- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,761

Mùi người

01 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 23436)

 

tau_hoa-internet-content


Nàng nằm im. Mắt nhắm. Nàng cố tưởng tượng đến một điều gì đó. Nàng muốn kí ức xóa nhòa nhoạt cái khoảnh khắc hiện tại này.

Thuốc mê đã ngấm vào tận xương tủy và làm tê liệt đi mọi giác quan trí não của nàng. Nhưng nàng ngờ ngợ như có một cái gì đó trong người nàng vẫn tỉnh táo. Sự tỉnh táo ấy thật đáng ghê sợ. Nó khiến nàng có cảm giác. Nàng biết sự sắc lạnh của con dao trắng bóng ấy đang chạm vào cơ thể nào. Từng chút một. Từng chút một. Sâu dần. Tê tái. Có một bàn tay nào đó chạm vào cái khoảng trống vừa bị rách lộ ra trên cơ thể nàng. Bàn tay ấy có thể xác định đúng chỗ cần phải chạm vào để có thể lôi cái vật thừa thãi trong người nàng ra. Thời gian chỉ như một cái chớp mắt. Vậy mà nàng lại như nhìn thấy rõ hình hài của cái sinh vật ấy. Nó đỏ hỏn. Nó không có hình hài. Nó bầy nhầy như một túi rác dính máu. Nó có mùi tanh của thức ăn cũ trộn với máu, và những chất gì đó. Nàng cũng không thể biết được. Người ta cũng chẳng cho nàng nhiều thời gian để nhìn ngắm, hít hà cái mùi ấy. Chỉ trong thoáng chốc. Cơ thể nàng lại chỉ có riêng một mình nàng trú ngụ. cái sinh vật thừa thãi ấy đã bị đuổi đi.

Nàng tỉnh dậy. Nàng cảm giác cái mùi đáng sợ ấy ngộp ngộp, đặc quánh quanh cái không gian này. Nàng bỏ chạy. Nàng chạy rất nhanh. Cơ thể nàng đau nhói nhưng nàng không thể ngừng chạy. Cái mùi ấy quấn chặt lấy cơ thể nàng. Tràn đầy trong mũi nàng. Nàng không còn cảm thấy được một thứ mùi nào khác.

Nàng mua vé tàu, và tự nhủ: “Phải đi khỏi đây. Mình phải đi khỏi cái nơi chết tiệc này ngay lập tức”.

10 giờ 5 phút. Nàng bước lên tàu. Ghế số 12 toa 3. Cạnh cửa sổ. Nàng nhắm nghiền mắt lại. Im lặng. Hít thở. Đám người xung quanh nàng vẫn còn nhộn nhạo với cả tá hàng hóa mang theo. Nàng bắt đầu ngửi được thấy những thứ mùi xung quanh mình. Chuyến tàu trưa ngập ngụa mùi người, mùi mồ hôi, mùi quần áo, mùi giầy, mùi tất, mùi coca, mùi bia, mùi bánh ngọt, mùi… và mùi, và… mùi. Tất cả những thứ mùi có thể gọi thành tên, chúng trộn lẫn lộn quện dính vào với nhau đê tạo thành thứ mùi vị đầy đủ nhất. Những người xung quanh nàng gọi chúng là mùi cuộc sống. Nhưng họ sợ cái mùi cuộc sống ấy. Mỗi người đều thủ sắc cho mình một chiếc khẩu trang, hay khăn rộng để bịt kín cái mũi của mình lại. Vậy là mùi hết đường để đi vào giác quan của họ. Họ chẳng cảm thấy gì những mùi xung quanh nữa. Nàng thì khác họ. Nàng cố căng hai cảnh mũi của mình lên để hít hà những cái thứ mùi bừa bộn, bẩn thỉu xung quanh mình. Sự đậm đặc của chúng sẽ giết chết cái mùi của sinh linh mà nàng vừa ngửi thấy. Nàng hít hà. Nàng ra sức hít. Nhưng sự cố gắng của nàng chỉ là sự tự đánh lừa một cách hoàn toàn tuyệt vọng. Sự thật là nó vẫn đang tồn tại. Ngay cạnh nàng. Cái mùi âm ỷ ấy khiến nàng nhớ lại sinh linh mà mình vừa vất bỏ. Cái sinh linh mà nàng tưởng rằng đó là kết tinh của hạnh phúc. Nhưng cái kẻ cùng với nàng tạo ra nó đã đẩy nàng vào một sự thật trần trụi. Nàng chỉ là một ả cave mạt kiếp. Nàng không có quyền làm người. Nàng không có quyền làm mẹ. Nàng chỉ là công cụ cho hắn và những kẻ như hắn. Hắn đã dụi đầu nàng vào cái phòng tối với một ả bác sĩ cô độc. Chỉ trong chớp mắt. nàng đã chẳng thể làm mẹ.

Nàng đã ghê tởm cái mùi trong phòng tối ấy. Nhưng đó là chút ký ức duy nhất để nàng có cảm giác về sinh linh bé nhỏ đã tồn tại trong người nàng hơn tháng trời. Nàng đã không nhỏ lấy một giọt nước mắt cho nó. Nàng sợ. Nàng chưa bao giờ dám có cảm giác với bất cứ điều gì. Nàng đã học được điều đó trong những năm làm việc của mình. Câm lặng. Nàng chỉ có công việc. Đó là công việc của nàng. Những kẻ đã đến với nàng cũng chỉ như khách mua hàng. Cái sinh linh được tạo ra kia chỉ là sản phẩm ngoài ý muốn. Nàng và kẻ ấy đều không hề muốn. Nó là vật dư thừa của một cuộc hoan lạc giả dối. Nó không cần cho cuộc đời nàng. Vất bỏ một vật dư thừa là đương nhiên. Nàng đã cố gieo vào mình những ý nghĩ ấy. Nhưng nàng không thể cưỡng thoát được cái ám ảnh mùi còn lại. nàng chìm vào trong đó như chạy trốn, như ngờ nghệch, như xa lạ, như quen thuộc. Cái mùi của người chết. Một đứa trẻ chưa kịp thành hình đã bị giết chết.

Tàu chạy lê thê ngày sang đêm. Gió ào ạt qua những khung cửa sổ còn ngỏ. Mùi không khí lan dần dật khắp các toa tàu. Mùi không khí sống sượng khiến nàng ngạt thở. Nàng tiếp tục nhắm mắt. Mùi của con nàng đang vây đặc, quấn chặt thành những vòng dây xung quanh cơ thể gầy yếu của nàng. Nàng không thở được. Nàng cố giãy giụa. Nàng cố xua đuổi. Nàng cố hít hà chút không khí sống. Nhưng đã muộn quá. Mùi hôi hám của sinh linh đã chết ấy thiết chặt lấy người nàng. Nàng quỵ xuống. Nước mắt bắt đầu giàn giụa. Nàng lặng lẽ khóc. Nàng lặng lẽ thở. Nàng thở mạnh dần, mạnh dần, nhưng chân tay nàng bắt đầu run rẩy. Mắt nàng nhìn trong ảo ảnh hoang mang. Có một đôi mắt trân trân nhìn nàng. Chối bỏ. Ra đi.

Nàng ngã quỵ xuống nền tàu. Chới với. Nàng đã nhìn thấy con nàng. Nó thực sự là hình dáng của một con người. Nó có nụ cười của con người. Như nàng của một thời quá xa xôi. Lâu lắm rồi nàng không còn cảm giác con người nữa. Nàng ngửi thấy mùi người trên cơ thể sinh linh ấy. Mùi người chết. Nàng nhìn thấy nó đến gần và nắm chặt tay nàng dắt đi. Ánh mắt nàng nhòa nhòa hoai hoải những hư vô…

Phong Linh
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1071)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5818)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5800)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13158)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30005)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81108)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20218)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 328)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”