- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bên này bờ Thái Bình Dương…

23 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 65976)
Tôi khăn gói quả mướp về Nam Cali đã gần một năm nay, nhưng chưa dứt được cái rễ với Oregon, cái tiểu bang nghèo nàn song nổi tiếng về các chương trình bảo vệ môi trường nằm lọt thỏm giữa hai tiểu bang với nền kinh tế cũng như dân số khá đồ sộ, đó là Washington ở phía bắc giáp ranh với Canada và California trấn phía nam sát biên giới Mexico, cùng nằm dọc theo bờ biển miền Tây nước Mỹ.

Trong khoảng thời gian chưa tới một năm ở Cali, nơi thực ra thì tôi đã định cư từ hồi qua Mỹ cho tới đầu thế kỷ 21, tôi cũng đã chạy lên chạy xuống cái West Coast này tới ba lần, mỗi lần lái xe một mình cả 15 tiếng, bạn bè nghe ai cũng lè lưỡi lắc đầu, nhưng ít ai hiểu được niềm vui đường trường của tôi. Tại sao tôi vẫn chưa chịu ở yên một chỗ, vài người hỏi. Mắc chứng gì mà tại sao tôi cứ phải chạy lên chạy xuống dọc theo bờ biển miền tây Hoa Kỳ dài trên 1,200 miles này mà không biết mỏi, biết chán. Tại sao tôi chưa dứt được với tiểu bang nhiều mưa Oregon, có bạn thắc mắc, có cái gì ở đây lôi cuốn tôi khiến tôi chưa dứt được. Một năm nữa tôi sẽ bước sang tuổi 70 – đúng ra theo tuổi ta, tính cả chín tháng trong bụng mẹ coi như một tuổi, thì tôi đã “thất thập cổ lai hi” rồi -- tại sao tôi chưa chịu dừng chân.

Bờ biển miền Tây Hoa Kỳ

Hồi xẩy ra trận khủng hoảng địa ốc với giá nhà tuột dốc thê thảm khiến nhiều người rơi vào cảnh tán gia bại sản và cũng không thiếu người trở thành dân vô gia cư sống lây lất đó đây, một chị bạn bên Florida rủ tôi sang đó mua một căn trong chung cư mà giá từ trên 200 ngàn đô xuống chỉ còn mấy chục ngàn. Tôi lắc đầu: đơn giản vì tôi không hình dung được mình đứng bên bờ biển Đại Tây Dương ngóng sang… Âu châu.

Thật vậy, một cách tình cảm thì tôi thích được đứng bên này bờ Thái Bình Dương để còn được… ngóng về quê mẹ, để nghe “ruột đau chín chiều”, không cho mình mà cho dân tộc vẫn, sau gần 40 năm thống nhất hoà bình độc lập nhưng không có tự do, mà vẫn còn điêu đứng, lầm than trăm chiều. Bên cạnh một môi trường tan nát vì phát triển kinh tế vô tổ chức và vô cùng hỗn độn, một nền giáo dục ngu dân, là cái họa mất nước trước sự xâm lấn dần dần từ biển đảo tới núi rừng Việt Nam của Trung Quốc, mà biểu tình để bầy tỏ niềm ưu tư và lòng yêu nước thì bị chính quyền cộng sản đàn áp, bắt bớ, vùi dập, hết sức vô lý và nghịch tình.

Khi chồng tôi về hưu, gia đình tôi lúc ấy đang sống ở vùng chân đồi Quận Vàng (El Dorado) ở Bắc California, giữa rừng cây sồi và thông ngó xuống thung lũng Coloma, nơi vào giữa thế kỷ 19 diễn ra vụ Gold Rush khi James Marshall tìm thấy một cục vàng lóng lánh sáng ngời trong đất khi đang đào móng để xây một xưởng cưa cây bên bờ sông American River. Sau 20 năm sống trong rừng, chồng tôi nói muốn về hưu ở nơi nào gần biển. Anh sinh ra và lớn lên ở Copenhagen, Denmark, nên biển là một phần lớn của đời sống của anh. Chúng tôi mấy lần đi dọc theo bờ biển ở California nhưng không tìm thấy nơi nào vừa túi tiền. Hồi ấy cô con gái út đang theo học Đại học Tiểu bang Humboldt ở tỉnh Arcata, gần biên giới Oregon, nên chúng tôi thường đi thăm cháu luôn thể tìm hiểu về vùng cực bắc của Cali, vùng vốn được mệnh danh là quê hương của loài cây gỗ đỏ - the redwood country.

Tôi yêu bờ biển miền Tây Hoa Kỳ, ngoài lý do để có dịp đứng bên này bờ Thái Bình Dương, còn vì thiên nhiên dọc theo vùng này. Thương nhất là những cụm rừng cổ thụ gỗ đỏ (redwood) ngạo nghễ và có vẻ gì đó như thiêng liêng khiến mình sững sờ, nghe tâm tư lắng đọng. Loài cây này chỉ mọc ở vùng cực bắc Cali, gọi là giant redwood (khác với loại đại thụ sequoia mọc dọc theo sườn phía tây của rặng Sierra Nevada trong tiểu bang California). Giống cây đại thụ đỏ này chỉ mọc dọc theo bờ biển ở vùng cực bắc Cali, nơi có sương mù ẩm ướt, là loại cây cao nhất thế giới, tới 378 feet, đường kính trung bình ở gốc cây tới 22 feet. Cây sequoia thấp hơn, cao nhất là 311 feet, nhưng đường kính gốc cây rộng hơn, tới 44 feet, nặng hơn, do đấy được coi là loài cây lớn nhất thế giới, và thường chỉ mọc trên cao độ từ 4,000 feet trở đi.

trungduong_bnbtbd_1-content 

Loài đại thụ sequoia cũng là giống gỗ đỏ, không cao bằng loài đại thụ redwood nhưng vạm vỡ hơn, và chỉ mọc ở cao độ 4,000 feet. Hình bên trái chụp vợ chồng người bạn, anh chị Thiên và Thương, đến chơi từ Vancouver vào một mùa hè; và hình giữa, chụp cô bạn Nguyệt Hồng đến từ Saigòn vào một mùa đông đang ngửa cổ… đo chiều cao của cây, cả hai hình chụp trong công viên Calaveras Big Trees. Hai nơi để xem đại thụ sequoia là Calaveras Big Trees và Sequoia National Park ở trung phần của California. Hình bên phải là rừng redwood Jedediah Smith Redwood State Park, một trong những cụm rừng gỗ đỏ mọc dọc theo bờ biển cực bắc Cali. Trong hình là anh chị Nguyễn Tường Thiết và Thái Vân đến chơi từ Seattle. (Ảnh Trùng Dương, 2006 và 2009)

Mỗi lần lái xe dọc theo xa lộ 101, còn có tên là redwood highway, khoảng gần thành phố Eureka nằm ở cực bắc Cali, hễ có nhiều thì giờ là tôi phải lấy Avenue of the Giants, tức Đường Đại Thụ, là con đường song song với đường 101 xuyên qua những cụm rừng redwood, để có dịp hít thở hương thơm của cây redwood và ngắm nhìn những thân cây vạm vỡ, thẳng đứng sừng sững như muốn hoà vào với trời mây. Một lần tôi có dịp đi xuyên Avenue of the Giants đúng vào lúc trời mưa. Không kềm lòng được, tôi đậu xe, lôi cây dù vẫn thủ sẵn trong xe ra rồi cứ thế đi tung tăng, tự dưng xúc động tới muốn ứa nước mắt.

Và tôi càng thấm thía hơn tại sao vào cuối thập niên 1990 có một người phụ nữ trẻ tên Julia Butterfly Hill (*) đã leo lên sống 738 ngày cả thẩy, bất kể nắng mưa gió bão, từ ngày 10 tháng 12 năm1997 tới ngày 18 tháng 12 năm 1999, trên một cái cây redwood khoảng 1,000 tuổi, mà cô đặt tên là Luna, để ngăn không cho hãng Pacific Lumber Company, là chủ nhân của cụm rừng có cây đại thụ này, đốn xuống làm thành ván xây nhà. Việc làm của Julia đã gây tiếng vang khắp nước Mỹ và thế giới. Về sau, để Julia bằng lòng rời khỏi Luna, hãng Pacific đành nhượng bộ, bằng lòng sang cây này lại cho Julia và những người hỗ trợ cô, với giá 50,000 Mỹ kim. Pacific cũng thỏa thuận lập một vòng đai bảo vệ rộng 200 feet đường kính xung quanh Luna. Nhờ hành động can trường này của cô Julia, Luna trở thành thân quen không chỉ với người yêu thiên nhiên tại Mỹ mà cả thế giới. Do đấy, khi một năm sau khi cô Julia xuống khỏi Luna, vào một ngày tháng 11 một người nào đó đã đem cưa máy vào cắt một vòng sâu vào gốc cây xung quanh Luna, gây bất bình nơi nhiều người khắp nơi.

trungduong_bnbtbd_2-content 

Hình trên bên trái, vào năm 1997, Julia Butterfly Hill, lúc ấy mới 23 tuổi, leo lên cây đại thụ gỗ đỏ khoảng 1,000 tuổi mà cô đặt tên là Luna, lập một cái sàn ở độ cao 180 feet và sống trên đó, quyết định tử thủ để ngăn hãng Pacific Lumber Co. chặt cây đó xuống làm ván. Sau hai năm chịu đựng nắng mưa gió bão của trời và của cả giới truyền thông, cô Julia đã thành công trong việc cứu được Luna và tạo sự quan tâm quốc tế về việc khai thác lâm sản tại các khu rừng già. (Ảnh Internet) Bên phải, hình bìa cuốn sách The Legacy of Luna do Julia viết về kinh nghiệm bảo vệ Luna, do nhà HarperCollins Inc. xuất bản năm 2000. (Ảnh amazon.com)

Ô, và đấy mới chỉ là chuyện rừng cây cổ thụ gỗ đỏ dọc theo bờ biển Thái Bình thôi. Còn nhiều chuyện, cảnh dọc theo bờ biển miền Tây này nữa kể ra chắc phải cả cuốn sách. Và đấy là chưa kể những vườn cây, ruộng rau mà tôi cũng yêu nữa dọc theo xa lộ xuyên bang 5. Tôi thích nhất là những lần lái xe dọc theo xa lộ 5 khoảng trên và dưới thủ phủ Sacramento vốn là cái nôi nông nghiệp của Cali, với những ruộng rau, lúa và vườn cây ăn trái bạt ngàn, rải rác đó đây dọc theo những vườn cây ăn trái là những hộp tổ ong sơn trắng, đôi khi bằng những mầu pastel khác nhau, mà các nhà nông mướn của những người nuôi ong để giúp hoa thụ phấn mà đơm trái. Tôi thường ngất ngây nhìn những vườn cây ăn trái hoa nở trắng xoá hoặc mầu hồng nhạt, và nghĩ tới từng bầy ong mật bận rộn hút nhị, chuyền hết bông này tới bông kia với những cái chân nhỏ mong manh nhưng dính đầy phấn hoa để giúp hoa thụ phấn mà đơm trái.

trungduong_bnbtbd_3-content 
Những hộp tổ ong sơn mầu trắng do nhà vườn mướn của các nhà nuôi ong mật vào mỗi cuối đông hoặc đầu xuân tại Bắc Cali để ong giúp hoa thụ phấn đơm trái. Mặc dù có những giống khác như bướm, dơi và chim như loài hummingbird cũng giúp thụ phấn, nhưng hai phần ba trái cây và đậu ta dùng là do kết quả của công lao thụ phấn của ong mật. Các khoa học gia và nhà nông nghiệp kết luận nếu trên trái đất này không còn ong mật nữa thì loài người chỉ có thể tồn tại được bốn năm. (Ảnh Trùng Dương, 2010)

Nghĩ tới loài ong mật thì tôi lại không khỏi nhớ tới những bài báo và phim tài liệu về một hiện tượng khiến các nhà nuôi ong ở Mỹ cũng như bên Âu Châu rất lo ngại, đó là hiện tượng ong thợ bỗng dưng biến mất, tiếng nhà nghề là “colony collapse disorder” (CDD, tạm dùng cụm từ “chứng rối loạn sụt giảm bầy đàn”), diễn ra từ giữa thập niên 2000 tới nay. Riêng tại Mỹ, khoảng từ 20 tới 40 phần trăm tổ ong, ước khoảng 50 tỉ ong mật, đã bị hủy hoại bởi hiện tượng CCD. Có nhóm nghiên cứu quy trách nhiệm vào việc nông gia từ một thập niên qua gia tăng sử dụng thuốc trừ sâu có lượng neonicotinoid cao đã ảnh hưởng tới ong bị mất hướng không tìm được đường về lại tổ và chết ở đâu đó. Có nhóm nghiên cứu lại quy trách nhiệm CDD vào một loài nấm mới, vào virus, vào một loài ký sinh trùng sống trên mình ong mật, và vào các hoạt động của con người đã phá vỡ trật tự sinh hoạt của ong mật, khiến chúng mất môi trường sống và bị nhiễm nhiều loại vi rút cũng như nhiều loại nấm. Ong rất cần cho nông nghiệp, ai cũng đã biết. Hai phần ba trái cây và đậu có được là do ong nuôi và ong tự nhiên thụ phấn. Chính nhà khoa học Albert Einstein cũng từng nói, nếu ong mật biến mất khỏi mặt đất thì con người chỉ tồn tại được bốn năm sau đó.

Tình cờ Bandon

Sau nhiều thảo luận, vợ chồng tôi rủ nhau đi lên Oregon tìm nơi về hưu. Oregon là một trong vài tiểu bang không thu thuế hàng bán (sales tax). Đi ngang qua Oregon mà bạn cần đổ xăng, bạn phải chờ nhân viên trạm xăng đổ xăng cho bạn chứ không được tự đổ xăng lấy, có lẽ để tạo công ăn việc làm cho một số người.

Song cái lôi cuốn chúng tôi nhất, phải kể tới luật trợ tử, tức Death with Dignity Act, có nghĩa là quyền xin y sĩ giúp cho mình chết nếu bị bệnh nan y vô phương cứu chữa và sẽ chết trong vòng sáu tháng. Luật này nguyên là một đề luật (initiative) do dân Oregon khởi xướng và bỏ phiếu thuận từ năm 1994 nhưng mãi tới 1997 mới được áp dụng sau khi đa số dân Oregon bỏ phiếu chống đề luật đòi hủy bỏ Death with Dignity. Nhưng phải mãi tới năm 2006 luật này lên tới Tối cao Pháp viện Mỹ và được tòa này bỏ phiếu gián tiếp công nhận luật Death with Dignity khi phán quyết rằng đấy là quyền của tiểu bang và chính phủ liên bang, hồi ấy là chính quyền của Tổng thống Bush (con), không được xía vào đòi treo bằng các y sĩ tham dự vào việc viết toa thuốc độc cho các bệnh nhân nan y muốn được giúp kết liễu đời mình. Ngoài Oregon, tiểu bang Washington (cũng qua hình thức initiative), Montana (qua một án lệ của toà Tối Cao) và Vermont (qua lập pháp) cũng đã có luật này.(**)

Chúng tôi đặt chân tới Bandon do một sự tình cờ, qua lời giới thiệu của con gái út. Đó là một thành phố nhỏ có dân số khoảng 3,000 người, với một số đông là dân về hưu, nằm ngay bên bờ biển, dọc theo xa lộ 101 cách biên giới với tiểu bang Cali khoảng 1 giờ lái xe. Như nhiều người dân về hưu tại đây mà tôi gặp sau này, chúng tôi “phải lòng”Bandon ngay khi mới đặt chân tới, nơi có những bãi cát mịn trải dài, điểm đó đây là những tảng đá đủ mọi hình thù kích thích trí tưởng tượng mặc sức hình dung ra mọi hình người và thú. Một trong những hòn đá đó đã đi vào văn học sử Việt Nam hải ngoại khi anh Nguyễn Tường Thiết, tác giả “Nhất Linh Cha Tôi”, cùng vợ là Thái Vân và Trần Mộng Tú cùng chồng là anh Frank từ Seattle xuống Bandon chơi và được tôi đưa ra thăm, đã đặt tên hòn đá là Hòn Vua vì nhìn từ phía bắc xuống, hòn đá trông giống y trang một vì vua đang ngồi, với mũ mãng tề chỉnh và... ngóng ra biển.(***)

Đây cũng là nơi dừng chân của nhiều loài chim thiên di trên đường di trú hàng năm. Ngoài khơi là đường di trú của loài cá voi xám vào mỗi đầu mùa xuân và đầu mùa thu, nếu có ống nhòm tốt và đủ kiên nhẫn có thể thấy chúng hoặc trên đường bơi lên Bắc cực đề kiếm đồ ăn hoặc xuôi nam về vịnh Baja California thuộc Mexico để sanh và dưỡng con. Chúng tôi “phải lòng” Bandon ngay tức thì cũng phải thôi.

Đó là cuối hè năm 2001 khi chúng tôi ký giấy mua miếng đất cách bờ biển có hai trăm bước. Tiếc là sau sáu tháng thuê phòng ở quán trọ Cái Bàn Đá ở bên kia đường trong khi theo giõi thợ thuyền xây móng và ráp dựng ngôi nhà tiền chế trên miếng đất mới mua, chồng tôi dọn vô ngôi nhà mới ở chưa đầy hai tuần thì and bị một cơn động tim, rồi ra đi vài ngày sau đó. Anh bỏ lại căn nhà với các khung ảnh gia đình còn vương vãi trên nền nhà trong phòng khách – anh bị động tim bất tỉnh trong khi đang trang hoàng nhà để đón tôi lên chơi vì lúc đó tôi còn đang làm việc ở Bắc Cali. Mẹ con tôi sau đó đã đem tro của anh ra biển Bandon trải. Anh qua đời tính ra đã được tròn 10 năm vào tháng Tư vừa rồi.

 

trungduong_bnbtbd_4-content


Hình trên, bãi biển Bandon, một phần trong vùng môi sinh được bảo vệ tên là Oregon Islands National Wildlife Refuge, nằm dọc theo bờ biển Oregon và dài tới 320 miles. Phải, “Hòn Vua”, một tảng đá ở bãi biển phía tây nam Bandon trông giống như một ông vua Việt Nam ngồi, với mũ áo tề chỉnh trang nghiêm, ngóng ra biển Thái Bình Dương. (Ảnh Trùng Dương, 2010)

Sau khi về hưu, tôi dọn về căn nhà bên bờ biển này, với nhiều dự án trong đầu. Lần đầu tiên tôi thấy mình thực sự sống trong một khung cảnh lý tưởng. Còn gì lý tưởng bằng một ngôi nhà bên bờ biển, không nợ nần lệ thuộc vào ai, và hoàn toàn tự do làm chủ lấy đời mình. Đây cũng là thời kỳ tôi trở lại với viết lách, bên cạnh thú vui nhiếp ảnh và du lịch. Hàng năm, với chiếc Honda Hybrid vừa chạy xăng vừa chạy điện, tôi đi lên đi xuống dọc theo bờ biển miền Tây nhiều lần, có lần đi sang cả Vancouver, B.C. thuộc Canada (tôi không dám mạo hiểm lái xe sang Tijuana thuộc Mexico), do đấy bờ biển miền Tây Hoa Kỳ trở thành thân quen, tới độ nhiều khi trên đường thiên lý đêm khuya chỉ có mình tôi dong duổi mà tôi vẫn cảm thấy an toàn, kể cả vào mùa đông hay trong cơn mưa xối xả. Tôi ngán nhất tuyết, nên vào mùa đông tôi thường chọn đường 101 đi dọc theo bờ biển, không dám dùng xa lộ 5 phải đi qua vài cái đèo cao thường có tuyết phủ, dù cảnh trí rất đẹp.

Bà chị tôi, định cư ở San Diego từ 1975, rất buồn thấy tôi chọn Bandon để về hưu. Chị nói: “Tưởng cô về hưu dọn về dưới này cho có chị có em. Sao lại dọn đi xa thêm nữa là thế nào? Anh chị em 11 đứa, giờ chỉ còn vài đứa với nhau. Chị là người lớn nhất, bệnh hoài, chả biết đi lúc nào…” Tôi nghe cũng mủi lòng, nhưng tìm cách trấn an chị: “Để sống thử vài năm xem thế nào. Với lại, em vẫn chẳng thường đi lên đi xuống Nam Cali thăm chị thăm em, đây sao!”

Sống ở Bandon được nửa thập niên, một mình đương đầu với những mùa đông gió bão, có trận thổi bay cả một phần mái nhà, tôi bắt đầu… thấm đòn. Dù có theo chủ trương khắc kỷ cách mấy, có lúc tôi cũng phải nhận là mình cảm thấy hiu quạnh một mình đi ra đi vào căn nhà rộng thênh thang. Bạn bè ở xa muốn tới chơi, phải lái xe nhiều dặm đường, có ham lắm rồi cũng chùn chân vì… lớn tuổi, tới chơi chỉ được một lần, rồi thôi, mặc dù tôi mời gọi. Con cháu thì bận làm, học, giỏi lắm một năm một lần ghé chơi. Thêm vào đó là nỗi lởn vởn trong đầu tôi cái chết của chồng tôi. Anh bị động tim, bất tỉnh nằm trên sàn nhà tới hai ngày mới được một ông hàng xóm khám phá ra, do đấy đã quá trễ. Tôi lo cho các con tôi nhiều hơn, nếu lỡ có chuyện gì xẩy ra cho tôi, phải bỏ công ăn việc làm chạy lên lo cho tôi, tội chúng. Nên cuối cùng tôi đành cuốn gói rời Bandon xuôi nam, nhưng vẫn nuối tiếc giữ nơi cư trú ở Oregon, phần lớn vì cái luật trợ tử, dù vẫn hy vọng sẽ không phải dùng tới nó.

Và tôi vẫn đi lên đi xuống dọc theo bờ biển miền Tây Hoa Kỳ. Được hỏi khi nào ngưng, tôi chỉ biết cười và trả lời là tới khi nào không còn lái xe được nữa. Tôi thèm những lúc thả hồn giữa những cụm rừng đại thụ gỗ đỏ cao thấu trời mây; giõi theo những cánh chim thiên di hàng năm không biết mỏi, và tưởng tượng từng đàn cá voi bận rộn xuôi nam ngược bắc ngoài khơi; để tưởng nhớ tới người chồng quá cố đã đưa bờ vai cho tôi tựa những bước đầu tị nạn; để đắm mình giữa khung cảnh thiên nhiên nơi những bãi biển nhờ được luật pháp bảo vệ nên sẽ được giữ nguyên trạng thiên nhiên không ai được quyền khai thác bên này bờ Thái Bình Dương; và để ngóng về quê mẹ chưa một lần về thăm….


TRÙNG DƯƠNG

[ 2013/05]

 

Ghi chú:

(*) Xem thêm về Julia Hill tại http://en.wikipedia.org/wiki/Julia_Butterfly_Hill

(**) Xem thêm bài về luật trợ tử tại http://www.diendantheky.net/2013/05/trung-duong-ve-quyen-uoc-chet-khi-bi.html

(***) Nguyễn Tường Thiết, “Hòn Vua ở Bandon”, http://www.diendantheky.net/2011/08/hon-vua-o-bandon.html. Cũng nhân chuyến viếng thăm này của các bạn từ tây bắc, tôi có cảm hứng viết bài “Trông vời quê mẹ…”, về pho tượng thiên nhiên đã gợi liên tưởng tới ba vì vua nhà Nguyễn bị chính quyền thuộc địa Pháp đầy đi biệt xứ vì âm mưu lật đổ Pháp, tại http://damau.org/archives/10762.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 205)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 171)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 319)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 261)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 378)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 537)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1011)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1079)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1976)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 537)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11052)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17682)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16748)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 319)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 378)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1976)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2526)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 261)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2411)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2182)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2771)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1011)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1079)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1618)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2395)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 204)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 171)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2243)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3078)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14401)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30478)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36753)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12175)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13517)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3941)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5949)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5441)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6001)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6651)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8985)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8286)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11224)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.