần lãnh thổ của họ. Ngay sau tuyên bố nói trên, Quân Ủy Trung Ương Trung Cộng đã mở chiến dịch xâm chiếm Hoàng Sa bằng cách tung nhiều chiến hạm và tàu đánh cá vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa, dưới sự yểm trợ của không quân. (15)

5. Ngày 12/1/1974, Ngoại trưởng VNCH cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động gây hấn của Trung Cộng.

Ngày 15/1, khi Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ 16) do Trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng đưa ĐPQ Quảng Nam và nhân viên khí tượng ra hoán đổi lực lượng đồn trú ở đảo Hoàng Sa (Pattie), phát hiện ra rằng tàu đánh cá Trung Cộng đang lảng vảng bỏ chạy về hướng Đông Bắc. Trong khi đó, quân Trung Cộng đã dựng cờ, ngụy tạo mộ giả trên các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond). Hôm sau, 16/1, nhân dịp ra kinh lý vùng I, Nguyễn Văn Thiệu cho lệnh giải quyết ôn hòa không được thì dùng võ lực. Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ 4), chiến hạm tối tân nhất của VNCH, dưới quyền Trung tá Vũ Hữu San, được lệnh rời Tiên Sa ngay tối đó, mang theo một trung đội Biệt Hải–trước kia đồn trú ở Cửa Việt và thường xâm nhập lãnh hải BV.

Chiều hôm sau nữa, 17/1, toán Biệt Hải tháp tùng HQ-4 đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc (Money), tìm thấy bốn [4] ngôi mộ giả. Một toán 31 Biệt Hải cũng tìm thấy cờ TC trên đảo Cam Tuyền (Robert). Chiều đó, hai chiến hạm TC xuất hiện ở phía nam Cam Tuyền, rồi bỏ đi. Một chiến đấu cơ MIG cũng bay qua HQ 4, nhưng chưa can thiệp. Buổi tối, hai chiến hạm Trung Cộng từ Quang Hòa (Duncan) đến tăng cường, yêu cầu chiến hạm VNCH ra khỏi “lãnh hải” TC.

Đêm 17 rạng 18/1 thêm nhiều tàu TC tăng viện, công khai khiêu khích. Hai tàu HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh cáo, yêu cầu chiến hạm TC rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Phe Trung Cộng cũng đưa ra đòi hỏi tương tự, cáo buộc VNCH đã vi phạm lãnh hải TC.

Phản ứng của HQ/VNCH này khiến ngày 18/1, tại Bắc Kinh, Chu Ân Lai chủ tọa một hội nghị BCT về Hoàng Sa, quyết định thành lập một tổ trong Quân Ủy TW, chịu trách nhiệm hành quân và các vấn đề chiến tranh. Gồm 5 người–Ye Jianying [Diệp Kiếm Anh], Wang Hongwen [Vương Hồng Văn], Zhang Chunquiao [Trương Xuân Kiều], Deng Xiaoping [Đặng Tiểu Bình], và Chen Xilian [Trần Tích Liên]. Kiếm Anh làm Chủ tịch. Mao chấp thuận. Hôm sau, tổ quân ủy này được mở rộng, thêm Su Zhenhua [Tô Chấn Hoa], Chính ủy thứ nhất HQTC, để soạn thảo kế hoạch đánh chiếm Hoàng Sa. (16)

Ngày này tại Hoàng Sa đã có 14 [11] chiến hạm TC xuất hiện, kể cả 4 [1] tàu Komar trang bị hỏa tiễn. Sáng 18/1, chiến hạm HQ-4 tiến về đảo Cam Tuyền (Robert). Lúc 8G, trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ lên Cam Tuyền. Sau khi lục soát chỉ phát hiện những nấm mộ mới đắp không hài cốt y như ở đảo Vĩnh Lạc.

Đến 11G, hai tàu đánh cá vũ trang mang cờ Trung Cộng tiến gần đến đảo Hoàng Sa (Pattie), nơi đặt đài khí tượng và có 1 trung đội ĐPQ Quảng Nam trú đóng. Tàu HQ 4 và HQ 16 được lệnh hướng về đảo Hoàng Sa. Tàu đánh cá Trung Cộng–được trang bị hai đại liên (một đằng trước mũi và một đằng sau lái tàu), và khoảng 30 thuyền viên–tảng lờ tín hiệu cảnh cáo của HQ-4, và có thái độ cố tình khiêu khích.

HQ-4 áp sát mạn tàu đánh cá Trung Quốc để xua đuổi. Thấy không tác dụng, HQ-4 dùng mũi tàu ủi thẳng vào tàu đánh cá, làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái. Tàu này vội vàng tháo lui. Chiến hạm HQ-16 cũng quyết liệt xua đuổi tàu đánh cá còn lại.

Trong sáng 18/1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) dưới quyền Trung tá Phạm Trọng Quỳnh ra tăng cường. Mang theo Đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Ngoài ra, còn một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của hải quân).

Lúc 15g30 chiều 18/1, Đại tá Ngạc cho lệnh ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Duy Mộng (Drummond). Nửa giờ sau, hai tàu chiến Trung Cộng can thiệp, cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16.

Đêm 18 rạng ngày 19/1, tàu chiến và tàu đánh cá vũ trang Trung Cộng tiếp tục kéo đến gần đảo Hoàng Sa. Chiến hạm HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc, họ mới tạm rút về hướng bắc.

Nửa đêm đó, Thiếu tá Ngụy Văn Thà dẫn hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) tới tăng viện. Tuy nhiên, lực lượng đôi bên chênh lệch quá xa. Mặc dù chiến hạm Mỹ thuộc Hạm đội 7 ở gần đó, nhưng HQ Mỹ không thể can thiệp. Từ tháng 4/1972–trong khí thế mở rộng vòng tay đón chào Bắc Kinh “trở lại với cộng đồng thế giới”–Cố vấn ANQG của Tổng thống Richard M. Nixon là Henry A. Kissinger đã bí mật tuân theo yêu cầu của Huang Hua [Hoàng Hoa] là không cho chiến hạm Mỹ hoạt động trong vòng 12 hải lý các bờ quần đảo Hoàng Sa. (17)

Chỉ có Liên Sô Nga–một đồng minh của Lê Duẩn–không thừa nhận chủ quyền mạo nhận và chiếm đóng bằng vũ lực của Bắc Kinh. (18)

Ngày 19/1/1974, tại Bắc Kinh, Chu Ân Lai yêu cầu Diệp Kiếm Anh triệu tập tổ quân ủy để soạn thảo kế hoạch đánh chiếm Hoàng Sa. (19)

Phía VNCH, lúc 6 G sáng 19/1, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) tiến sát đảo Quang Hòa (Duncan) và đổ bộ trung đội biệt hải lên đảo. Khi gần đến Quang Hòa, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy, HQ/VNCH phát hiện doanh trại mới dựng và cột cờ có cờ Trung Cộng (trước đó hơn một tháng, HQ-4 trong một chuyến khảo sát quần đảo đã không phát hiện gì ngoài chai lọ trôi tấp lên bãi cát). Hai mươi phút sau, lực lượng biệt hải đổ bộ lên bờ đông nam Quang Hòa, cắm cờ VNCH lên bờ cát và hốc đá, rồi tiến nhanh vào bên trong đảo. Nhưng lực lượng người nhái từ HQ-5 không thể đổ bộ tăng viện vì tàu không vào sát được bờ, gió mùa lại khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giật dữ dội.

Phía TC, nhờ xuôi gió, đổ một lực lượng TQLC đông đảo hàng trăm người lên phía bắc Quang Hòa. Họ chiếm ngữ sau các tảng đá, dàn đội hình chờ đón biệt hải. Và họ nổ súng trước. 8G30, đại liên và cối 82 TC nã vào đội hình Biệt hải VNCH, khiến hai binh sĩ tử thương, và hai bị thương. Nhưng chỉ huy VNCH không thể sử dụng hải pháo yểm trợ vì sợ bắn vào quân bạn.

Trên mặt biển, bốn chiến hạm TC chặn đường tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) không cho tiến về bờ tây nam Quang Hòa. Hai tàu hoả tiễn Komar [Kronstadt] mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 li và nhiều đại bác 37 li cũng tiếp cận HQ-4.

Lúc 10G20 [10G30], hải chiến khởi sự. Hai phút sau, một hộ tống hạm Kronstadt khai hỏa vào Khu trục hạm HQ-4. Tàu chỉ bị thương nhẹ, phản pháo khiến tàu Kronstadt của TC bị nổ, rồi chìm xuống đáy biển. (Mai Chửng, tr. 8)

HQ-5, HQ-16 và HQ-10 cũng lâm chiến. Trong 30 phút hải chiến, một chiến hạm Kronstadt Trung Cộng phát nổ đâm vào bờ, hai chiếc khác bị thương nặng. Hải quân Trung Cộng điều thêm một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm và đảo Hải Nam tới tăng viện

Phía VNCH, tàu Nhật Tảo (HQ-10) bị thương nặng. Tàu này nhỏ, cũ kỹ, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng hỏa tiễn Stynx ngay đài chỉ huy và tháp súng, chìm dần xuống lòng biển. (Nguồn tin khác nói trúng hai quả đại bác 100 li) Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị chết hoặc trọng thương, kể cả Hạm phó Nguyễn Thành Trí. Tổng cộng 82 người mất tích. (20)

Theo 21 nhân chứng may mắn sống sót, khi hộ tống hạm này sắp chìm, 28 thủy thủ được lệnh bỏ tàu bằng các phao bè. Qua 78 giờ trôi giạt trong sóng gió, sáu người vùi thân đáy biển vì thương tích hay kiệt sức, trong đó có hạm phó Trí. Mãi đến chiều 22/1 họ mới được tàu dầu Kopionella mang quốc kỳ Hoà Lan của Hãng Shell cứu vớt ở phía đông Đà Nẵng 297 cây số. Lúc lên tàu, thêm một thủy thủ qua đời vì kiệt sức. (Mai Chửng,1974:10) Một tuần sau, ngày 29/11/1974, ngư phủ VN cứu sống được 15 quân nhân (1 SQ, 2 HSQ, 12 đoàn viên) tại 55 cây số đông Mũi Yên (Qui Nhơn). Họ thuộc toán đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc.

Ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, và HQ-16 đều bị thương, 1 hư hại nặng, 2 hư trung bình, nhưng cuối cùng về được Đà Nẵng an toàn. Có tin BTL HQ Vùng I CT cho lệnh HQ-4 trở lại tái chiếm Hoàng Sa, nhưng sau đó hủy bỏ.

Về nhân mạng, VNCH có 19 tử thương, 43 bị thương, 101 mất tích. (21)

Tối 19/1, Mao và Chu Ân Lai chấp thuận đề nghị đánh chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa.

Lúc 10G20 ngày 20/1/1974, Diệp Kiếm Anh cho lệnh 4 MIG TC oanh tạc Cam Tuyền, Hoàng Sa và Vĩnh Lạc. 10 chiến hạm TC cũng tấn công đảo Cam Tuyền và Hoàng Sa. Sau 20 phút giao tranh, giặc tràn ngập vị trí, bắt giữ 48 [43] người, kể cả một [1] đại úy cố vấn Mỹ.

Ngày 20/1, ngoại trưởng VNCHờ gọi điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo An và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa.

Tối đó, Chu Ân Lai chủ tọa buổi họp nghe báo cáo kết quả cuộc tấn công Hoàng Sa. Sau đó hân hoan báo cáo lên Mao. Điều Mao đặc biệt hài lòng là Đại sứ Mỹ Graham Martin ở Sài Gòn từ chối lời yêu cầu giúp đỡ của Thiệu, trong khi Hạm đội 7 tránh xa Hoàng Sa. (22)

Ngày 31/1/1974, Bắc Kinh phóng thích năm [5] tù binh (2 ĐPQ, 1 HQ, 1 Công Binh, 1 nhân viên đài khí tượng) ở Hong Kong. 43 người khác về tới Sài Gòn ngày 17/2/1974. Được tiếp đón nồng hậu. (23)

Ngày 14/2/1974 BNG VNCH lại ra Tuyên cáo về việc Trung Cộng “xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” và tái khẳng định chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.

Trong khi Hà Nội hoàn toàn im lặng, ngày 26/1/1974, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN–một giả túc của Hà Nội–mới ra tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa và công bố lập trường “về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của VN.

Nhưng trong hai năm 1974, rồi 1975, Phạm Văn Đồng và Lê Duẩn vẫn đồng ca bản cung văn đời đời nhớ ơn viện trợ “cống hiến vô tư” của Bắc Kinh. (24)

Ngày 18/3/1975, sau khi Hà Nội chiếm Ban Mê Thuột, BK đề nghị nói chuyện. Ngày 12/4/1975, Hà Nội trả lời muốn chính quyền địa phương giải quyết. (25)

Từ tháng 4/1975, Hà Nội mới tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Đưa quân ra chiếm sáu [6] đảo Trường Sa trước kia do VNCH chiếm giữ. Tuy nhiên, Hà Nội không có được “clear title” để thăm dò dầu hỏa ở những vùng này.

Tài liệu Bắc Kinh và Hà Nội đều ghi tháng 9/1975, Đặng Tiểu Bình thừa nhận với Lê Duẩn là có tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa, cần gặp gỡ để giải quyết. Điều này, theo Hà Nội, BK muốn dặt Hà Nội vào chuyện đã rồi [fait acompli].[ 69] Tiểu Bình còn cao giọng khuyên Hà Nội có xá gì vài chục mẫu đất biên giới–lõi cốt của vấn đề quan hệ Hoa-Việt là Hà Nội phải bỏ Mat-scơ-va, xin tùy phụ Bắc Kinh. (26)

Sau năm 1975, Chính phủ CMLT/CHMNVN đã nhiều lần tuyên bố Hoàng Sa là của VN. Ngày 5/6/1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLT/CHMNVN lên tiếng bác bỏ “những thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa - Trường Sa” và khẳng định hai quần đảo này thuộc chủ quyền VN, từ trước đến nay đều do người VN quản lý. (27)

Từ tháng 10/1977, với thái độ trịch thượng, Bắc Kinh gây khó khăn cho việc thương thuyết để tạo tình trạng căng thẳng ở biên giới. Trong chuyến đi Bắc Kinh cuối cùng trong đời, từ 20 tới 25/11/1977, Lê Duẩn chẳng những không ký tuyên cáo chung, mà còn không tổ chức dạ tiệc khoản đãi chủ nhà theo thông lệ ngoại giao. (28)

Việc Mao Trạch Đông chỉ thị đánh quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1/1974, với sự quay mặt làm ngơ của chính phủ Nixon, theo một sử quan CSVN, là một hành động xâm lược công khai và thô bạo nhất trong thế kỷ XX. (29)

Theo Hà Nội, Bắc Kinh tuyên bố là tự vệ, nhưng thực tế là một hành động xâm lược, có tính toán từ trước và được “đồng tình” của Mỹ. (30) Thực ra, chính phủ Nixon chỉ quay mặt làm ngơ.

Vấn đề đặt ra là sự chiếm đóng bằng võ lực Hoàng Sa và Trường Sa của Bắc Kinh có thể bị xếp hạng như xâm lược [aggresion] theo điều [Art.] 3(g), Nghị quyết năm 1974 của LHQ, hay tự biện minh bằng điều khoản “self help” trong Hiến chương LHQ hay chăng?

Xâm lăng hay xâm lược [Aggression] tức một cuộc tấn công bằng vũ lực có thể đưa đến hành động tự vệ cấp cứu gồm có: xâm lấn lãnh thổ, dội bom, phong tỏa hải cảng, tấn công bằng không lực, hải lực hay bộ binh, và việc gửi những . . . nhóm vũ trang, không chính qui hay lính đánh thuê, để thực hiện những hành động trên chống lại một nước khác với cường độ dẫn đến những điều kể trên, hay những cuộc can thiệp trong nội bộ đáng kể.” (31)

[According to the Definition of Aggression, Art. 3(g), an armed attack that triggers the right to use force includes: invasion of territory, bombardment of territory, blockade of ports, attack on air, sea, or land forces, and the sending . . . of armed bands, groups, irregulars or mercenaries, which carries out acts of armed force against another State of such gravity as to amount to the acts listed above, or its substantial involvement therein.” G.A. Res. 3314, U.N. GAOR, 29th Sess., Supp. No. 31, at 142, 143, U.N. Doc. A/9631 (1974)].

Liệu Bắc Kinh có thể viện dẫn hành động tự vệ [self-defense hay self-help] trong trường hợp bị xâm lăng–dựa trên các chương, điều và tiết mục [Articles] 2(3)-(4), 51, và 103 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc [the U.N. Charter] (Art 103 [Supremacy Clause], tức trong trường hợp có đối chọi về nhiệm vụ và bổn phận [conflict of obligations], những điều do Hiến chương LHQ qui định sẽ ưu thắng)? (32)

Article 2(4) of the U.N. Charter prohibits the use of force against the "territorial integrity or political independence of any state, or in any manner inconsistent with the purposes" of the U.N.—i.e., to: (1) maintain international peace and security; (2) develop friendly relations and promote self-determination of peoples; (3) achieve international cooperation in solving economic, social, cultural and humanitarian problems and to respect and observe human rights; and (4) be a center for states to use to attain their common goals.[43] 43. U.N. Charter, Arts. 2 (3)-(4) & 1.

Although Article 51 of the U.N. Charter, which provides an exemption to Article 2(4)—literally, “[n]othing in the present Charter shall impair the inherent right of individual or collective self-defense, may be interpreted to permit the use of force in case of "necessity" or "self-help not involving a response to any armed attack"—its application is controversial.[44]

44. Art. 51 of the U.N. Charter states: “Nothing in the present Charter shall impair the inherent right of individual or collective self-defense if an armed attack occurs against a Member of the United Nations, until the Security Council has taken measures necessary to maintain international peace and security. Measures taken by Members in the exercise of this right of self-defense shall be immediately reported to the Security Council and shall not in any way affect the authority and responsibility of the Security Council under the present Charter to take at any time such action as it deems necessary in order to maintain or restore international peace and security.” U.N. Charter, supra note 45. Also see Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. U.S.), 1986 I.C.J. 14 (June 27) (confirming that under international law States may only use force when responding to an actual armed attack). According to the Definition of Aggression, Art. 3(g), an armed attack that triggers the right to use force includes: invasion of territory, bombardment of territory, blockade of ports, attack on air, sea, or land forces, and the sending . . . of armed bands, groups, irregulars or mercenaries, which carries out acts of armed force against another State of such gravity as to amount to the acts listed above, or its substantial involvement therein.” G.A. Res. 3314, U.N. GAOR, 29th Sess., Supp. No. 31, at 142, 143, U.N. Doc. A/9631 (1974).

Restrictive readers of the U.N. Charter Article 2(3) and 2(4) have often negated the concept of self-help. In the Corfu Channel Case (United Kingdom v. Albania), the International Court of Justice (ICJ) rejected the concept of self-help. ( 1949 I.C.J. 1 (Merits) (held that the United Kingdom violated the sovereignty of the People's Republic of Albania). The adoption of the General Assembly of the Declaration of Principles of International Law Concerning Friendly Relations in 1970 seemingly enforced the broad scope of Art. 2(4) and its prohibition of the use of force.

Meanwhile, various scholars have considered forcible protection in case of emergency as an exemption to Article 2(4). Professor Jordan Paust, for instance, asserts that Article 2(4) “does not prohibit all forms of transnational coercion,” and such humanitarian intervention as the Israeli rescue operation in Entebble, would “not impair the territorial integrity or independence of a state, it merely rescues nationals from a danger which the territorial state cannot or will not prevent.”[46] 46. Cited by Richard B. Lillich in Forcible Protection of Nationals Abroad: The Liberian “Incident” of 1990, 35 GERMAN Y.B. INT’L. L. 205 (1993), reprinted in Lillich and Hurst Hannum, INTERNATONAL HUMAN RIGHTS: PROBLEMS OF LAW, POLICY AND PRACTICE, 669 (1995) [hereinafter, INT’L HUMAN RIGHTS (1995)].

Others have found an inherent right of self-defense in Article 51.[47] 47. For details, see Lillich and Hannum, INT’L HUMAN RIGHTS, 669-675 (1995).

Hà Nội có thể đưa ra lập luận rằng năm 1974, chủ quyền thực sự của Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong tay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng Hà Nội luôn luôn phủ nhận tính chất hợp pháp của chính phủ “Ngụy” trên, và tự nhận chủ quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nên sẽ có trở ngại vì thiếu nhất quán.

Ngoài ra, còn một trở ngại khác là lá thư “lịch sử” mà Phạm Văn Đồng, nhân danh Thủ tướng VNDCCH, gửi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng THNDCHQ, ngày 14/9/1958.

Vì tài liệu văn khố Bắc Kinh chưa giải mật, chưa rõ lý do và điều kiện cắt lãnh hải này của Bộ Chính Trị Đảng LĐVN và chính phủ VNDCCH. Người ta suy đoán rằng sự cắt nhượng này liên quan đến viện trợ và sự thay đổi quan điểm của Bắc Kinh trong kế hoạch đánh chiếm (“giải phóng,” nếu muốn) miền Nam bằng võ lực, vì Nikita Khrushchev và Đảng Cộng Sản Liên Sô thời gian này cũng chỉ muốn sống chung hòa bình với khối tư sản.

Mặc dù sau đó hai chính phủ chưa ký một qui ước chính thức, nhưng lá thư của Phạm Văn Đồng cực kỳ bất lợi cho Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế. Ngoại trừ trường hợp đưa ra những bằng chứng có khả năng chứng minh ngược lại, nó có thể được diễn dịch [presumed] rằng chính phủ VNDCCH–tiền thân của chính phủ CHXHCNVN hiện nay–đã tự nguyện nhường chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho THNDCHQ. (33)

Nó càng bất lợi hơn cho Việt Nam khi Bắc Kinh không ngần ngại sử dụng vũ lực–và đã từng sử dụng vũ lực–để bảo vệ cái gọi là “vùng trời sinh tồn.” Theo đúng luật kẻ mạnh, Bắc Kinh đã sử dụng võ lực chiếm Hoàng Sa vào tháng 1/1974. Năm 1988 Bắc Kinh còn chiếm đóng một số bãi đá ngầm ở Trường Sa, sau khi đánh đắm tàu và giết một số người Việt “xâm phạm hải phận Trung Hoa.” Từ sau 1991 tới nay, những vụ giết hại người Việt của HQ Trung Cộng trên biển Đông liên tục xảy ra.

Ngày 15/3/1979, BNGVN công bố một “Bị vong lục,” tố cáo THNDCHQ “chiếm Hoàng Sa của Việt Nam” (điều 9). Dẫn chứng điều này, một tác giả nhận xét: “Chúng [Trung Cộng] nhai đi nhai lại luận điểm ‘TQ không thèm một tấc đất của VN’.” (34)

Tháng 10/1979, khi ngồi vào bàn hòa đàm, đại diện Bắc Kinh đòi điều kiện tiên quyết Việt Nam phải từ bỏ chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa [cùng đường lối độc lập]. (35)

Trên cả hai phương diện công pháp và thực tế, việc khôi phục những đảo bị mất cùng các quyền lợi khác như đánh cá hay tài nguyên dưới thềm lục địa rất khó khăn.

Cách nào đi nữa, Hà Nội phải sẵn sàng nhờ một hãng luật công pháp quốc tế giỏi để đưa vấn đề tranh chấp lãnh hải ra trước Tòa Án Quốc Tế (tránh cảnh bẽ bàng như bị Tòa án Mỹ bác đơn kiện vì thiếu cơ bản tố tụng như vụ chất độc da cam mà tôi từng cảnh giác).

Những lời nhục mạ như ví Hải quân TC với “những chiếc thuyền cướp biển mới của bọn bành trướng Bắc Kinh ló dạng ở chân trời, [với sự thỏa thuận của Nixon]”chẳng giải quyết gì được vấn đề toàn vẹn lãnh thổ. (36)

Quan trọng hơn cả, Hà Nội không nên ký bất cứ hiệp ước song phương [bilateral accord, protocol hay convention] nào với Bắc Kinh về lãnh hải. Vấn đề chỉ có thể giải quyết được trước một tòa án quốc tế, hay một giải pháp chấp nhận được của Liên Hiệp Quốc, cùng toàn thể khối Đông Nam Á. Dân tộc Việt Nam, với thành tích hơn hai ngàn năm chống trả âm mưu thâm độc xâm chiếm và đồng hóa của Hán tộc, (37) cần sẵn sàng chuẩn bị một cuộc chiến trường kỳ khác, cho tới khi tham vọng bành trướng, xâm lược của Đảng CSTH bị dập tắt bởi chính nhân dân Trung Hoa và cộng đồng yêu chuộng hòa bình thế giới.

Houston, 20-25/11/2009

Mùa Lễ Tạ Ơn

Vũ Ngự Chiêu, Ph.D., J.D.

© Copyright by Chieu N. Vu & Van Hoa Publishing.

All Rights Reserved.

Phụ Chú

1. Sâm Thương, Mai Chửng, Trầm Trọng Tài, Hoàng Sa Anh Dũng, 19/1/1974: Thế Giới Lên Án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa (Sài Gòn: Cục TLC, 1974), tr. 3-5 [51 pages], trong thư viện / văn khố Việt Nam Center (Lubbock, Texas).

2. Bách Khoa Tự Điển Quân Sự Việt Nam [BKTĐQSVN], (Hà Nội: 1996), tr. 361.

3. Không rõ tên cũ hai đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh trong tài liệu Hà Nội là gì.

5. Dẫn theo Phụ bản về Hoàng Sa của Đào Duy Anh, trong Đại Nam Nhất Thống Chí [ĐNNTC], 1997, III: 453-454 [450-454]). Tôi chưa được tham khảo tài liệu nhà Thanh nào về vấn đề này.

6. Đại Nam Thực Lục Chính Biên [ĐNTLCB], I, 4:281.

7. ĐNTLCB, II, 13:52-53. Ngày 23/5/1834 [15/4 MM XV Giáp Ngọ], Minh Mạng ra Sắc chỉ cho đoàn tuần hải đi Hoàng Sa từ tháng 3?; trích in trên Tuổi Trẻ, 14/9/2009).

8. Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu [QTCBTY, 1971:208]. Trong tiểu sử Nguyễn Tri Phương không nhắc chi tiết này; ĐNLT, CB, II, q. 23 (Huế: 1993), 3:428.

9. Lịch Đạo Nguyên et al., Thủy Kinh Chú Sớ [TKCS], ch 36, bản dịch Nguyễn Bá Mão, (Hà Nội: 2004), tr.363-364; ĐVSK, TTNK, III, 1967, I:99-100, 320n22; CM, TB II: 6a, 27, (Sài Gòn, 1967), II: 162-163, 246-249; (Huế: 1998), I:110). Theo Đại Việt Sử Ký Tiền Biên [ĐVSKTB], Nhật Nam do Mã Viện đặt ra; bản dịch Dương Thị The et al. (Hà Nội: 1997), tr. 78. Người bàn luận về Nhật Nam là Tấn Minh Đế, không phải Hán Minh Đế.

10. CM, TB, II:5b-6a; (Sài Gòn 1967), II:160-163; (Huế: 1998), I:110). Đến đời nhà Minh (1368-1644), Ngũ Sùng Diệu [Âu Đại Nhâm?] tác giả Lĩnh Nam di thư, còn nhắc lại sự cố này. [Theo Trương Bửu Lâm, Từ Hải chép rằng tác giả là Ngũ Sùng Diệu, không phải Âu Đại Nhâm; (CM, TB II: 6a, 27, (Sài Gòn, 1967), II:47,chú 1)].

11. Tề thư: Lâm Ấp truyện; TKCS, ch 36, Mão, 2004:363, 373. Thành Khu Túc: không có tên này trong địa lí cũ. Có lẽ là Tây Quyển; Ibid. [TKCS, ch. 36, Mão], 2004:360, 361, [dẫn Lâm Ấp Kí]. 361-362 [chu vi 6 dặm, 170 bộ; đông-tây, 650 bộ; xây bằng gạch, cao 2 trượng, trổ lỗ vuông bên trên. Trên, phủ ván, có gác 5 tầng; trên gác có mái, trên mái có lầu, lầu cao từ 5, 6 trượng tới 7-8 trượng. [Giống thành Lâm Ấp]. Có 13 cửa, các điện đều hướng về phía Nam. Nhà có hơn 2100 gian. Đồ binh khí Lâm Ấp cất giữ tại đây]; CM, TB II: 6a, (Sài Gòn, 1967), II:162-163].

12. CM, TB, II:5b-6a, (Sài Gòn, 1967), II:160-163; TKCS, Mão, 2004:358n1.

13. Les Nouvelles Sinologiques at 28 (Paris, May 5, 1988), 28; Chính Đạo, 55 Ngày & 55 Đêm: Cuộc Sụp Đổ Của Việt Nam Cộng Hòa, in lần thứ 5 (Houston: Văn Hóa, 1998), tr. 20; Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2000), tr. 120 (Pham Van Dong's letter); Zhai, 2000:209-210.

14. CHXHCNVN, BNG, Sự Thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong Ba mươi năm qua (Hà Nội: 1979) 68; [sẽ dẫn Sách Trắng, 1979]; Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill: Univ of North Carolina Press, 2000), tr. 208.

[Not until August 1974 did negotiations take place at the Deputy Foreign Ministers level in Beijing. (Zhai, 2000:208)]

15. Trường Sa (Spratlys) cách Cam Ranh khoảng 460 cây số về hướng Đông Nam, trong khi cách đảo Hải Nam tới 600 hải lý về phía Nam. Trước 1956, Trường Sa thuộc Bà Rịa. Năm 1956, thuộc Phước Tuy. Năm 1982, thuộc Đồng Nai. Từ 28/12/1982, thuộc tỉnh Phú Khánh (nay là Khánh Hòa). Năm 1988, TC đánh chiếm một số. (BKTĐQSVN, 1996:889) Về lập trường của Việt Nam, xem Brice M. Clagett, Competing Claims Of Vietnam and China In The Vanguard Bank And Blue Dragon Areas Of The South China Sea: Part I; Journal Oil and Gas Law & Taxation Review, vol. 13, Nos 10 (10/1995), Part II; Ibid., No.11 (11/1995).

Mới đây, ngày 7/5/2009, Bắc Kinh chính thức nộp cho LHQ một bản đồ lãnh hải, tự nhận chủ quyền 80% biển Đông, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và lãnh hải chia làm 9 điểm đứt quãng, sát với VN, Malaysia, Brunei, và Philippines. Ngày 8/5/2009, Việt Nam gửi công hàm số 86/HC-2009 lên Tổng thư ký LHQ bác bỏ sự tự nhận của Bắc Kinh “không có giá trị vì không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.” Năm 1947, chính phủ Tưởng Giới Thạch từng đưa ra lãnh hải với ranh giới 11 đoạn đứt quãng; Tuổi Trẻ online, 3/9/2009. Xem thêm hồi ký một cựu đảo trưởng Hoàng Sa trên Tuổi Trẻ (Sài Gòn), 8-9/9/2009.

16. Zhai, 2000:209. Đặng Tiểu Bình mới được phục hồi từ Đại Hội X Đảng CSTH vào tháng 8/1973 sau hơn sáu năm bị trừng phạt vì tội hữu khuynh, lưu đầy tới Giang Tây. Ngày 12/12/1973 được vào Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Bí thư BCT và Phó Thủ tướng.

17. Henry A. Kissinger, White House Years (Boston: Little, Brown and Co., 1979), tr. 1114. Trong tuyên cáo chung Thượng Hải, Nixon và K. cũng đã nhìn nhận Đài Loan là một tỉnh của Trung Hoa. Ibid., 1979:1073.

18. “La vérité sur les relations sino-vietnmiennes;” La Chine et le Monde [“Sự thật về quan hệ Trung Hoa-Việt Nam,” trong Trung Hoa và Thế Giới] (Beijing: Beijing Information, 1982), tr. 116 [102-141]. [Sẽ dẫn: “La vérité,” 1982]

19. Zhai, 2000:209.

20. Sâm Thương, Mai Chửng, et al., 1974:9. Theo nhân chứng Lữ Công Bảy, trong bộ đàm trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm trưởng Thà tử thương, hạm phó Trí trọng thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị chết hay bị thương rất nặng; Tuổi Trẻ (Sài Gòn), 9/9/2009.

21. Sâm Thương, Mai Chửng, et al., 1974:10.

22. Zhai, 2000:209; Sách Trắng, 1979:69 [65-71]. [19/1/1974: Dùng hải quân và không quân đánh chiếm Hoàng Sa. Tuyên bố là tự vệ, nhưng thực tế là một hành động xâm lược. Có tính toán từ trước và được “đồng tình” của Mỹ.[ 69] Chính vì thế Đại sứ Martin từ chối lời yêu cầu giúp đỡ của Thiệu, và Hạm đội VII tránh xa Hoàng Sa]. (Sách Trắng, 1979:69 [65-71])

23. Sâm Thương, Mai Chửng, et al., 1974:10. Zhai chỉ ghi 43 tù binh.

24. “La vérité,” 1982:111. Năm 1975, Đặng Tiểu Bình thừa nhận có tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa, cần gặp gỡ để giải quyết. Ibid; Sách Trắng, 1979:69 [65-71]. Điều này, theo Hà Nội, BK muốn dặt Hà Nội vào chuyện đã rồi [fait acompli]. Sách Trắng, 1979:69 [65-71].

25. Zhai, 2000:210.

26. Sách Trắng, 1979:68-69 [65-71]; La vérité, 1982:118-119.

27. Việt Nam, 1945-1986, 1990:638.

28. Zhai, 2000:214; Sách Trắng, 1979:68 [65-71].

29. Nguyễn Ngọc Minh, “Bọn bành trướng và bá quyền nước lớn TQ phạm tội ác xâm lược, tội ác chống hòa bình và an ninh quốc tế;” 1979: 126-127 [124-146]; Zhai, 2000: 209-210.

30. Sách Trắng, 1979:69.

31. G.A. Res. 3314, U.N. GAOR, 29th Sess., Supp. No. 31, at 142, 143, U.N. Doc. A/9631 (1974).

32. Xem Charter of the United Nations, Art. 33, ký ngày 26/6/1945, hiệu lực ngày 24/10/1945, 99 Stat. 1031, T.S. No. 993, 3 Bevans 1153 (1969), và Universal Declaration of Human Rights (10/12/1948), G.A. Res. 217A (III), U.N. Doc. A/810, at 71 (1948) [hereinfater, U.N. Charter and UDHR, respectively]. Xem thêm Restatement (Third) of Foreign Relations Law of the United States, 102 (1987) [hereinafter Restatement, 3d, of Foreign Relations].

33. Richard D. Beller, “Analyzing the Relationship between International Law and International Politics in China’s and Vietnam’s Territorial Dispute Over the Spratly Islands;” 29 TEX. INT’L L. REV. 293, 309 (Spring 1994).

34. Minh, 1979:134-135.

35. Chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc (Hà Nội: 1982), tr. 29-30 [trích đăng “Xã luận” của TCCS, 5/1979]; Sách Trắng (4/10/1979), tr. 93, 97.

36. Tạp Chí Cộng Sản [TCCS] (Hà Nội), 11/1980; trích in trong Nhuận Vũ, Chống Chủ Nghĩa Bành Trướng Bá Quyền Trung Quốc [CCNBTBQTQ] (Hà Nội: 1982), tr.176.

37. Xem Vũ Ngự Chiêu, “Đất đai Việt Nam mất vào tay Trung Hoa;” Hợp Lưu, số 105 (5-6/2009), tr. 5-32; Việt Nam Thời Báo (San Jose), số 5103, Thứ Bảy-Chủ Nhật, 11-12/7/2009, & 5104, Thứ Ba, 14/7/2009.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 287)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 288)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 323)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 334)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 578)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 589)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 329)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 559)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 627)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 450)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7001)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13938)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12810)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13384)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 287)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 288)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 323)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 578)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 327)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 627)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2680)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2845)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 558)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 679)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3477)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3870)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 334)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 448)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 615)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2846)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9631)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26076)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32428)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32746)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7367)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9791)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2440)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2495)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2518)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2862)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5043)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4356)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3980)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5093)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.