- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THẮNG hay BẠI ? ngày 30 tháng 4 năm 1975

12 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 53675)


pham_trong_luat-thang_hay_bai-content



Nếu chúng ta cũng ngậm miệng, thì ai sẽ nói thay?

Arthur Schopenhauer

 

«Chiến tranh là sự tiếp nối chính trị bằng những phương tiện khác». Câu văn trứ danh này của Clausewitz, có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Nó xác lập sự phụ thuộc của quân sự vào chính trị. Từ khi có những tập hợp người gọi là thành quốc hay quốc gia, người ta không làm chiến tranh đơn thuần nhằm chém giết lẫn nhau, mà để giành lấy quyền định đoạt số phận của một cộng đồng. Và kẻ tham chiến có thể thua hàng trăm trận đánh, miễn là thắng trận cuối cùng, nếu sau đó nó mang lại quyền quyết định về việc tổ chức chính quyền trên một lãnh thổ. Nói cách khác, nếu tột đỉnh của quân sự là chính trị, thì bên tham chiến nào đạt được mục tiêu chính trị - đối tượng của cuộc tranh chiến -, bên ấy chính là kẻ chiến thắng.

Lịch sử đầy những địa danh mang tên loại chiến thắng quân sự ấy. Nhưng lịch sử cũng không thiếu những thí dụ đầu voi đuôi chuột, khi sự chiếm hữu chính quyền chỉ đẻ ra nổi một trật tự công cộng đặt trên những giá trị hoàn toàn trái ngược với lý tưởng được viện dẫn để biện minh cho chiến tranh. Nghĩa là khi chiến thắng quân sự không được tiếp nối bằng thứ thành tựu chính trị phù hợp với lời hứa hẹn, mà đôi khi bằng một thất bại sâu đậm hơn bội phần. Ở đây, để không ai sớm chạnh lòng, ta có thể nhìn vào cổ sử phương Tây xa xôi để tìm hiểu trường hợp có lẽ là nghịch lý nhất của nhân loại.

Thừa hưởng một quá khứ tương tranh triền miên, các thành quốc cổ Hy Lạp thường chỉ tập hợp nổi khá muộn màng trong một thứ liên minh phòng ngự, trước tham vọng thôn tính của ngoại bang. Liên minh cuối cùng gọi là «Liên Minh Achée» [Ligue Achéenne], hình thành vào năm 181 trước Tây lịch, đặt thủ đô tại Corinthe, nhằm chống lại đế quốc La Mã. Ba mươi lăm năm sau, Viện Nguyên Lão [Sénat] Roma gửi một đoàn quân và một đội chiến thuyền dưới sự thống lĩnh của Mummius và Metellus đổ vào Bucopétra thuộc thành quốc Corinthe. Quân liên minh ra cự địch bị tiêu diệt trong trận Leucopetra (năm 146 trước Tây lịch): Mummius ra lệnh san bằng Corinthe, chỉ chừa lại thành trên (acropole) và một số đền thờ. Vô số kho tàng văn hoá bị thiêu hủy hay chở về Roma. Hy Lạp từ đây trở thành tỉnh Achaiie của La Mã, cho đến khi đế quốc này cũng suy tàn rồi tiêu vong (khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch).

Ở đây, đâu là phán quyết của lịch sử? Leucopetra không phải chỉ là một trận thắng mà là một chiến thắng, bởi vì sau đó quyền quyết định số phận người dân Hy Lạp không còn nằm ở Corinthe hay một mảnh đất Hy Lạp nào khác, mà trong tay Viện Nguyên Lão Roma. Nó cho phép ta kết luận với Clausewitz: có chiến thắng quân sự khi sự kết thúc chiến tranh dẫn đến một thay đổi chính trị, cụ thể về quyền quyết định tổ chức quốc gia hay thành quốc. Nhưng đây chỉ mới là nửa đầu của câu chuyện thắng bại giữa Hy Lạp và La Mã – cái nửa sự thực của cường lực vật chất.

Đây là nửa sau – cái nửa của sức mạnh tinh thần. Mummius ở lại làm Thái Thú (Proconsul) trên vùng đất ông đã chinh phục. Nhưng người La Mã, dù ở thuộc địa hay chính quốc, dần dần bị thu hút bởi văn minh Hy Lạp. Đến «thế kỷ của Auguste» (Caius Julius Caesar Octavianus Augustus, trị vì từ năm thứ 27 trước, đến năm thứ 14 sau Tây lịch) bao sản phẩm văn hoá và nếp sống Hy Lạp đã hiển hiện nhan nhãn trong đời sống hàng ngày của đế quốc La Mã, đến nỗi thi hào đương thời Horace (Quintus Horatius Flaccus, sinh năm thứ 65, mất năm thứ 8 trước Tây lịch), mà ngay bản thân cũng là đệ tử của nhà hiền triết Hy Lạp Epicure (Epikouros), khi suy ngẫm về quan hệ giữa đôi bên, đã để lại lời than bất hủ: rốt cuộc, «Hy Lạp bại trận đã chiến thắng kẻ thắng trận hung tợn!» (Pháp ngữ: «La Grèce vaincue vainquit son farouche vainqueur!»). Hiện thực này cho phép ta thắc mắc: thế nào là một chiến thắng chính trị? Phải chăng, ở đây, thắng lợi quân sự chỉ chuyển hoá thành chiến thắng đích thực khi sự thay đổi quyền quyết định tổ chức quốc gia hay thành quốc là tiền đề cho việc phổ biến những giá trị văn hoá của kẻ thắng trận?

Tất nhiên, Hy Lạp là một ngoại lệ hãn hữu. Không phải kẻ thất trận nào cũng cao hơn bên chiến thắng về mặt văn hoá. Nhưng cũng hiển nhiên, không phải giá trị văn hoá nào của kẻ thắng trận cũng đáng được phổ biến. Làm sao có thể La Mã hoá Hy Lạp, khi trong lãnh vực thể dục và tiêu khiển chẳng hạn, phe thắng chỉ đẻ ra nổi trò giác đấu mọi rợ, so với những cuộc thi điền kinh của bên thua? Colisée hoành tráng xưa, nay chỉ còn đứng đấy như một tàn dư hầu nhắc nhở du khách về cái thú tính luôn luôn còn tiềm năng bật dậy từ thâm sâu con người, trong khi ngọn đuốc thiêng từ Olympie, cứ bốn năm một lần lại chạy vòng quanh trái đất để vinh danh một lý tưởng cao quý của cả nhân loại… Tất nhiên, quan hệ Hy - La chỉ là một trường hợp giới hạn - một thứ mẫu lý tưởng -, nhưng đấy lại chính là thứ điển mẫu để từ đó đánh giá lại mọi tiếng gáy chiến thắng.

Nói cách khác, chiến thắng hay chiến bại, nói cho cùng, là một vấn đề chính trị - văn hoá. Và bởi vì không ai hy sinh xương máu giành chánh quyền để chẳng làm gì cả, hãy chỉ cho chúng tôi xem cái nền tảng giá trị mới trên đó anh muốn xây dựng trật tự quốc gia của anh, cùng những thành tựu đã thu hoạch được, chúng tôi sẽ nói, rốt cuộc, anh là người chiến thắng hay kẻ chiến bại.

 

Thử nhìn lại ngày 30 tháng 4 năm 1975 của lịch sử Việt Nam. Đây là một chiến thắng quân sự không thể chối cãi, bởi vì nó mở ra một trật tự chính trị mới. Kẻ thắng trận từ đây có thể vất bỏ mặt nạ. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Đảng Lao Động hiện nguyên hình là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa và Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là từ đây, hệ thống giá trị được sử dụng làm đích nhắm để kiến thiết quốc gia không thể là gì khác hơn ngoài cái lý tưởng «phân phối theo nhu cầu, và đòi hỏi theo khả năng» trong tương lai cộng sản xa xôi, và cái phương châm «mình vì mọi người, mọi người vì mình» biểu thị «nếp sống văn minh» của thời quá độ được giả định mỗi ngày đang thành hình cụ thể trong hiện thực. Cái lý tưởng và nếp sống ấy tất nhiên không chỉ liên hệ đến người Cộng Sản, mà tất yếu phải quy định tương lai của cả nước, bởi vì đối với đảng cầm quyền, chỉ có loại thể chế này mới có khả năng mang lại và bảo đảm «độc lập, tự do, hạnh phúc» cho đất nước và nhân dân.

Ngày nay, chúng ta đang ở đâu trên bảng giá trị trên của hai cuộc cách mạng, «cách mạng xã hội chủ nghĩa»«cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân»? Trả lời không nhân nhượng câu hỏi đó là dám nhìn thẳng vào cái ngày mai không mấy sáng sủa đang chờ đợi Việt Nam.

Tôi không viết bài này để so sánh Việt Nam với Hy Lạp: «bốn nghìn năm văn hiến» của ta chỉ là một hòn đất tí hon so với chiếc nôi văn hoá vĩ đại kia của nhân loại. Tôi cũng không viết bài này để hàm chỉ rằng Việt Nam Cộng Hoà cao hơn Dân Chủ Cộng Hoà về mặt văn hoá; tất nhiên, tôi không quên chuyện đốt sách ở Saigon và những phát biểu trịch thượng về văn hoá miền Nam trước 1975 - chỉ xin nhường lại sự phán xét cho mai sau. Cuối cùng, tôi cũng không viết bài này để kể tội Đảng Cộng Sản Việt Nam: tôi tự biết không đủ thẩm quyền bằng những người đã hy sinh tuổi trẻ và xương máu cho nó. Tôi chỉ cố gắng viết bài này, với tất cả sự thành khẩn khả hữu, để nói với mọi người, trong cũng như ngoài nước, trong cũng như ngoài Đảng, đôi ba điều tôi tin là thật:

1) Thất bại của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong tư thế đảng cầm quyền, dù muốn hay không, đương nhiên sẽ là thất bại chung của cả nước; 2) Chúng ta đang trên đường mất nước (như vẫn thường được cảm nhận ở miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trước đây), không chỉ theo nghĩa là mất đi một nhà nước (phong kiến, độc tài hay toàn trị), mà là mất hẳn quê hương tổ quốc, lịch sử văn hoá, sông núi đất đai,… bởi vì chúng ta đã hội đủ mọi điều kiện để trở thành một tỉnh của Trung Hoa: lãnh đạo đồng loã, trí thức nhu nhược, dân trí thấp kém. 3) Chỉ một sự thức tỉnh và vùng dậy của cả nước, trong tinh thần hoà giải và cộng tác trong ngoài, trong truyền thống kháng chiến toàn diện, mới có hy vọng giúp ta thoát hiểm.

Đừng bao giờ quên: Mông Cổ, kẻ từng mang quân sang chinh phục Âu châu, nay chỉ còn là một tỉnh của Trung Hoa. Đừng bao giờ quên: Tây Tạng đã bị Trung Cộng thôn tính trong sự bó tay bất động của quốc tế. Đừng bao giờ quên: nếu lại rơi vào cảnh Bắc thuộc lần nữa, với sự chênh lệch một trời một vực về mọi mặt (quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá) như hiện nay, chúng ta khó lòng tránh nổi cái họa bị kẻ thù truyền kiếp Hán hoá vĩnh viễn.

 

Nhìn lại, tiếng gáy «đại thắng lợi» của ngày 30 tháng 4 năm 1975 thực chất chỉ là «một canh gà báo trượt rạng đông». Có những mặt nạ người ta tự ý vất đi; có những huyền thoại dù không chủ ý vẫn bị lột trần. Không ít trí thức từng tham gia chống Mỹ - đánh Ngụy, để «cứu nước, giành độc lập» nay bỗng khám phá ra rằng không thể nào có cách mạng, vì thực ra chưa bao giờ có những con người cách mạng mà họ tưởng tượng, dù ở cấp bậc nào!

Trên đỉnh, vất vưởng một dúm lãnh đạo lăm le «giải phóng» tất cả, song lại quên tự giải phóng cái đầu, mắc bệnh syđa (sao y đàn anh) trầm trọng. Khoảng giữa, lẫm liệt một đoàn cán bộ «hồng», một lớp tham quan, nấp dưới lớp sơn «cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư» của Bác Hồ để ăn hối lộ, buôn lậu, làm ăn «phi xã hội chủ nghĩa». Bên dưới, chen chúc hàng trăm ngàn đảng viên nghèo đói, thèm thuồng trước cảnh «phồn vinh giả tạo», từ đây nhất quyết đánh đổi cuộc đời vô sản lấy chút của cải phù du bằng mọi thủ đoạn «mánh mung», «móc nối». «Nếp sống văn minh» của thời quá độ, rốt cuộc, dẫn đến một xã hội lưu manh hoá: người ta thi nhau ăn cắp của công, lường gạt cướp giật lẫn nhau, phá hoại từng mảng tài nguyên đất nước, bán tống bán tháo hàng loạt gia sản cha ông để lại. Trên sỏi đá xã hội chủ nghĩa không tưởng «mình vì mọi người, mọi người vì mình», chẳng có gì nghịch lý khi chỉ mọc lên nổi thứ cây trái phong kiến vô cùng hiện thực «phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc».

Nếu đấy là những biểu hiện văn hoá (nền tảng giá trị và thành tựu thu hoạch) của chủ nghĩa xã hội, thì ai thắng ai ở đây? Cái Cũ hay cái Mới? Phong Kiến hay Cộng Sản? Tư Sản hay Vô Sản?

Mặt khác, hàng loạt chính sách giáo điều quái đản (nào cải tạo, nào đổi tiền, nào lý lịch), cùng với sự bao che băng đảng dưới chiêu bài «hợp tình, hợp lý» của Bác, đào sâu thêm hố thẳm Quốc - Cộng vốn đã hun hút. Khi thiên đường của phe «đại thắng lợi» đồng nghĩa với địa ngục cho bên «đợi thắng lại», tất yếu phải xuất hiện thảm cảnh thuyền nhân, và nỗi lo đảo lộn «phản cách mạng» khi cả khối Liên Xô sụp đổ. Bên ngoài, giương cao ngọn cờ quốc tế tơi tả, lãnh đạo dẫn toàn Đảng sang Thiên Triều Trung Quốc xin chiếc dù bảo hộ: «Đánh Tây đánh Mỹ bạc đầu, Ngày nay chống gậy qua Tàu ăn xin!». Bên trong, giương cao lá bài độc lập, lãnh đạo bắt cả nước trốn đằng sau một xác chết: Lăng Bác với tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ đội hai cái mũ: nhà Kominterchik và nhà yêu nước. Nhà Kominterchik chưa bao giờ phát biểu chi đáng giá về chủ nghĩa, về lý thuyết Mác Lênin. Nhưng nhà ái quốc, dù với lập trường vô sản, đôi khi cũng để lại vài câu nghe được về chủ quyền dân tộc: «Thà ngửi phân Tây thêm vài năm nữa, còn hơn ngửi cứt Tàu suốt đời» (tôi trích dẫn theo trí nhớ lời Bác dạy một lãnh tụ mắc bệnh nóng vội). Bác ơi, đám cháu ngoan của Bác, ngày nay dường như đang phản cả Bác để duy trì quyền lực. Ai đi ngang Lăng Bắc, dán giùm dân, đâu đấy cạnh bên, mấy câu thơ nhại từ Ông Phỗng Đá của nhà nho phong kiến Nguyễn Khuyến: «Ông ở làm chi trõng hỡi ông / Bơ vơ cá chậu với chim lồng / Đêm ngày coi sóc cho ai đó / Non nước đầy vơi có biết không?». Bác ơi, nhất nhật tại Lăng, nghìn thu trách nhiệm. Vượt biên đi Bác! Vượt cả tường đá lẫn tường lửa, ra mà xem thế sự xoay vần.

Vơi đi sông núi đất đai, đầy hơn tủi nhục: bảo hộ nào cũng có cái giá phải trả. Hãy đọc bằng ngôn ngữ sự kiện. Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc nhờ một lá thư dại dột của Phạm Văn Đồng (chuyện này hẳn Bác Hồ phải biết!). Trường Sa cũng có thể mất toàn bộ vào tay đế quốc đỏ cuối cùng này bất kỳ lúc nào, chẳng cần thêm một văn kiện ngây ngô thứ hai. Ấy thế mà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục ký tiếp hai hiệp ước bất bình đẳng với Trung Cộng, về biên giới, về lãnh hải. Rồi bưng bít, không xong thì dối dân, hoặc phản đối suông trước mỗi «diễn biến hoà bình», với đầy đủ chiến thuyền súng ống, của chủ nghĩa bành trướng! Không dám đưa vấn đề các quần đảo ra trước toà án quốc tế liên hệ - dù với khả năng thắng kiện đáng kể, không dám công bố nội dung hai hiệp định - dù nhân dân đòi hỏi, là đồng loã hiến dâng lãnh thổ cho ngoại bang, tiếp tục đánh lừa nhân dân một cách hoàn toàn ý thức. Qua hành trạng này, nhóm lãnh đạo bảo thủ Đảng đã tự xác nhận, không thể nào rõ ràng hơn, như tập đoàn tay sai, như lớp công chức thuộc địa của đế quốc Trung Cộng.

Bây giờ, thử đọc bằng ngôn ngữ biểu tượng. Khi Vi Quốc Thanh tuyên bố hắn mới chính là kẻ thắng trận Điện Biên Phủ, cả tập đoàn lãnh đạo bảo thủ Đảng im lặng. Phải chăng, cùng với tên tướng Tàu này, họ đã nhổ vào hương linh bao thanh niên Việt Nam đã hy sinh xương máu cho cuộc chiến tranh kháng Pháp và gia đình? Khi Giang Trạch Dân nghênh ngang sang Hội An tắm biển không cần hộ vệ, hắn muốn tuyên bố gì với thế giới, nếu không phải rằng cái gọi là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kia, kể từ nay, đã trở lại quy chế An Nam Đô Hộ Phủ của Thiên Triều trên thực tế? Giả vờ không hiểu (hoặc có khi không hiểu thực!) ý nghĩa của trò ám chỉ đểu cáng, xấc láo trên, phải chăng tập đoàn lãnh đạo bảo thủ Đảng đã khạc vào mặt tổ tiên, chối bỏ lịch sử bất khuất của dân tộc mình? Khi chiến thuyền Trung Cộng giết hại và bắt giam ngư phủ Việt Nam, nếu đại diện của nước phạm pháp không bị Bộ Ngoại Giao gọi lên mắng mỏ như trong cách hành xử thông thường của bất kỳ một quốc gia có chủ quyền và tự trọng nào, thì tập đoàn lãnh đạo bảo thủ Đảng ta đã muối mặt xác nhận với thế giới rằng tên Tề Kiến Quốc kia, thực ra không phải là ông Đại Sứ, mà chính là quan Thái Thú mới của Thiên Triều trên thủ đô «nghìn năm đô hộ» của mình.

Bảo hộ nào cũng có cái tiến trình của nó. Xưa, bao che Bảo Đại, Pháp tìm mọi cách tô son, trét phấn cho ông vua phường tuồng - một cách vuốt ve tự ái dân tộc để dân dễ chấp nhận. Nay, Trung Cộng vừa che chở, lại vừa công khai hạ nhục tập đoàn tay sai lãnh đạo Đảng Cộng Sản anh em. Nghịch lý ngoài mặt này chỉ tố cáo ý đồ nham hiểm bên trong. Càng gục đầu, cúi mặt, càng bị nhân dân khinh oán; càng bị khinh oán, nhóm lãnh đạo bảo thủ Đảng ta càng phải khuất phục nhục nhã Thiên Triều. Hố phân cách giữa lãnh đạo và nhân dân Việt Nam ngày cành khuếch rộng, đào sâu; nhưng dù theo kịch bản nào cũng đều có lợi cho Trung Cộng. Hoặc tập đoàn bảo thủ Đảng tiếp tục thống trị: đủ tham để tự tay triệt hạ khả năng kỹ nghệ hoá và phát triển đất nước qua việc buôn lậu hàng hoá «made in China», đủ mạnh và khôn vặt để trấn áp phong trào dân chủ, duy trì ngăn cách trong ngoài, lũng đoạn tôn giáo, v. v… - đương nhiên Trung Quốc sẽ tiếp tục gặm nhấm lãnh thổ và lãnh hải, làm thực dân mới. Hoặc đến một lúc nào đó, bất mãn sẽ nổ bùng thành bạo loạn - dựa trên một thỏa ước chính thức và hợp pháp chắc chắn đã được ký kết ngầm giữa hai bên, lúc ấy Trung Cộng sẽ gửi quân sang cứu nguy Đảng anh em, rồi viện cớ ngăn ngừa một đệ tam nhân tưởng tượng thừa nước đục thả câu để vĩnh viễn ở lại, làm thực dân cũ như ở Tây Tạng. Đấy là cái tương lai tăm tối đang chờ đợi Việt Nam. Không phải phim chính trị giả tưởng đâu, hiện thực Hung, Tiệp, Tây Tạng tái diễn đấy!

Độc lập là giá trị văn hoá tối cao của bất kỳ một dân tộc nào. Bởi vì mọi kiến trúc thượng tầng đều phải được xây dựng trên cái nền tảng ấy. Do đó, trong suốt thế kỷ qua, chủ quyền dân tộc đã là đối tượng đấu tranh của cả nước - kể cả Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù bằng một con đường lắt léo, nguy hiểm. Nếu bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu xương máu đã mất đi chỉ để đánh đổi lấy một sự lệ thuộc nhục nhã - tiệm tiếm nhưng chắc chắn - vào Trung Quốc như hiện nay, thì ngày 30 tháng 4 năm 1975, bước đầu của cái tiến trình mất độc lập ấy, là chiến thắng hay chiến bại cho cả nước?

 

Trước khi mất, ông Hồ hứa hẹn sẽ xây dựng lại quê hương tổ quốc đẹp hơn gấp mười. Một nhà thơ còn minh hoạ cái ngày mai tuyệt vời ấy, rồi xuýt xoa kết luận «Đất nước bao giờ đẹp thế này chăng?». Ngày nay, nếu chưa hoàn toàn đui mù, có lẽ chúng ta nên tự hỏi: «Đất nước bao giờ nhục thế này chăng?» hoặc «Đất nước bao giờ nguy thế này chăng?». Tôi tin rằng, chỉ với ý thức nhục nhã, ý thức hiểm nguy, song song với ý muốn giải ảo toàn diện khỏi mọi ảnh hưởng tai hại của một thứ chủ nghĩa cứu thế không tưởng, đất nước ta mới có khả năng hồi sinh hầu đương đầu với tình hình bi đát hiện tại. Chính vì bị chủ nghĩa tha hoá mà ta đã nhìn kẻ thù truyền kiếp thành đồng minh quốc tế. Chính vì bị giáo điều tha hoá mà ta đã giết hại anh em ruột thịt như kẻ thù không đợi trời chung. Cái chủ nghĩa trên, dù nay đã bị cả thế giới phế thải, bất hạnh thay, vẫn còn không ít tàn dư trên mảnh đất cha ông để lại. Bởi vì chẳng nhân danh gì khác ngoài cái chiêu bài «bảo vệ thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» mà hai tập đoàn lãnh đạo của Trung Hoa và Việt Nam đã nối lại quan hệ bất bình đẳng xưa cũ - một bên để bành trướng bá quyền, một bên để duy trì quyền lực băng đảng.

Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» nói trên, tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào. Rốt cuộc, gần như cả thế kỷ 20 đã bị phung phí, với bao nhiêu xương máu và tài nguyên, chỉ để đỡ đạn cho Trung Cộng trở thành cường quốc hầu quay lại nuốt chửng Việt Nam! «Đại thắng lợi vinh quang», hay khúc ruột thừa mưng mủ?

 

PHẠM TRỌNG LUẬT

tháng 3-2005

(Nguồn HỢP LƯU 82)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2520)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3156)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3560)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3795)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4473)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3948)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4960)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3190)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 3101)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8903)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15829)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14851)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15206)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3156)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4473)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5788)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3190)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4666)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4189)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4948)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3559)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3795)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3948)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4960)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2520)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3101)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3186)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3695)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11763)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28162)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34550)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34625)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9283)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11544)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5788)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5260)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5304)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4606)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6567)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5796)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7663)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.