- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Cẩn thận khi xem sách: Hiện tượng Osho

19 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 59775)

osho


Một hiện tượng, tưởng rằng đã chết khi ông Osho tức Bhagwan Shree Rajneesh bị chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ trục xuất về Ấn Độ vào năm 1987, nay đang có những chỉ dấu sống dậy, không phải chỉ trong cộng đồng Oregon, Hoa Kỳ như trước đây mà là trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại và có thể ở cả trong nước qua một số sách do Osho giảng được Sư cô Thích nữ Minh Tâm và hội Osho International Foundation dịch ra Việt ngữ.

Một số sách đó được bầy bán tại các nhà sách ở quận Cam Hoa Kỳ và quảng bá qua liên mạng Internet. Họ cũng rao quảng cáo trên một vài nhật báo xuất bản ở miền Nam California, kêu gọi đóng góp tiền ấn tống hai quyển sách Bát Nhã Tâm Kinh và Kinh Kim Cương giảng giải.

Nhằm tìm hiểu hiện tượng này, người viết đành phải bỏ thì giờ ra đọc một số tác phẩm của Osho qua các ấn bản giấy và ấn bản điện tử do thân hữu hội Osho gửi đến. Càng đọc, người viết càng cảm thấy có bổn phận phải viết ra đôi lời để những độc giả, hoặc không biết hay đã biết về Osho, có cái nhìn bao quát hơn về những khía cạnh khác của ông này. 

Mặc dù đã dựa chủ yếu vào các nguồn căn bản cho phần tiểu sử Osho, người viết thấy cần phải đưa thêm vào những tin tức khả tín nhất về ông Osho, nhằm mô tả hình ảnh Osho một cách trung thực. 

Bài viết được chia làm hai phần, phần đầu viết về con người của Osho và phần sau viết về một vài tác phẩm của ông giảng dạy về đạo Phật, như Kinh Kim Cương và Bát Nhã Tâm Kinh.


PHẦN I:  THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Tên thực của Osho là Acharya Rajneesh, sau đổi là Bhagwan Shree Rajneesh (1931-1990). Ông sanh ngày 11 tháng 12 năm 1931 tại làng Rajneesh Chandra Mohan tỉnh Kuchwara, miền Trung Ấn Độ. Vào cuối đời ông đổi tên là Osho. Song thân ông theo đạo Kỳ Na (Jainism), nhưng bản thân ông chưa từng gia nhập một tôn giáo nào trong suốt quãng đời của ông. Từ lúc còn bé, Osho đã tỏ ra là một con người có cá tính độc lập, cương quyết, nổi loạn và luôn luôn bảo hộ ý kiến của mình. Theo sách của ông ghi lại, ông đã đạt định “samadhi” và chứng ngộ vào ngày 21 tháng 3 năm 1953 lúc ông 21 tuổi. Rajneesh đậu bằng Cao học Triết từ viện đại học University of Saugar. Sau đó ông dạy Triết học tại viện đại học University of Jabalpur trong chín năm. Cùng thời gian đó ông đi du thuyết nhiều nơi và trở nên một nhà lãnh đạo tôn giáo. 

Năm 1966, ông từ nhiệm việc giảng dạy tại viện đại học Jabalpur và tập trung các nỗ lực vào việc giáo huấn cho các đệ tử theo ông. Ông thường tiếp các nhóm tu học và cá nhân ở căn hộ apartment của ông ở Bombay, ông hành xử như là vị lãnh đạo tâm linh của họ. Phần lớn các đệ tử của ông đến từ Âu Châu và đã ở Ấn từ vài năm trước.

Năm 1974, Osho từ bỏ Bombay đến thành phố Pune (Poona), miền Nam Ấn thiết lập trung tâm tu học. Có nguồn tin từ những người chống đối ông cho rằng việc ông rời Bombay là do những sự chống đối của cư dân địa phương. Thực tế việc đến Pune là do nhu cầu phát triển cơ sở hầu thoả mãn chỗ ăn ở và tu tập cho các đệ tử. Trung tâm tu học mới rộng sáu mẫu, nằm ở ngoại ô thành phố Pune. Người ta ước tính có tới năm mươi ngàn người Tây Phương đã đến đây tu học để tìm cầu giác ngộ với ông. Vào năm 1979, ông nhìn thấy phong trào tu học theo ông như là một con lộ nhắm hướng bảo hộ dòng giống sinh sản mới cho nhân loại. Ông nói: “Nếu chúng ta không thể tạo ra những người mới trong hai mươi năm tới, thì nhân loại sẽ không có tương lai. Cuộc tàn sát kiểu holocaust trên quả địa cầu chỉ có thể được ngăn chặn nếu chúng ta cho ra đời những con người mới”. 

Osho dạy một loại thiền mới, một loại thiền động (dynamic meditation) mà ông lấy từ các đạo Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học nổi tiếng đương thời, rồi pha trộn thành của mình.

Năm 1980, ông bị một người theo Ấn Giáo tấn công bằng dao trong khi ông đang thuyết giảng. Vết thương không nặng nhưng do sức khoẻ của ông vốn yếu kém từ những năm trước đây nay trở nên tồi tệ hơn. Một vài đệ tử thân cận với ông cho biết ông thường hay đau yếu và mắc phải hội chứng mệt mỏi (Chronic Fatigue Syndrome CFS), bị bệnh tiểu đường loại 2, bệnh đau bắp thịt, bệnh cao áp huyết và thường xuyên dùng thuốc Valium. 

Năm 1981 ông rời Ấn Độ qua Hoa Kỳ chữa bệnh. Các đệ tử của ông mua một nông trại rộng 65,000 mẫu tại Big Muddy Ranch, Dalles, Wasco County, bang Oregon với giá 6 triệu dollars. Nông trại này sau đó được đổi tên là Rajneeshpuram . Ông đã thiết lập được một làng tâm linh tu học rộng lớn cách thị trấn Antelope 12 miles với một giảng đường rộng 88,000 square foot, một sân bay nhỏ và 4000 hội viên thường trú, một số được trang bị súng phòng thủ. Đời sống trong làng bị nhiều áp lực từ ban lãnh đạo của Oshọ cho đến chính quyền địa phương. Nhiều cư dân địa phương xung quanh sống lâu đời ở đây đã dị ứng với những người mới đến này. Họ chống đối sự hiện diện của nhóm người do ông lãnh đạo, và vì vậy đã có những sự va chạm lẫn nhau. Thành phố từ chối cấp giấy phép xây cất và ra lệnh triệt hạ những cơ sở đã xây không có giấy phép. Khi các viên chức chính quyền địa phương ngăn cản việc xây cất không có phép, thì văn phòng chính quyền liền bị nhóm người lạ mặt ném chất nổ. 
Do hội đồng thành phố tiếp tục từ chối cấp giấy phép xây cất, nên các đệ tử của Osho bầu người của mình vào hội đồng thành phố. Tân hội đồng thành phố lãnh đạo bởi phe thân Osho, đổi tên Antelope thành City of Rajneesh.

Hai phụ tá cao cấp của Osho là Sally-Anne Croft và Susan Hagan bị truy tố liên quan đến một số tội ác, bao gồm cả tội dự mưu ám sát vị luật sư công tố Charles Turner và vị bác sĩ riêng của Osho. Hai viên phụ tá này bị kết tội 5 năm tù ở với tội danh âm mưu ám sát viên luật sư công tố liên bang Charles Turner, trong âm mưu ngăn chặn việc đóng cửa nông trại. Một số phụ tá khác của Osho chạy thoát về Thuỵ Sĩ, ở đó họ còn nắm giữ một số trương mục ngân hàng cho tổ chức Osho. 

Năm 1983, thư ký riêng Sheela Silverman của Osho thay mặt Osho tuyên bố sẽ có đại cơn tàn phá địa cầu trong khoảng từ 1984 và 1999. Các thành phố Tokyo, New York, San Francisco, Los Angeles, Bombay sẽ bị xoá tên khỏi bản đồ thế giới. Điều tiên đoán này không xảy ra và người ta cũng nghi ngờ điều tiên đoán đó không phải của Osho. 

Theo tài liệu lưu giữ tại Quốc Hội Hoa Kỳ Congressional Record và ghi lại trong quyển sách Germs, New York Times reporter Judith Miller, [Simon & Schuster Book] cho biết một số đệ tử của Osho là thủ phạm gieo rắc vi khuẩn Salmonella tại một số nhà hàng bán salad bar nhằm đe doạ cư dân ủng hộ dự án luật ngăn cấm các hoạt động của Osho. Trong vụ này có 751 người nhiễm vi khuẩn Salmonella. Sự cố này đã gây chấn động ở Hoa Kỳ vào năm 1984 khi được các đài truyền hình quốc gia như ABC News, Lehrer NewsHour of Public Television loan tải trong ngày 1 tháng 10 và trên tuần báo Time Magazine, số ra ngày 3 tháng 10, với tựa đề là "America's First Bioterrorism Attack." [01][02][03] 

Lo sợ bị chính quyền áp dụng biện pháp mạnh, một số đệ tử của Osho đã thu xếp cho ông di chuyển đến thành phố Charlotte, bang North Carolina. Nhưng báo Origonian cho biết là Osho đã được các đệ tử đưa đi trốn qua vùng hải đảo, biển Caribbien bằng một máy bay riêng của ông, nhưng bị chận bắt khi máy bay dừng tiếp tế nhiên liệu tại Charlotte, North Carolina. Osho bị bắt giữ vì đã liên tiếp vi phạm luật di trú Hoa Kỳ. Ông bị kết tội môi giới làm giả hôn nhân cho những đệ tử mang quốc tịch Ấn kết hôn với những đệ tử mang quốc tịch Hoa Kỳ để hợp pháp hoá việc định cư. Osho cũng bị truy tố về tội khai man trên những giấy tờ di trú. 

Năm 1987 Osho nhận tội, bị phạt 400 ngàn Mỹ kim và trục xuất khỏi Hoa Kỳ.  Ông trở về lại Pune (Poona) Ấn Độ, ở đó sức khoẻ của ông trở nên trầm trọng. Osho quyết định khai tử tên Rajneesh (có lẽ là để dấu khuôn mặt thật của ông bị lộ diện ở Hoa Kỳ) và khai tên mới là Osho. Ông từ gĩa cõi đời ngày 19 tháng 1 năm 1990. Giấy khai tử ghi nguyên do tử vong là bệnh trụy tim.

Vào thời kỳ cao điểm, có khoảng 200 ngàn hội viên và 600 trung tâm tu học trên thế giới. Osho bị nhiều nhóm chống đối coi ông như là một giáo phái ma quỷ (an evil). Ông cũng được họ gọi là “sex guru” vì ông quảng bá mạnh mẽ về sex. Ông cho rằng “sự thèm khát dục bên trong mỗi chúng ta có thể trở thành chiếc thang mà qua đó đạt tới ngôi đền của tình yêu", rằng "dục bên trong mỗi chúng ta có thể trở thành phương tiện để đạt tới siêu tâm thức, đạt tới định samadhi.” Ông chỉ bày kỹ thuật giao hoan nam nữ cho dài lâu. Xin trích đoạn: “… Việc thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì việc đó càng kéo dài hơn. Và việc giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. …. Vào lúc giao hợp chúng ta ở gần với Thượng đế. Thượng đế tồn tại trong chính hành động sáng tạo cho sinh thành nên cuộc sống mới, và do vậy thái độ của người ta nên giống như thái độ của người đi vào chùa chiền, đền đài hay nhà thờ. Vào lúc cực khoái chúng ta ở gần nhất với đấng Tối cao (From Sex To Super-Consciousness – Osho International Foundation)

Osho phát triển một dạng thiền năng động mới mẻ, được nhiều người biết với tên Dynamic Meditation, thường khởi đầu với các hoạt động mạnh mẽ về thể chất như nhảy múa với âm nhạc kích động, sau đó là thiền im lặng. Phương pháp thiền này, theo Osho, có thể phát triển đến một trạng thái “không tính” và đạt đến giác ngộ. Hành giả sau đó sẽ trở thành “no past, no future, no attachment, no mind, no ego, no self” 

Trong thập niên 1980, các đệ tử của Osho thường mặc y phục toàn màu vàng 
cam đậm (có khi màu nâu đỏ), không phải chỉ có áo choàng. Vì vậy, họ được gọi là "Orange People". Tên gọi nầy khá phổ thông trong thời kỳ đó. Osho ban tước hiệu mới cho đệ tử. Nam được gọi là “Swami” và nữ được gọi là “Ma”. Mặc dầu đa số đệ tử sống trong môi trường khiêm tốn và đơn giản, nhưng Osho, ngược lại, sống trong xa hoa lộng lẫy, tư thất ông ở có máy điều hoà không khí, có bồn tắm nước nóng. Ông có 27 chiếc xe hơi mang hiệu Rolls Royces do các đệ tử hiến cúng. (Có sách nói 93 chiếc)

Osho dạy rằng Thượng đế trong mọi người và hiện diện mọi nơi chốn. Không có gì ngăn cách giữa God và Not God. Ông thừa nhận Jesus Christ đã giác ngộ và tin tưởng là Jesus còn sống sau khi bị đóng đinh trên cây Thập tự giá và trốn qua Ấn Độ, ở đó Jesus chết lúc 112 tuổi.

Osho nói rằng ông không chỉ định người kế vị khi ông qua đời, vì tất cả các đệ tử của ông đều sẽ là những người kế vị ông. Tuy nhiên, trước khi chết, ông đã chỉ định một hội đồng gồm 21 người điều hành trung tâm tu học Pune. Trung tâm này đã được phát triển từ 6 mẫu thành 32 mẫu. Ngày nay họ điều hành 20 trung tâm trên khắp thế giới và trở thành một tổ chức kinh doanh với lợi tức hàng năm lên đến nhiều triệu Mỹ kim. Ảnh hưởng chính của Osho bây giờ chính là những sách viết của ông. Cũng nên biết hai phụ tá cao cấp của Osho là Sally-Anne Croft và Susan Hagan bị kết án 5 năm tù ở Oregon hồi năm 1995, đã được phóng thích trước thời hạn mãn tù vào tháng 6 năm 1998 và bị trục xuất về Anh Quốc.


PHẦN 2: ĐƯỜNG LỐI TRUYỀN ĐẠO

Nói rằng ông Osho là một Đạo Sư và những lời giảng dạy của ông là Giáo lý thì không đúng vì tất cả những lời giảng của ông không có gì mới lạ, chỉ là sự góp nhặt rồi pha trộn từ một số giáo lý của các đạo Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học đương thời. Ông bắt đầu sự nghiệp bằng việc giảng dạy môn Triết học tại đại học, rồi từ đó chuyển qua dạy về khoa Tâm linh cho những đệ tử và những người theo ông. Thị trường khoa Tâm linh học ở Ấn Độ thời đó rất cạnh tranh và ông là một người giỏi về tiếp thị. Ông đã tung ra thị trường một sản phẩm mới nhiều hấp dẫn. Đó là những lời hứa hẹn “giác ngộ và giải thoát” bằng một đường lối rất quyến rũ là con đường tình yêu và tình dục; mà ông tin rằng sẽ được đón nhận ở cả phương Tây lẫn phương Đông. 

Mặc dầu là một người độc tài, độc tôn, độc đoán, nhưng ông lại là một nhà thuyết giảng có tài, có mãnh lực quyến rũ và thuyết phục người nghe, người đọc. Văn tiếng Anh ông viết giản dị, sáng sủa. Ông thuyết giảng rất nhiều và thuộc đủ mọi đề tài. 

Với Phật Giáo, ông ca ngợi đức Phật, dùng những thuật ngữ nhà Phật, nên người đọc, nhất là những Phật tử mới vào đạo hay những người có ý muốn hướng về một nền đạo học Đông Phương cảm thấy thích thú và gần gũi với ông. Ông nói thao thao bất tuyệt về kinh Kim Cương, Bát Nhã Tâm Kinh và Kinh Pháp Cú. Ông thuyết giảng về Vô Ngã và Không Tánh của Phật Giáo. Ông cũng giảng và đề cao nhiều pháp thiền định khác nhau của nhiều tôn giáo, như của Mật tông: Kundalini, Mandala và Tình Dục, lẫn của cả Thiền Minh Sát Vipassana của Phật giáo Nam Tông, cũng như thiền quán âm thanh của kinh Lăng Nghiêm v... v… Ông có lối diễn giảng như hỏa mù, vừa ca ngợi, vừa xuyên tạc đạo Phật (một cách tinh vi), lại vừa lợi dụng uy tín của đức Phật, dùng đức Phật như một cái dù che; nhưng thực chất bên trong nôị dung những điều ông giảng lại chứa đựng những tư tưởng đối nghịch với tư tưởng nhà Phật. Đây chính là điều mà người ta thường gọi là “cái bẫy của ngôn ngữ”. 

Chúng ta hãy đọc một đoạn của Osho dưới đây: ”Đừng lo sợ gì cả, vì toàn bộ tiến trình giáo lý Bát Nhã Tâm Kinh sẽ giúp anh phóng thể, khai sáng cái bản ngã: cái “Tôi” đó thực không hiện hữu – chỉ cái “Tôi” đó là cái duy nhất không hiện hữu, không thực! Ngoài ra tất cả đều thực có. Có nhiều đạo sư đã nói: “Thế giới này là ảo ảnh và linh hồn mới hiện hữu – cái ‘Tôi” là thực, ngoài ra đều là ảo giác.” Đức Phật lại giảng trái ngược lại: “Cái Tôi là không thực, còn những thứ khác là thực.” Tôi đồng ý với Đức Phật về quan điểm này hơn tất cả những lập thuyết, quan niệm của những đạo sư khác…[Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích nữ Minh Tâm]

Đức Phật không hề nói “cái Tôi là không thực, còn những thứ khác là thực…” Những người am tường giáo lý đạo Phật đều biết trong suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, Đức Phật đều là tuỳ căn cơ, hay nói một cách khác, tuỳ bệnh “chấp thật” của chúng sinh mà cho thuốc khác nhau. Ngài phá chấp thật: phá Ngã chấp, Pháp chấp và Không chấp; [01] ngay cả lời nói của Ngài, Ngài cũng nói là vọng tưởng, chớ nên chấp thật.

Một đoạn khác, cũng trong Bát Nhã Tâm Kinh, Osho cho rằng Tiểu ngã hoà nhập vào Đại ngã là Niết Bàn: “Chỉ có người nào yêu và thiền định thì mới có thể chết tỉnh thức được. Và một khi anh chết trong tỉnh thức rồi, thì anh không cần phải lộn lạo luân hồi trở lại cuộc đời này nữa, vì anh đã học xong bài học thế gian rồi. Rồi anh tan biến vào vũ trụ, hội nhập vào đại thể, hoà mình vào chân ngã – đó là Niết Bàn tịch tĩnh đấy, anh ạ! [Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích nữ Minh Tâm]

Đây chính là quan niệm của Ấn Độ giáo hay Bà La Môn Giáo. Đối với Phật giáo thì mọi khái niệm, tư tưởng về Bản Ngã, dù là Tiểu Ngã hoặc Đại Ngã đều bị quét sạch, kể cả cái công cụ quét cũng bị quét luôn. Ngay cả đến giáo lý của Phật giảng dạy cũng chỉ được coi là phương tiện như con đò đưa người qua sông. Khi đã đến được bến đò thì phải bỏ đò và người đưa đò tức Phật cũng phải bỏ luôn và phải bỏ luôn cả cái vọng chấp gọi là bến đò nữa mới có thể đạt tới cái mà sách vở tạm dùng ngôn từ mà gọi là Niết Bàn, Chơn Như. 

Còn trên phương diện hành trì, giáo lý nhà Phật chủ trương diệt dục vì dục là nguồn gốc của khổ đau và luân hồi thì Osho lại chủ trương ngược lại. Ông đề cao dục, ca ngợi dục, quảng bá dục; nhất là tình yêu và tình dục, ông dành nhiều buổi thuyết giảng về tình dục và viết thành một quyển sách nói về Dục. Ông chỉ dạy kỹ thuật giao hoan nam nữ cho dài lâu. Nên lưu ý, đây là điểm quan trọng trong quá trình truyền đạo của ông, là “đường lối hành trì” để hành giả đạt đến giác ngộ giải thoát, đến Niết Bàn hay Thượng Đế” của cái gọi là “giáo lý” của “Đạo sư Osho”. Xin trích đoạn: 

“..Nhưng người đã nghiên cứu về dục, người đã đi sâu vào nó, người đã thiền về những kinh nghiệm nhiều kiếp, đều nêu ra rằng nếu giao hợp chỉ kéo dài một phút thì con người sẽ ham muốn nó lần nữa vào ngày hôm sau, nhưng nếu nó có thể được kéo dài trong ba phút thì người đó sẽ không nghĩ về dục trong một tuần tiếp sau. Hơn nữa, họ đã quan sát rằng nếu giao hợp có thể được kéo dài trong bẩy phút thì người đó sẽ tự do khỏi dục đến mức không ý nghĩ đam mê dục nào nẩt sinh trong người đó trong ba tháng. Và nếu thời kì giao hợp có thể kéo dài ba giờ thì người đó sẽ tự do với dục mãi mãi; người đó sẽ không bao giờ ham muốn nó lần nữa!

Nhưng kinh nghiệm của con người nói chung chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc; thậm chí khó mà tưởng tượng được một thời kì ba giờ. Tuy nhiên, tôi lặp lại: nếu một người có thể vẫn còn trong tư thế giao hợp, có thể vẫn còn trong samadhi đó, trong sự chìm ngập ba giờ, thế thì chỉ một hành động giao hợp đó cũng đủ để giải phóng người đó khỏi dục cho phần còn lại trong cuộc đời mình. Nó để lại sau một kinh nghiệm mãn nguyện, một kinh nghiệm phúc lạc đến mức nó kéo dài cả đời. Sau việc giao hợp hoàn hảo đó thì không còn rào chắn để đạt tới vô dục thực sự.

Thậm chí sau cả đời kinh nghiệm dục chúng ta cũng chẳng bao giờ đạt tới bất kì đâu gần cái giai đoạn tối cao đó, gần điều thiêng liêng đó. Tại sao? Người ta đạt tới tuổi già chín muồi, đi tới cuối cuộc sống của mình, nhưng người đó chưa bao giờ được tự do khỏi sự thèm khát dục, khỏi niềm đam mê giao hợp. Tại sao? Bởi vì người đó chưa bao giờ hiểu mà cũng không được bảo cho về nghệ thuật dục, về khoa học dục. Người đó chưa bao giờ xem xét nó; người đó chưa bao giờ thảo luận về nó với người đã chứng ngộ.

Bạn có thể ngần ngại rằng một kinh nghiệm mà thường chỉ kéo dài một khoảnh khắc lại có thể được kéo dài trong ba giờ, cho nên tôi sẽ nêu ra cho bạn một số điểm chỉ dẫn. Nếu bạn chú ý tới chúng, thì cuộc hành trình tới vô dục sẽ trở nên đơn giản hơn.

Việc thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì việc đó càng kéo dài hơn. Và việc giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. Như tôi đã nói trước đây, việc hiểu về vô ngã, về vô thời gian, bắt đầu hé mở ra cho con người trong samadhi-dục đó. Việc thở phải rất chậm. Việc làm chậm hơi thở sẽ mở ra viễn cảnh ngày càng sâu sắc hơn của nhận thức rõ.

Một điều khác cần phải nhớ trong hành động giao hợp là ở chỗ nhận biết của bạn nên được tập trung vào giữa hai con mắt, ở chỗ của agnichakra. Nếu sự chú ý được tập trung vào đó, thì thời hạn cực đỉnh có thể được kéo dài - thậm chí tới ba giờ. Và một hành động giao hợp như vậy có thể bắt rễ chắc chắn một người vào mảnh đất của vô dục - không chỉ cho kiếp sống này mà cho kiếp sống tiếp nữa..” [Osho: Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức (Bài nói thứ 4)©Osho International Foundation]

Có người cho rằng những điều giảng trên không phải là của Phật giáo mà là của Mật Giáo Ấn Độ hay như Osho gọi chung chung là Mật tông. 

Thêm vào đó, tình yêu và tình dục nam nữ mà Osho đề cao cũng được ông giảng lồng vào trong các kinh Phật, như trong kinh Kim Cương và Bát Nhã Tâm kinh. Điều này xác nhận tư tưởng của ông đối nghịch với giáo lý nhà Phật như nước với lửa. Xin trích đoạn: “…Chỉ có tình yêu lan tràn ra thế giới mới đem đến cách mạng. Chủ nghĩa cộng sản đã thất bại, chủ nghĩa phát xít đã thất bại, chủ nghĩa tư bản đã thất bại. Tất cả các "chủ nghĩa" đều thất bại bởi vì sâu bên dưới tất cả chúng đều kìm nén dục. Về phương diện này, không có sự khác biệt giữa Washington và Moscow, Bắc kinh và Delhi không có khác biệt nào hết cả. Tất cả họ đều đồng ý về một điểm rằng dục cần phải bị kiểm soát, rằng người ta phải không được phép có niềm vui hồn nhiên trong dục. Mật tông tới để lập lại quân bình. Mật tông là phương thuốc cho nên nó nhấn mạnh quá nhiều vào dục. Những cái gọi là tôn giáo nói dục là tội lỗi, còn mật tông nói dục là hiện tượng thiêng liêng duy nhất. Mật tông là phương thuốc. Thiền không phải là phương thuốc. Thiền là trạng thái khi bệnh tật đã biến mất và tất nhiên, cùng mất đi với bệnh thì phương thuốc cũng mất đi nữa. Một khi bạn được chữa lành khỏi bệnh, bạn không còn giữ lại toa thuốc và cả lọ thuốc và thuốc với mình. Bạn vứt chúng vào sọt rác. Xã hội thông thường chống dục; Mật tông tới để giúp loài người, để trả lại dục cho loài người. Và khi dục đã được trả lại, thì nảy sinh Thiền. Thiền không có thái độ. Thiền là sự mạnh khỏe thuần khiết. " [Osho: Kinh Kim Cương Việt dịch: Như Không]

 “…Khi anh ân ái giao hợp với một người phụ nữ anh thương, cái tột đỉnh của khoái lạc chính là đỉnh cao của Chân Không. Ngay giây phút Chân Không hay khoái lạc cực điểm đó, người đàn bà không còn là người đàn bà nữa và người đàn ông cũng không còn là người đàn ông nữạ Những hình thái nam nữ đó đã biến mất. Cái tính chất phân cực, sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà không còn đó nữa, sự căng thẳng không còn đó nữa; tất cả đã tuyệt đối buông xả, thư giản hoàn toàn…” [Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích Nữ Minh Tâm]

Những lời ông giảng về kinh Phật và hành thiền nghe thật hấp dẫn, rất êm tai, nhưng theo ông, hành giả chỉ có thể đến được với nó qua đường tình yêu và tình dục. Đây chính là viên thuốc độc bọc đường để mê hoặc lòng người và đó chính là cái bẫy của ngôn từ, nên những người mới vào đạo Phật cần phải lưu ý mà tránh xa. Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14 đã cảnh giác những ai đi theo con đường dâm (sex), Ngài nói: “…Nói chung sự tà dâm được thực hiện bởi sự tham muốn, nhưng người ta cũng có thể làm như thế bởi lòng sân hận, như khi một người ngủ với vợ của một kẻ thù. Cũng thỉnh thoảng nó được thực hiện do sự vô minh, cho rằng qua sự giao hợp người ta có thể đạt được các chứng ngộ vĩ đại” [Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng, nguyên tác Anh ngữ: The Way To Freedom, Dalai Lama Thứ 14 - Việt dịch: Liên Hoa, Nhà xuất bản Thiện Tri Thức 1999]

Cũng nên nói thêm, trong cuốn Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức, Osho khẳng định không có con đường nào khác hơn để đi đến samadhi là phải qua con đường tình dục:“Con đường từ dục tới samadhi là con đường dài. Samadhi là mục tiêu tối thượng; dục chỉ là bước đầu tiên. Và tôi muốn chỉ ra rằng những người từ chối thừa nhận bước đầu tiên, người chỉ trích bước đầu tiên, thì thậm chí không thể nào đạt tới bước thứ hai được. Họ không thể nào tiến bộ được chút gì. Điều bắt buộc là phải tiến bước thứ nhất có ý thức, hiểu biết và nhận biết. …”

Trong một bài giảng khác, Osho cũng xác nhận rằng: “Sex contains samadhi, because life contains God. Move from sex to samadhi, from sex to superconsciousness; this is the only natural and rightful way. Don't get stuck anywhere in sex. I teach you sex and transcendence both, because the transcendence is possible only through it. And the people who are teaching repression are not teaching transcendence. In fact, they go on pouring more mud on you. They go on forcing you deeper in the mud because there is no possibility of transcendence if you have not moved through these sexual stages of autoeroticism, of homoeroticism, of heteroeroticism, and then to transcendence. And the lotus blooms, the one-thousand-petalled lotus. You are containing it in yourself. Avoid the priests and the politicians and you can achieve it. They are standing in the way…” [Osho: The Secret of Secrets, Vol 2, Chapter 15 (Available on Audio only) Talks by Titles Subject Index - Audio Talks © Osho International Foundation 1995] 

Khi giảng về Thiền Định trong Bát Nhã Tâm Kinh, Osho giảng huyên thuyên, dùng toàn thuật ngữ Phật giáo nhưng chỉ có chữ mà không có nghĩa, hầu như không có liên hệ gì với giáo lý nhà Phật, lại còn có những điểm trái ngược với Phật giáo, như khi giảng về thiền định, ông phân chia Thiền Định làm hai lực đối kháng nhau: Thiền là một cái gì “yên tĩnh, ôn hòa, sâu lắng” trong khi đó Định thì có bản chất “bạo hành, cá nhân bản ngã…” Chúng ta hãy đọc thử một đoạn: “…Định là ý thức đối đãi, nhị nguyên: bởi thế Định tạo ra sự mệt mỏi, chán ngán, cho nên khi anh tập trung vào một đối tượng nào, anh cảm thấy mệt lả. Anh không thể tập trung suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ liền được, anh phải nghỉ ngơi. Sự tập trung không bao giờ có thể trở thành bản chất của anh được. Thiền không bao giờ làm cho anh mệt mỏi. Thiền không bao giờ làm cho anh đuối sức. Anh có thể thiền hai mươi bốn giờ đồng hồ liền hay ngày nọ qua ngày kia, năm nọ qua năm kia. Thiền có thể trở thành vô tận vì chính bản chất thiền là thư thái, an nhiên, tuyệt đối không căng thẳng, mệt lả, đuối sức. Định là một hành động, một loại hành động có ý chí mạnh mẽ. Còn Thiền là trạng thái không ý chí, một trạng thái vô hành….Trong Định, chúng ta đã có sẵn một kế hoạch, một dự án, một tư tưởng trong tâm trí. Khi anh tập trung tâm trí vào một đối tượng, đầu óc anh hoạt động dữ dội, anh thấy rõ là anh đang quán chiếu cái gì, tập trung tâm ý vào cái gì, vì tập trung hiện ra từ vùng quá khứ….Định sẽ khiến anh trở thành một con người ý chí. Nhưng thiền sẽ đưa anh đến Chân Không, sẽ đưa anh đến vùng Chân Như tự tại. Đó là chính xác những gì Phật nói với Xá Lợi Phất…[Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích Nữ Minh Tâm]

Trong khi đó, Định theo Phật giáo là “trạng thái chú tâm lên một đối tượng duy nhất bằng sự lắng lọc từ từ của tâm. Định là một dạng tâm thức, trong đó không còn tính nhị nguyên, trong đó chủ thể biến thành một với khách thể, lúc đó chỉ còn một "kinh nghiệm tâm thức" là có thật. Khả năng đạt định là một trong những điều kiện tiên quyết để tu tập Thiền…, hành giả nhờ Định (s: samadhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ Năm chướng ngại thì đạt được bốn cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (xem Ba thế giới), đạt được Lục thông (s: abhij) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi Ô nhiễm. Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ. 

Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác. 

Tại Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở, Bốn niệm xứ ... với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ phép Thiền do Bồ-đề Đạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã phát triển rất mạnh (Thiền tông). 

Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hóa khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Tọa thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện…” [Tự điển Phật Học Đạo Uyển: http://www.daouyen.com/Data/Ph_T/T132.htm]

Còn có quá nhiều điều đối nghịch với giáo lý nhà Phật, nhưng người viết cho là tạm đủ để độc giả có thể nhìn rõ thêm về ông Osho và giá trị những lời thuyết giảng của ông về đạo Phật. Osho có phải là đạo sư và những lời thuyết giảng của ông có phải là khuôn vàng thước ngọc không, điều đó không tuỳ thuộc vào những điều ông nói, không tuỳ thuộc vào những khả năng trích dẫn từ kinh điển Phật giáo mà là từ hành động của ông và động lực để giảng dạy của ông. 

Ngài Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14 đã nói rằng: “Động lực giảng dạy (của một vị Thầy) phải trong sạch – không bao giờ vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất… Trong thế giới, nếu không có một nhà lãnh đạo chân chính thì chúng ta không thể cải thiện xã hội được. Cũng vậy, trừ phi vị thầy có phẩm chất đúng đắn, thì mặc dù đức tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học vị thầy có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt theo một đường hướng sai lầm. Vì thế, trước khi thực sự coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét họ…” … Nếu như vị đạo sư của bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo đức hay nếu giáo lý của vị ấy mâu thuẫn với Phật Pháp thì hành xữ như thế nào? Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp: “Bạn nên trung thành với điều đạo đức và xa rời những gì không phù hợp với Pháp…” Ở Ấn Độ, một lần kia, một vị thầy có nhiều đệ tử yêu cầu họ đi ra ngoài ăn trộm. Vị thầy thuộc đẳng cấp Bà La Môn và rất nghèo. Ông dạy rằng khi những người Bà la Môn trở nên nghèo khó thì có quyền ăn cắp. Ông nói, là những người được Trời Brahma - đấng sáng tạo của thế giới – yêu quý, đối với một người Bà la môn, việc ăn cắp không xấu xa. Những đệ tử sắp đi ăn cắp thì vị thầy người Bà la môn nhận thấy một đệ tử đứng im lặng cúi đầu xuống. Ông hỏi anh tại sao không đi. Người học trò nói: “Điều thầy dạy chúng con bây giờ trái nghịch với Pháp, vì vậy con không nghĩ rằng con có thể làm được điều đó. “ Lời nói này làm vui lòng người Bà la môn, ông nói: “Ta đã trắc nghiệm các con. Mặc dù các con đều là đệ tử của ta và trung thành với ta, nhưng sự khác biệt giữa các con là sự phán đoán. Ta là thầy của các con, nhưng các con phải xem xét lời chỉ dạy của ta, và bất kỳ lúc nào lời chỉ dạy chống trái với Pháp thì các con chớ nên theo.” …” [Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng, nguyên tác Anh ngữ: The Way To Freedom, Dalai Lama Thứ 14 - Việt dịch: Liên Hoa, Nhà xuất bản Thiện Tri Thức 1999].

Hoàng Liên Tâm 


Chú Thích  
[01] Ngã chấp, Pháp chấp, Không chấp: Chấp thật cái thân thể và sự suy nghĩ của bộ não của ta gọi là Ngã Chấp. Chấp thật vạn sự vạn vật trong vũ trụ pháp giới do ta hiểu biết được cho là Thật Tánh Thật Tướng, gọi là Pháp Chấp. Phá được Ngã Chấp và Pháp Chấp, thấy tất cả đều không, chấp cái không này là thật Không gọi là Không Chấp.

[02] Cần biết thêm về ông Osho, quý độc giả có thể tìm mua đọc Bhagwan: The God That Failed, published by Saint Martin's Press and written by Hugh Milne (Shivamurti), quyển sách này được viết bởi Hugh Milne, một đệ tử thân cận với Osho trong thời kỳ ở Poona và Oregon. Một quyển sách thứ hai cũng nên xem là cuốn: Promise of Paradise: A Woman's Intimate Life With 'Bhagwan' Osho Rajneesh, published by Barrytown/Station Hill Press. Cả hai quyển sách đều không còn, nhưng có thể mua lại sách cũ tại http://www.Amazon.Com and http://www.Amazon.Com.UK 

Sách và Tư Liệu Trích Dẫn: 
[01] Has Any American City Ever Faced Biological Warfare? 
By George Beres http://www.hnn.us/articles/355.html 
Mr. Beres, a graduate of Northwestern's Medill School of Journalism, was sports information director at the University of Oregon. 
[02] Oregon. Town Never Recovered From Scare 
The Associated Press/October 19, 2001 
By Gillian Flaccus 
http://www.rickross.com/reference/rajneesh/rajneesh8.html 
[03] The Story of a Truly Contaminated Election 
Columbia Journalism Review/Jan/Feb 2001 
By Lawrence K. Grossman 
http://www.rickross.com/reference/rajneesh/rajneesh4.html 
[04] Osho: From Sex To Super-Consciousness – ©Osho International Foundation (ấn bản Anh) 
[05] Osho: Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức – ©Osho International Foundation (ấn bản Việt) 
[06] Osho: The Secret of Secrets, Vol 2, Chapter 15 (Available on Audio only) Talks by Titles Subject Index - Audio Talks © Osho International Foundation 1995 
[07] Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Minh Tâm 
[08] Osho: Kinh Kim Cương, Việt dịch: Như Không, ©Osho International Foundation (ấn bản Việt) 
[09] Dalai Latma 14: Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng, nguyên tác Anh ngữ: The Way To Freedom - Việt dịch: Liên Hoa, Nhà xuất bản Thiện Tri Thức 1999 
[10] Osho: "Autobiography of a spiritually incorrect mystic," St. Martin's Press, (2000) Review/order this book 
[11] Osho: "Meditation: The first and last freedom," ST, Martin's Press, (1997). Review/order this book 
[12] Osho: "Courage: The joy of living dangerously," Griffin, (1999). Review/order this book This is one of a new series of books in the series "Insights for a new way of living." 
[13] Osho: The science of meditation is at: http://osho.com 
[14] Friends of Osho has a web site at: http://www.sannyas.net/ They have a list of Sannyasins, [15] Osho information centers, etc. at: http://oz.sannyas.net/friends/ 
[16] Friends of Osho have a biography of Osho at: http://earth.path.net/osho/osho02.htm 
[17] Osho Vision: A lifestyle of meditation and celebration at: http://www.meditate-celebrate.com 
[18] Christopher Calder, "Osho, Bhagwan Rajneesh, and the Lost Truth," at: http://home.att.net/~meditation/Osho.html 
[19] Article in the New York Times, 1998-MAR-11, Page A21. Mentioned in "Food Poisoning and Biological Warfare," 
[20] "Osho Rajneesh," is a particularly beautiful web site, which covers a wide range of topics: http://osho.toptelemedia.com/index1.htm 
[21]Tự điển Phật Học Đạo Uyển:

NGUỒN : (http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-dan/doi-thoai/4177-can-than-khi-xem-sach-hien-tuong-osho.html)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 580)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 803)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 780)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1227)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1112)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1239)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1712)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1761)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1608)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1613)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10455)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17271)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16345)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16809)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1239)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1761)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1764)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2517)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 803)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1112)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1608)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1446)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 579)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1227)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1712)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1613)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 780)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3165)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3120)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3714)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2258)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13970)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30092)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36171)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11664)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13108)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2944)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4180)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4117)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4642)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5180)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8362)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7768)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10686)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.