- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,130,687

Quan Niệm Về Chức Năng Văn Học Trong Lý Luận Văn Học Ở Việt Nam Hiện Nay

22 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 26309)

blankKhái niệm "chức năng văn học" từ lâu đã được xem như là một công cụ hữu hiệu, thậm chí là "kim chỉ nam" cho sự nhận thức văn học, đồng thời là "thước đo" để đánh giá văn học trong các nền văn học xã hội chủ nghĩa trước đây. Nó là một nội dung quan trọng của môn Lý luận văn học, cho nên hầu như không hề xa lạ với bất kỳ ai đã từng nghiên cứu, giảng dạy hay học tập bộ môn Văn học ở Miền Bắc trước năm 1975 và ở cả nước từ năm 1975 đến nay. Bài viết của chúng tôi chỉ xin được đề cập tới quan niệm về "chức năng văn học" trong lý luận văn học ở Miền Bắc trước 1975 và ở cả nước từ sau 1975.

Quan niệm về chức năng văn học trong lý luận văn học ở Miền Bắc trước đây cũng như ở cả nước hiện nay chủ yếu là dựa theo quan niệm về chức năng văn học trong lý luận văn học Xô viết được phát biểu từ những năm 50 của thế kỷ XX, khẳng định văn học về cơ bản có ba chức năng: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ [1]. Lý luận văn học Xô viết thường đề cao vai trò thượng tôn của chức năng giáo dục trong văn học. Trong cuốn Lý luận văn học, một "tài liệu giáo khoa cho sinh viên chuyên ngành ngữ văn các trường đại học Tổng hợp, đại học Sư phạm Liên Xô", được dùng làm tài liệu học tập Lý luận văn học ở Việt Nam từ sau 1975, có viết: "Chức năng giáo dục to lớn của văn học gắn liền với bản chất thẩm mỹ của nó"[2]. Trong các sách giáo khoa về lý luận văn học ở miền Bắc trước 1975, khái niệm chức năng văn học được quan niệm thống nhất rằng: "Văn học nghệ thuật có ba chức năng: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ"[3]. Trong các sách "công cụ" khác về văn học sau năm 1975, nội dung khái niệm này về cơ bản không có gì thay đổi, có chăng, nó chỉ được diễn giải một cách "năng động" hơn. Thông thường, nó được quan niệm như sau: "Chức năng văn học là tác dụngý nghĩa của văn học trong đời sống tinh thần con người, không thể thay thế được bằng các hình thái ý thức xã hội khác trong thượng tầng kiến trúc như triết học, đạo đức, pháp luật, tôn giáo. Văn học có những chức năng chính: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ"[4]. Vai trò quan trọng hàng đầu là thuộc về chức năng giáo dục. Cho đến nay, trong lý luận văn học ở Việt Nam, người ta vẫn quan niệm về chức năng văn học như thế[5].

Nhưng điều đáng quan tâm là, "ba chức năng" đó chẳng những có vai trò to lớn trong lý luận văn học, mà còn có vị trí cực kỳ quan trọng trong lý luận về tất cả các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ ở Việt Nam hiện nay. Vì thế, có người đã xem chúng không chỉ là chức năng của riêng văn học, mà còn là "chức năng chung của văn nghệ"[6]. Thậm chí, chúng có khi còn được xác định là "chức năng chung của văn hoá" khi người ta cho rằng "văn hoá gồm các chức năng sau: Chức năng bao trùm là chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, chức năng thẩm mĩ..."[7]... Như vậy là, dù cho các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ hay văn học có khác nhau đến đâu đi chăng nữa thì chúng vẫn có những chức năng chung, giống nhau một cách tuyệt đối. Điều đó khiến cho chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi: Vậy những sự vật, hiện tượng khác nhau có thể có chung những chức năng giống nhau hay không? Chức năng văn học có phải là "tác dụng" và "ý nghĩa" của văn học hay không? Văn học có "ba chức năng" hay bao nhiêu chức năng? Và thực sự chức năng văn học là gì?

Những câu hỏi trên cũng đã từng được đặt ra trong ngành lý luận văn học của Việt Nam. Từ khi luồng gió Đổi Mới thổi vào đời sống văn học, chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện nhu cầu nhận thức lại nhiều vấn đề của lý luận văn học, như vấn đề "chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa", vấn đề "tính đảng", "tính giai cấp", "tính nhân dân", vấn đề "điển hình hoá"v.v... của văn học, trong đó có cả vấn đề "chức năng văn học". Những vấn đề đó từng bước được nhận thức và lý giải một cách khách quan, khoa học hơn.

Đối với "chức năng văn học", người ta nhận ra rằng, nội dung khái niệm này trong các sách giáo khoa bắt đầu tỏ ra không còn đủ sức bao quát những diễn biến và biểu hiện ngày càng phong phú và phức tạp hơn của thực tiễn sáng tác mới. Vì thế mà người ta bắt đầu nới rộng dần nội hàm của khái niệm "chức năng văn học": "Không bằng lòng với cách nói ba chức năng, người ta đã bổ sung thành bốn, năm, chín, mười, mười bốn, thậm chí đến hai mươi bảy chức năng !"[8]. Trong các sách vở, kể cả những sách vở có tính "quy phạm" như sách giáo khoa trong nhà trường, người ta bắt đầu nói tới vai trò của các chức năng mới như giao tiếp, giải trí, dự báo...[9]

Những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận văn học ở Việt Nam tỏ ra mẫn cảm hơn ai hết về sự hạn chế và tính chất giáo điều của việc khẳng định "ba chức năng văn học" trước thực tiễn sáng tác mới. Người ta thừa nhận một nhu cầu khoa học tất yếu, được quy định bởi tính chất phong phú, nhiều vẻ của sáng tác văn học, là cần nhận thức lại khái niệm "chức năng văn học". Tuy nhiên, sau nhiều luận giải, người ta vẫn phải quay lại với quan điểm cũ, tiếp tục khẳng định rằng, văn học có "ba chức năng chính" như mọi người đã biết, với "các chức năng phụ", "bổ trợ", có thể bổ sung đến vô số[10]...

Trước đây, người ta đã khẳng định vai trò tuyệt đối của "ba chức năng" văn học, thậm chí đã đẩy "mối quan hệ biện chứng giữa ba chức năng" này đến chỗ cực đoan, là hợp nhất ba chức năng thành "một chức năng tổng hợp duy nhất là giáo dục- nhận thức - thẩm mỹ"[11]! Tuy nhiên, nhiều nhà lý luận văn học thấy rõ sự cứng nhắc và bất cập của quan niệm này. Vì thế họ bắt đầu xem xét lại "mối quan hệ biện chứng" giữa ba chức năng đó, cuối cùng, đi tới kết luận rằng, chức năng văn học là một "hệ thống", cụ thể đó "là hệ thống các yếu tố của chức năng", và mặc dù văn học có nhiều chức năng, song chỉ có một chức năng bao trùm, "chức năng đặc thù", "chức năng có tính hệ thống", "bao trùm nhiều chức năng ở cấp độ yếu tố... nằm ở bên trong",(...) "chức năng ở cấp độ hệ thống của văn nghệ chỉ có thể là chức năng thẩm mỹ (...). Nói rõ hơn, chức năng duy nhất ở cấp độ hệ thống của văn nghệ là bồi dưỡng tình đời cho con người biết khao khát, trực tiếp hoặc gián tiếp vươn đến cái đẹp, cái hoàn thiện có thể có được ở từng nơi, từng lúc"[12]. Có nhà lý luận đã thay từ thẩm mỹ vốn được xem như là chưa hàm chứa hết tính bao quát cho chức năng quan trọng nhất của văn học bằng một từ mới là mỹ cảm: "Tóm lại, mỹ cảm là thừa số hoặc mẫu số chung của những chức năng chính (...) (hay) đối với bất kỳ chức năng đích thực nào khác được tiếp tục nêu thêm"[13]. Người ta cho rằng như thế là đã xác định được tính thống nhất và phát triển của các chức năng văn học trong "mối quan hệ biện chứng" của nó, và "từ những mục đích khác nhau" của văn học mà người ta còn có thể xác định được khả năng sinh sôi nhiếu hơn nữa những chức năng văn học mới trong tiến trình văn học!? Và yên tâm cho rằng việc nhận thức lại chức năng của văn học coi "như thế là đã được giải quyết xong"[14]!?

Rõ ràng đây là một bước tiến bộ đáng ghi nhận của các nhà lý luận văn học khi đề cao vai trò quan trọng nhất của chức năng thẩm mĩ, điều mà trước đây thuộc về chức năng giáo dục. Nó có thể có ích đối với người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận văn học cho học sinh trong nhà trường, vì quan điểm này vừa có "tính kế thừa", vừa có "tính phát triển" về chức năng văn học. Nhưng thực chất của những băn khoăn, trăn trở, nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong việc nhận thức lại bản chất của chức năng văn học dường như vẫn thiếu tính thuyết phục, dường như vẫn chưa được "giải quyết xong" như mong muốn của chúng ta.

Bởi vì, thứ nhất, dù khẳng định văn học có một "chức năng đặc thù", có tính khái quát, ở cấp độ "hệ thống", là thẩm mỹ, nhưng đồng thời người ta lại vẫn thừa nhận rằng "cách nêu ba chức năng là có cơ sở và vẫn khái quát nhất, bởi vì hầu như nó bao hàm được, hoặc ít ra cũng liên đới với bất kỳ chức năng nào được nêu thêm"[15], đã tỏ rõ sự phân vân và thiếu dứt khoát trong quan điểm đánh giá. Mặc dù nhà lý luận có phân biệt vai trò của các chức năng văn học "có chính phụ, lớn nhỏ, thường lại và ngẫu nhiên", nhưng nòng cốt của cả hệ thống vẫn là "ba chức năng" cũ. Chỉ có điều, cách nói đã khác đi ít nhiều mà thôi. Vì thế mà có người đã dùng những lập luận "kiểu triết học" để biện luận về vấn đề này, cho rằng "chức năng văn học là một hệ thống", hay "là hệ thống các yếu tố của chức năng". Nhưng như lý giải của nhà lý luận, "hệ thống là một kết cấu bền chặt giữa các yếu tố. Huỷ bỏ một yếu tố cơ bản, sẽ dẫn đến sự huỷ bỏ hệ thống"[16]. Có nghĩa là, nếu đụng chạm tới một yếu tố cơ bản của hệ thống "ba chức năng" thì tức là đụng chạm tới cả hệ thống chức năng ấy. Nói vậy cũng có nghĩa rằng, vai trò của "ba chức năng", xét về bản chất, không hề có gì thay đổi! Bởi vì trước đây người ta cũng đã nêu lên quan niệm như thế, chỉ có cách diễn đạt là hơi khác: "Văn học nghệ thuật có ba chức năng: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ. Về ba chức năng đó, không thể bỏ một cái nào, và không thể coi nhẹ một cái nào. Chúng xâm nhập vào nhau, tác động lẫn nhau, gắn liền nhau một cách hữu cơ, đến nỗi có thể xem như ba mặt của một vấn đề, của một chức năng nhận thức – giáo dục – thẩm mỹ"[17].

Thứ hai, sự thừa nhận chức năng của văn học là một hệ thống, có chính phụ, có cơ bản và không cơ bản, có yếu tố và tổng thể, thường lại và ngẫu nhiên... cùng những "mối quan hệ biện chứng" giữa chúng, thực chất là một cách "vạn toàn" giúp cho nhà lý luận khỏi phải đối mặt với một vấn đề có biểu hiện đang lâm vào bế tắc, khỏi phải bộc lộ công khai lập trường khoa học của mình. Nhưng đó cũng lại chính là chỗ mà người làm lý luận văn học có suy nghĩ nghiêm túc cảm thấy bất an nhất và dễ mâu thuẫn nhất. Bởi vì, trong thâm tâm, chính nhà lý luận văn học cũng phải thừa nhận rằng, "cứ gì văn nghệ mới có chức năng giáo dục và nhận thức. Do đó, dù muốn hay không, cách nêu này vẫn có tác dụng biện hộ cho những tác phẩm non kém, "vì dù sao nó vẫn có ý nghĩa giáo dục và nhận thức", mà lẽ ra phải nói nó là con số không"[18]! Một tác phẩm yếu kém về nghệ thuật, về "mỹ cảm", dù có "giá trị giáo dục và nhận thức" bao nhiêu, "lẽ ra phải nói nó là con số không", là một nhận xét đúng. Nhưng sao lại "lẽ ra", mà không phải là "nhất định"? Có nghĩa rằng điều đáng phải xảy ra đã không xảy ra, bởi vì nếu quả quyết xem nó nhất định là "con số không" thì chẳng những chúng ta sẽ phải "huỷ bỏ một yếu tố cơ bản" của hệ thống, mà còn "sẽ dẫn đến sự huỷ bỏ hệ thống". Và như vậy cũng có nghĩa rằng, "hệ thống chức năng văn học" ấy sẽ bị huỷ bỏ!

Thế nhưng, ta thật ngạc nhiên khi biết rằng, đây lại là cách mà nhà lý luận văn học dùng để bảo vệ hệ thống "ba chức năng văn học", là cách để "ba chức năng văn học" có thể trở nên bất khả xâm phạm!? Cách lập luận này tự bản thân nó cho ta thấy được những mâu thuẫn và bất ổn của quan niệm "ba chức năng văn học" trong lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay.

*

Vậy nguyên nhân của việc không thể vượt thoát ra khỏi cái "vòng kim cô" của "ba chức năng văn học" là do đâu? Có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết đó có thể là do các nhà lý luận văn học đã "nhầm lẫn" khái niệm. Một sự "nhầm lẫn" khái niệm không hẳn là do vô ý, nếu như chúng ta thấy được sự quả đoán của các nhà lý luận văn học khi lặp đi lặp lại lời khẳng định "chắc như đinh đóng cột" rằng: "Chức năng văn học là tác dụngý nghĩa của văn học"[19]. Sự "nhầm lẫn" đó chính là kết quả của quan niệm có phần cực đoan nhưng lại mang tính "tất yếu" của một thời kỳ lịch sử đầy bạo liệt của chiến tranh khi người ta cho rằng văn học chủ yếu là "phương tiện", là "công cụ", hay "vũ khí" để đấu tranh, truyên truyền, giác ngộ cách mạng, để giáo dục và cải tạo con người, để "phục vụ chính trị"[20]… hơn là mang những giá trị tự thân nhiều mặt của nó. Việc xem trọng vai trò "phương tiện tuyên truyền", "công cụ giáo dục", "vũ khí đấu tranh" của văn học đã dẫn đến việc người ta phải xác định chức năng văn học giống như xác định chức năng của một loại "công cụ", "phương tiện", "vũ khí"...cụ thể nào đó. Vì thế mà người ta đã không vô tình biến "chức năng văn học" thành "tác dụngý nghĩa của văn học". Điều này đã được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong các sách lý luận văn học. Đó là hệ quả mang tính tất yếu trong những giai đoạn lịch sử cụ thể của những nền văn học lấy việc giáo dục, tuyên truyền, cải tạo con người và xã hội, và mang nặng trách nhiệm đấu tranh giải phóng con người và xã hội làm mục đích chính, ví dụ như các nền văn học theo "chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa" ở các nước xã hội chủ nghĩa, hay nền văn học của thời kỳ "tập trung, quan liêu, bao cấp", của thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam trước đây.

Chiến tranh không thể là điều bình thường. Quan liêu bao cấp cũng không thể là điều bình thường. Trong những điều kiện sống "bất thường" ấy, người ta cũng phải quan tâm một cách "bất thường" tới "tác dụngý nghĩa" của "vũ khí" văn học, quan tâm "bất thường" đến mức biến chúng thành chức năng của văn học. Vì thế mà đã nảy sinh ra một định nghĩa được nhắc đi nhắc lại dường như bất biến trong các sách công cụ về lý luận văn học như đã nêu: "Chức năng văn học là tác dụngý nghĩa của văn học". Và ngược lại, "tác dụng ý nghĩa của văn học" lại được xem là "chức năng của văn học". Cụ thể ở đây, những tác dụng của văn học như nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, (và sau này là cả những tác dụng khác như dự báo, giải trí, giao tiếp...) đều được các nhà lý luận văn học nhất loạt coi là chức năng của văn học?!.

Điều này có thể hiểu được trong hoàn cảnh của một nền văn học "bất thường", một nền văn học thời chiến, như đã nêu. Để phục vụ những nhiệm vụ cấp thời, trước mắt, văn học sẽ phải ưu tiên tối đa cho những phẩm chất "bất thường" đó (sự ưu tiên này không chỉ thể hiện trong văn học, cố nhiên). Sự ưu tiên này đã diễn ra trong một thời gian quá dài, trong một điều kiện "bao cấp tư duy" học thuật quá nặng nề, đã biến thành một thói quen, một quán tính. Cho nên khi nền văn học đã chuyển từ những điều kiện "bất thường" sang những điều kiện "bình thường", từ văn học thời chiến sang văn học thời bình, thì quan niệm về chức năng văn học đó vẫn theo quán tính, vẫn theo thói quen, hoặc là không kịp thay đổi, hoặc là không có điều kiện thực sự để thay đổi, hoặc cũng có thể vì một lý do nào đó mà người ta không muốn thay đổi theo thực tiễn. Đó có thể xem là một sự lạc hậu của lý luận trước thực tiễn sáng tác mới, hay chí ít là một sự lãnh cảm đến kỳ lạ của lý luận văn học trước đời sống văn học nhiều khi nóng bỏng, nhất là đối với những tác phẩm theo xu hướng "Hậu hiện đại" nảy nở trong văn học Việt Nam từ 1986 đến nay[21]. Đó có thể được xem là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao hiện nay, trong ngành lý luận phê bình văn học ở nước ta, nhiều người vẫn lấy những tiêu chí lý thuyết cũ kỹ, lạc hậu để đánh giá những hiện tượng văn học mới, theo kiểu "gọt chân theo giày", mà kết quả là chẳng những không thể xác định được giá trị của các hiện tượng văn học mới, mà có khi còn làm chúng thui chột, cũng như cản trở những tiêu chí đánh giá mới nhẽ ra cần được thiết lập từ lâu rồi.

Cho đến nay, sau hơn 30 năm kể từ ngày đất nước hoà bình, hay là sau hơn 20 năm kể từ khi đất nước được Đổi Mới, đời sống văn học nước ta đã dần dần trở lại trạng thái "bình thường", nhưng ngành lý luận văn học vẫn nhìn nhận chức năng văn học như trong tình trạng "bất thường" của văn học thời chiến (cả nóng và lạnh) thì đó là điều bất ổn, đó là điều không thể còn là "tất yếu" nữa. Chúng ta vẫn thấy trong lý luận văn học tiếp tục có sự "nhầm lẫn" chức năng văn học với tác dụng ý nghĩa của văn học. Trong nhiều cuốn sách lý luận văn học để dạy cho sinh viên và chỉ hướng cho các nhà văn trẻ hiện nay vẫn còn ghi rất rõ ràng: "Chức năng của văn học là tác dụng và ý nghĩa của văn học".

Và mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh từ đây. Không ai không nhận thấy một sự thực hiển nhiên rằng "xưa nay vốn có nhiều quan niệm về tác dụng của thơ văn"[22]; "cho nên ý nghĩa và tác dụng của văn nghệ lại càng được nhân lên thật nhiều màu, lắm vẻ trong cuộc sống...."[23] v.v.... Nhưng rõ ràng đó lại không phải là sự thực hiển nhiên của chức năng văn học. Bởi vì, văn học có những tác dụng khác nhau như tác dụng nhận thức, tác dụng giáo dục, tác dụng dự báo, tác dụng giải trí, tác dụng giao tiếp... là điều dễ hiểu, là điều hoàn toàn đúng. Nhưng đó không thể là chức năng của văn học. Chức năng của văn học hay chức năng của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất cũng phải là "sự thực hiện chức phận riêng"[24], thể hiện cái phẩm chất duy nhất, chính yếu, bất biến và vĩnh cửu của sự vật, hiện tượng đó trong mọi không gian và thời gian. Còn tác dụng của mọi sự vật, hiện tượng chỉ là những phẩm chất không duy nhất, thứ yếu, thường biến, nhất thời và hữu hạn của sự vật, hiện tượng trong những không gian và thời gian cụ thể. Và nếu cho rằng chức năng của văn học là ý nghĩa của văn học, thì xem ra vấn đề còn bị đẩy xa hơn nữa khi mà sự tham gia của "chủ nghĩa công lợi" có cơ hội chi phối mạnh mẽ hơn việc nhận thức văn học.

Đúng là, "chức năng là tương ứng với bản chất: một sự vật chỉ có thể phát huy chức năng theo bản chất đích thực của nó"[25]. Sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất là ở chỗ chúng có những phẩm chất vốn có, là cái nó có mà cái khác không có, dùng để khu biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác. Mỗi sự vật, hiện tượng chỉ có cái bản chất duy nhất, "bản chất đích thực" dùng để khẳng định mình, trong sự khu biệt đến tận cùng vấn đề, so với sự vật, hiện tượng khác. Cũng vì vậy, mỗi sự vật, hiện tượng chỉ có một chức năng duy nhất, "trời sinh ra thế" được xem là "thiên chức", để phân biệt với chức năng của sự vật, hiện tượng khác. Mọi sự thêm thắt cho bản chất, hay cho chức năng của các sự vật hiện tượng chỉ đi tới chỗ xoá nhoà gianh giới giữa các sự vật, hiện tượng đó mà thôi.

Nhưng một sự vật, hiện tượng có thể có nhiều tác dụng khác nhau, cũng như nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau lại có thể có cùng một tác dụng giống nhau là điều hoàn toàn dễ hiểu. Hãy lấy các ví dụ cụ thể khác ngoài văn học để chứng minh cho luận điểm trên: Cái cuốc: Chỉ có một chức năng duy nhất là cuốc đất để sản xuất, nhưng nó lại có rất nhiều tác dụng khác nhau: dùng làm gậy chống, làm đòn gánh, làm vũ khí tự vệ v.v... Con dao phay: Chỉ có một chức năng duy nhất là chặt, thái, băm...(rau, thịt...), nhưng lại có nhiều tác dụng khác nhau, ví như vũ khí chẳng hạn: "Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay; Cũng chém rớt đầu quan hai nọ" (Nguyễn Đình Chiểu – Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Quyển vở: chỉ có một chức năng duy nhất là dùng để viết chữ, nhưng có nhiều tác dụng như dùng để quạt mát, dùng để che nắng, dùng lót chỗ ngồi v.v... Đồng thời, nhiều sự vật khác nhau như cuốc, thuổng, gậy gộc… mà chức năng của chúng hiển nhiên là riêng biệt, nhưng chúng lại có thể có cùng một tác dụng giống nhau, là làm vũ khí chiến đấu, trong những hoàn cảnh đặc biệt ("Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[26]). Rõ ràng, việc dùng cuốc, thuổng, gậy gộc để làm vũ khí chống xâm lược chỉ là một việc bất đắc dĩ trong một không gian và thời gian cụ thể, chứ không phải là để "phát huy chức năng theo bản chất đích thực" của những vật dụng này.

Người ta có thể tìm thấy vô số ví dụ trên mọi lĩnh vực của đời sống con người để minh hoạ cho điều này. Rõ ràng, lý luận văn học đã "nhầm lẫn" những tác dụng khác nhau của văn học thành các chức năng của văn học. Thử hỏi có bộ môn khoa học nào không có tác dụng nhận thức? Nó đâu phải là của riêng văn học? Thử hỏi bộ môn văn hoá, giáo dục nào không có tác dụng giáo dục, nhất là những môn như giáo dục học, đạo đức học, lịch sử học...? Nó đâu phải là của riêng văn học? Thử hỏi bộ môn nghệ thuật nào không có tác dụng thẩm mỹ, cả âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, vũ đạo... và các loại hình mĩ thuật khác? Nó đâu phải là của riêng văn học? Thử hỏi ngoài văn học ra, có bao nhiêu bộ môn khoa học, văn hoá, nghệ thuật có tác dụng dự báo, giải trí, giao tiếp…? Đó cũng đâu phải của riêng văn học? Quả là, một môn khoa học, văn hoá hay nghệ thuật có nhiều tác dụng khác nhau, cũng như nhiều môn khoa học, văn hoá hay nghệ thuật khác nhau lại có thể có cùng một tác dụng giống nhau là điều hiển nhiên và dễ hiểu. Nhưng chức năng của chúng thì nhất thiết phải khác nhau, nhất thiết phải riêng biệt. Bởi vì nếu như những sự vật, hiện tượng khác nhau đó lại có chung những chức năng giống hệt nhau thì cũng có nghiã rằng "bản chất đích thực" của chúng là hoàn toàn giống nhau, điều không thể có trong thế giới này, dù có xét theo "phương thức chủ biệt" của tư tưởng phương Tây hay "phương thức chủ toàn" của tư tưởng phương Đông[27].

Nguyên nhân của tình trạng "nhầm lẫn" này còn có thể do người ta đã xác định chức năng văn học tách rời khỏi bản chất đích thực của văn học. Trong khi nhà lý luận văn học thừa nhận rằng bản chất đích thực của văn học là hoàn toàn khác các bộ môn khoa học, chính trị, triết học hay tôn giáo..., thì họ lại đi tìm kiếm những sự giống nhau cho chức năng của văn học với chức năng của các bộ môn khoa học, chính trị, triết học hay tôn giáo... đó. Điều "bất thường" này đã được chấp nhận trong những hoàn cảnh "bất thường" của đất nước khi mà người ta phải ưu tiên tối đa cho loại văn học "công cụ", "phương tiện", "vũ khí" chiến đấu hay cải tạo con người và xã hội, như đã nói, là điều dễ hiểu, là điều được xem là "tất yếu". Và chúng ta cũng cần phải hiểu sự "nhầm lẫn" khái niệm "chức năng văn học" như thế là có "tính lịch sử cụ thể" của nó chứ không phải là một sự "nhầm lẫn" có tính "siêu lịch sử"! Vì thế mà trong nhưng hoàn cảnh lịch sử cụ thể có tính "bất thường" đó, quan điểm này đã tạo cơ hội tối đa cho những yếu tố "ngoài văn học" có quyền chi phối mạnh mẽ đời sống văn học, cũng như tạo cơ hội cho không ít những tác phẩm "văn học phải đạo"[28] hay "văn học minh hoạ"[29] được trở thành "văn học đích thực" hay "văn học mẫu mực", và tất nhiên, những tác phẩm văn học "bình thường" lại có thể sẽ bị xem là "bất thường", là "phi lý", lại bị phong toả và loại bỏ trong thời kỳ này là điều dễ hiểu. Trong tình hình "bình thường" của đời sống con người và đời sống văn học hiện nay, điều đó trở nên khó hiểu, thậm chí phi lý[30]. Trong nền văn học Việt Nam hôm nay có thể vẫn cần tới những tác phẩm văn học được xem như là "công cụ phục vụ", "vũ khí chiến đấu", "phương tiện tuyên truyền, giáo dục, cải tạo"..., nhưng chắc chắn sẽ cần ngày càng nhiều hơn những tác phẩm văn học khác nữa đề cập đến muôn mặt đa dạng, phong phú, phức tạp và đầy mâu thuẫn của đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ "kinh tế thị trường", thời kỳ Việt Nam gia nhập vào WTO, hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá, vào một "thế giới phẳng"[31] của sự phát triển mang tính tất yếu lịch sử, qua đó phản ánh muôn mặt đời sống tâm hồn cũng đa dạng, phong phú, phức tạp và đầy mâu thuẫn của con người Việt Nam. Văn học Việt Nam hiện nay đang tồn tại và phát triển như bản thân cuộc sống, nằm ngoài ý muốn chủ quan của chúng ta! Nó không còn mang tính "nhất thể", "nhất dạng" như trong "giai đoạn văn học minh hoạ" trước đây.

*

Với tư cách là một sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất, văn học có chức năng của nó, đó là "sự thực hiện chức phận riêng" mà "trời phú" cho nó, như một "thiên chức". Để xác định chức năng của văn học trong điều kiện "bình thường" hiện nay, nhiều người đã đặt ra yêu cầu "bình thường hoá" chức năng văn học bằng cách gắn kết nó với bản chất đích thực của văn học, được thể hiện ra ở quan niệm: Văn học là nghệ thuật ngôn từ (có người gọi là "trò diễn ngôn từ") nhằm phản ánh (hay diễn tả, bộc lộ) tâm trạng, thái độ, tình cảm (thế giới tâm hồn) của con người trước cuộc sống. Nói "văn học là nghệ thuật ngôn từ", một mặt, để phân biệt nó với các loại văn bản ngôn từ không phải là nghệ thuật như: triết học, chính trị - kinh tế học, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, địa lý... Không phải cách tổ chức ngôn từ nào cũng thành văn học, mà phải là cách tổ chức "nghệ thuật" đối với ngôn từ. Nó chính là "thi luật", "văn luật", "thi pháp" của văn học. Mặt khác, nó xác định tính "đồng loại hình" về nghệ thuật của văn học với các bộ môn nghệ thuật khác như âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc... bởi vì chúng cùng là "nghệ thuật". Không phải cách tổ chức màu sắc nào cũng thành hội hoạ, không phải cách tổ chức âm thanh nào cũng thành âm nhạc, không phải cách tổ chức ngôn ngữ nào cũng thành văn học. Chúng phải được tổ chức một cách "nghệ thuật". Đồng thời, nó cũng giúp cho việc khu biệt văn học với chính các bộ môn nghệ thuật khác ở chỗ chất liệu nghệ thuật của chúng là khác nhau và cách tổ chức các chất liệu nghệ thuật đó cũng khác nhau khi diễn tả thế giới tâm hồn con người.

Người ta cũng chỉ ra nguyên nhân của tình trạng "nhầm lẫn" này là do quan niệm máy móc về nguyên lý "phản ánh" của văn học nói riêng, của nghệ thuật nói chung. Lâu nay chúng ta đã quá quen với yêu cầu "văn học phản ánh hiện thực khách quan", thậm chí có khi người ta còn yêu cầu văn học phải phản ánh "trung thành" hiện thực khách quan. Yêu cầu này được xuất hiện trong hầu hết các sách lý luận văn học từ trước đến nay. Hiện thực khách quan nhiều khi được xem là thước đo quan trọng nhất để đánh giá tác phẩm nghệ thuật[32]. Đây là một quan niệm "gần đúng" về phản ánh nghệ thuật. Gần đúng không có nghĩa là đúng. Bởi vì, để phản ánh hiện thực khách quan, không chỉ có văn học, mà còn là bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống tinh thần con người như: toán, lý, hoá, sử, địa, triết, chính trị v.v.... Thậm chí, so với các bộ môn trên thì văn học phản ánh hiện thực khách quan có phần thua kém. Văn học khác các bộ môn đó là ở chỗ, nó không phản ánh trung thànhtrực tiếp, mà nó phản ánh một cách nghệ thuật (có người gọi là "bịa đặt", có người gọi là "hư cấu"), tức là phản ánh gián tiếp cái hiện thực khách quan đó. Hiện thực khách quan muốn vào được tác phẩm văn học thì phải thẩm thấu qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Văn học phản ánh hiện thực khách quan thông qua sự xúc động và tưởng tượng, thông qua sự thẩm định, đánh giá chủ quan của con người. Vì thế hiện thực đó không còn "khách quan" nữa, mà thành "chủ quan" rồi. Thực ra hiện thực khách quan chỉ cái đối tượng tồn tại bên ngoài, còn đối tượng phản ánh của văn học là cái khách quan đã bị chủ quan hoá, chịu sự đánh giá, phán xét chủ quan của nhà văn. Mục đích của phản ánh nghệ thuật trong văn học là sự phán xét, là thái độ, là tâm trạng, tình cảm của nhà văn đối với hiện thực khách quan chứ không phải bản thân hiện thực khách quan. Đó là những trạng thái đa dạng, phong phú và phức tạp những hỉ, nộ, ái, ố, dục của thế giới tâm hồn con người mà nhà văn thể hiện và gửi gắm trong tác phẩm. Tác phẩm văn học không nhằm phản ánh trung thành hiện thực khách quan, vì như vậy nó sẽ thua xa các bộ môn như báo chí, lịch sử, chính trị - kinh tế học... Mỗi thời đại lịch sử có những trình độ tư duy nghệ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, thị hiếu riêng, vì vậy, thái độ thẩm mĩ, tình cảm, tâm trạng của con người trước cuộc sống ở mỗi thời đại là khác nhau. Ngay trong cùng một thời đại, mỗi nhà văn khác nhau lại có trình độ tư duy nghệ thuật, năng lực nghệ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, thị hiếu, thái độ thẩm mĩ riêng, vì vậy, thế giới tâm hồn họ và khả năng thể hiện thế giới tâm hồn của họ cũng không giống nhau, dù cho họ có cùng đứng trước một "hiện thực khách quan". Và tương ứng với nó là những tư tưởng nghệ thuật khác nhau và các cách thức tổ chức nghệ thuật ngôn từ khác nhau của từng nhà văn, phù hợp với những tư tưởng nghệ thuật ấy. Cho nên, trước cùng một "hiện thực khách quan" đã đẻ ra vô số các giá trị khác nhau về "Chân – Thiện – Mỹ" ở các nhà văn khác nhau. Hiện thực khách quan chỉ có một, nhưng sự "phản ánh" về nó trong nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng là muôn một. Tư duy nghệ thuật tạo nên những tác phẩm chỉ của một người. Văn học nghệ thuật luôn hướng tới sự cá biệt, cá thể, vì nó là sản phẩm của tâm hồn con người. Không thể có hai tâm hồn giống hệt nhau trên thế gian này, và cũng không thể có hai cách thể hiện tâm hồn giống hệt nhau trong văn học nghệ thuật.

Tuy nhiên, hiện nay lý luận văn học Việt Nam vẫn đang sử dụng rất rộng rãi quan niệm "đa chức năng văn học" đầy bất cập nêu trên. Dường như giới nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trong nước có phần dè dặt khi đặt vấn đề xác định lại và quan niệm lại khái niệm chức năng văn học. Có lẽ người ta cảm thấy vấn đề này không phải chỉ mang tính học thuật thuần tuý mà còn mang tính "nhạy cảm" và "tế nhị", nên tốt nhất là tránh xa nó, hoặc để yên nó. Bởi vì quan niệm "đa chức năng văn học" trong lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được xây dựng dựa trên các "yếu tố ngoài văn học", thì việc khai thác các "yếu tố ngoài văn học" để bảo vệ, bênh vực nó là điều không khó hình dung. Và khi đó, vấn đề sẽ không còn thuần tuý học thuật nữa.

Nhưng trước yêu cầu đổi mới tư duy lý luận cho phù hợp với thực tiễn, người ta bắt đầu nói tới việc cần thiết phải có những quan niệm mới, chí ít là một giả thiết khoa học, một phương pháp suy nghĩ có tính khách quan, khoa học hơn. Nhiều phát biểu bắt đầu đòi hỏi cần phải thay đổi từ quan niệm "đa chức năng văn học" sang quan niệm "đơn chức năng văn học" để xác định "bản chất đích thực của văn học". Việc xác định đúng chức năng của văn học sẽ góp phần quan trọng để phân biệt văn học đích thực với những biểu hiện "gần văn học" hay các yếu tố "ngoài văn học", với "văn học minh hoạ" hay "văn học phải đạo", cũng như góp phần đánh giá được khách quan giá trị của các tác phẩm văn học cũng như sự vận động của lịch sử văn học. Người ta cho rằng nếu như văn học là nghệ thuật ngôn từ nhằm phô diễn đời sống tâm hồn của con người trước cuộc sống, thì văn học phải có một chức năng riêng biệt, không bộ môn khoa học hay nghệ thuật hay văn hoá nào khác có được. Đó chính là lý do tồn tại của văn học. Cái chức năng đó phải bộc lộ hết những khả năng và phẩm chất tiềm tàng, "trời phú" cho nó, để thực hiện cái chức phận riêng như một "thiên chức", không gì thay thế, trong khi vẫn có thể cùng với các bộ môn khoa học, nghệ thuật khác phát huy những "tác dụng" giống nhau, hay cùng tham gia vào quá trình nhận thức và lý giải thế giới và con người, nhưng theo cách riêng của mình. Cũng giống như không có vật dụng nào có chức năng cuốc đất như cái cuốc, dù cho có khi người ta phải dùng gươm xới đất như Mai An Tiêm trong cổ tích; không có vật dụng nào có chức năng quạt mát bằng cái quạt, dù cho đôi khi người ta phải dùng đến nón, mũ, sách, vở để thay thế... Đó chính là bản chất, và cũng là "thiên chức" của các vật dụng này.

Văn học là nghệ thuật bằng ngôn từ phản ánh tâm hồn con người, nó đã đi ra từ tâm hồn con người, thì cái đích đi đến của nó không thể là cái gì khác hơn ngoài tâm hồn con người. Vì thế, phải chăng chức phận riêng của văn học chính là nuôi dưỡng đời sống tâm hồn con người bằng nghệ thuật ngôn từ? Điều đó cũng giống như chức phận riêng của hội hoạ là nuôi dưỡng đời sống tâm hồn con người bằng nghệ thuật màu sắc, chức phận riêng của âm nhạc là nuôi dưỡng đời sống tâm hồn con người bằng nghệ thuật âm thanh…? Có văn học, nghệ thuật, tâm hồn con người sẽ phong phú hơn, nhân tính hơn, còn không có văn học, nghệ thuật, tâm hồn con người sẽ nghèo nàn đi, khô cằn đi. Vì thế mà người ta thường gọi văn học nghệ thuật là món ăn tinh thần nuôi dưỡng tư tưởng, tình cảm, tâm hồn con người, làm cho phần "người" của con người nhiều hơn lên và phần "con" thì ít đi. Nếu thiếu nó, thể xác con người không chết, nhưng tâm hồn con người sẽ khô héo, cằn cỗi, tàn lụi. Trên thực tế, nhiều khi trong đời sống vật chất có thể có được những mùa màng bội thu, nhưng trong đời sống văn học nghệ thuật lại xảy ra hiện tượng "mất mùa". Đấy cũng là một thứ tai hoạ. Sự thiếu đói của tâm hồn, của tinh thần có khi còn đáng sợ hơn là sự thiếu đói của thể xác. Điều này càng cho thấy rõ chức năng nuôi dưỡng đời sống tâm hồn con người của văn học nghệ thuật, càng cho thấy rõ địa vị và giá trị cao quý của văn học nghệ thuật trong đời sống nhân loại. Bằng nghệ thuật ngôn từ, văn học đã đem đến (hay đánh thức) những hỉ, nộ, ái, ố, dục vốn được xem là sự sống, là sức sống của tâm hồn con người. Nó hoàn toàn khác với những tác dụng tuy thật to lớn nhưng không phải chỉ có văn học mới làm được như nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, dự báo, giải trí, giao tiếp... mà văn học trong khi thực hiện thiên chức của mình vẫn không một phút lơ là.

Nhà văn trong từng thời đại sáng tác văn học là để thể hiện tâm hồn của mình, hay nói cách khác, là để thể hiện thái độ thẩm mĩ của mình đối với hiện thực thời đại đó bằng những hình thức nghệ thuật của thời đại đó. Chúng ta đến với văn học là đến với những thế giới tâm hồn ấy, đến với những thái độ thẩm mĩ ấy, đến với những hỉ, nộ, ái, ố, dục ấy của nhà văn trước cuộc sống trong những hình thức nghệ thuật cụ thể của thời đại ấy. Văn học, vì vậy đã giúp cho tâm hồn con người có khả năng đồng điệu với những hỉ, nộ, ái, ố, dục ấy. Chúng ta thưởng thức, tìm hiểu văn học, chính là đi khám phá những nỗi buồn vui sướng khổ yêu ghét của nhà văn, những thái độtâm trạng không ai giống ai, không đời nào giống đời nào, đang ẩn tàng trong những hình thức nghệ thuật không giống nhau, mà mỗi chúng ta phải trang bị cho mình cái "chìa khoá vàng" (ở đây là những "mã" nghệ thuật) mới có thể mở ra được những cánh cửa tâm hồn đó, mục đích là làm phong phú tâm hồn chúng ta, của thời đại chúng ta.

Có thể có sự giống nhau nào đó giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác, và tất yếu cũng có thể thấy sự giống nhau nào đó giữa chức năng của văn học với chức năng của các loại hình nghệ thuật khác, nhưng chỉ trong lĩnh vực nghệ thuật mà thôi. Bởi vì, chúng cùng là nghệ thuật, chúng cùng là sản phẩm của tâm hồn con người, và chúng cùng có cái thiên chức cao quý là nuôi dưỡng tâm hồn con người. Vì thế mà tất cả những người sáng tạo ra nghệ thuật đều được gọi là nghệ sĩ. Nhưng chức năng của văn học lại khác chức năng của các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ, do chất liệu nghệ thuậtcách tổ chức chất liệu nghệ thuật của văn học (ngôn từ, thi luật, văn luật...) hoàn toàn khác với các nghệ thuật khác, nên nó thực hiện cái "thiên chức" của mình theo một cách riêng. Cái cách riêng này có liên quan trực tiếp tới quá trình "mã hoá" và "giải mã" nghệ thuật. Tức là, cái cách thức để thể hiện tâm hồn con người cũng như cái cách thức để đi đến tâm hồn con người, để nuôi dưỡng tâm hồn con người của văn học là khác với các loại hình nghệ thuật khác.

*

Văn học là một lĩnh vực nghệ thuật đặc thù không giống với bất kỳ lĩnh vực nào khác ngoài văn học. Có thể trong những thời đoạn lịch sử cụ thể, văn học Việt Nam đã mang những phẩm chất "bất thường", "đặc biệt", bị uỷ trị bởi những yếu tố "ngoài văn học". Nhưng trong trường kỳ lịch sử, văn học luôn mang cái phẩm chất và thiên chức của riêng mình mà không bộ môn nào có được. Văn học Việt Nam hôm nay không nên chỉ được nhìn nhận với tư cách là "phương tiện", "công cụ", "vũ khí" nhằm "phục vụ chính trị" và "cải tạo con người", mà còn cần được nhìn nhận trên nhiều giá trị tự thân khác nữa. Vậy thì có lẽ đã đến lúc chúng ta cũng cần cởi bỏ cái áo "tác dụngý nghĩa của văn học" mà chúng ta đã khoác lên mình "chức năng văn học" trong những thời kỳ "bất thường" của cuộc sống, để "chức năng văn học" được trở lại với chính nó. Văn học Việt Nam khó có thể bước vào Đổi Mới, Mở Cửa và Hội Nhập với thế giới chỉ bằng những quan niệm dù được xem là hợp lý và tất yếu của thời kỳ chiến tranh, hay của những hoàn cảnh sống "bất thường" trước đây... Chúng ta còn cần rất nhiều nỗ lực hơn nữa để chỉ ra đâu là cái chức năng đích thực của văn học, hay cái chức năng đích thực của văn học bao hàm những gì. Nhưng dù sao, đó khó có thể là ba (hay nhiều) chức năng chung cho mọi ngành văn học, văn hoá, nghệ thuật như quan niệm trong lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay. Đó nhất định phải là "sự thực hiện chức phận riêng" của văn học. Và dù muốn hay không, thì văn học vẫn đã và đang đi trên con đường của nó, đã và đang thực hiện thiên chức của nó mà ý chí chủ quan của chúng ta chỉ có thể thúc đẩy hay cản trở phần nào tốc độ của nó mà thôi[33].

NGUYỄN PHẠM HÙNG

Đại học Quốc gia Hà Nội

 

Chú thích:

[1] Xem L.I. Timofiev: Nguyên lý lý luận văn học. Hai tập, Nxb Văn hoá, H. 1962 (Theo bản tiếng Nga của Nxb Giáo khoa Quốc gia, Cộng hoà Liên bang Nga, Moskva 1959). Đây là cuốn sách chi phối các quan điểm "chính thống" về lý luận văn học ở miền Bắc trước 1975 và trên cả nước từ 1975 đến nay.

[2] Xem N.A. Gulaiev: Lý luận văn học. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1982 (Theo bản tiếng Nga của Nxb Khoa học, Moskva 1977. Giáo trình môn Lý luận văn học cho ngành Ngữ văn trong các trường đại học của Liên Xô trước đây). Đây cũng là một cuốn sách có ảnh hưởng nhất định trong ngành lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay.

[3] Tủ sách Đại học Sư phạm: Cơ sở lý luận văn học. Phần Đối tượng và chức năng của văn học nghệ thuật. Nxb Giáo dục, H. 1969, tr. 29. Đây là cuốn giáo trình môn Lý luận văn học cho ngành Ngữ văn trong các trường đại học và cao đẳng ở Miền Bắc Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ trước. Các cuốn giáo trình Lý luận văn học sau đó và hiện nay đều tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm này về chức năng văn học. Gần đây nhất là cuốn Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, H. 2006. Trong sách này, chương VIII, Chức năng của văn nghệ, các tác giả giới thiệu bốn chức năng của văn nghệ là chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ chức năng giao tiếp (từ trang 167 đến trang 183).

[4] Từ điển văn học. T.I, NXB Khoa học Xã hội, H. 1984, tr. 151. Quan điểm này là sự tiếp tục quan điểm của các cuốn giáo trình Lý luận văn học nêu trên.

[5] Từ điển văn học (Bộ mới). Nxb Thế giới, H. 2004, tiếp tục quan điểm trên: "Chức năng văn học: Thuật ngữ chỉ mục đích, tác dụng, ý nghĩa của sáng tác văn học trong đời sống tinh thần con người, vai trò của nó trong xã hội (...).Vì có thể từ nhiều góc độ, nhiều bình diện khác nhau để xét mục đích, tác dụng và ý nghĩa của văn học (...) người ta nói đến tính đa chức năng của văn học (...). Văn học có những chức năng chính: nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giao tiếp, giải trí…" (tr. 307 - 309).

[6] Phương Lựu: Biện chứng giữa hệ thống với yếu tố trong chức năng của văn nghệ. Báo Văn nghệ, số 34 – 1988; in lại trong Trên đà đổi mới văn hoá văn nghệ. Viện Văn hoá và Sở Văn hoá Thông tin Quảng Ngãi xuất bản, 1994, tr. 53 – 58. Trong bài viết này, Phương tiên sinh đặt mục tiêu nghiên cứu "chức năng chung của văn nghệ" hay "chức năng của văn nghệ" (văn nghệ với ý nghĩa là mọi loại hình văn học, nghệ thuật), tức là những chức năng chung của mọi loại hình văn nghệ khác nhau, trong đó có văn học. Phương tiên sinh đã đồng nhất tuyệt đối chức năng của văn học với chức năng của tất cả các loại hình văn nghệ khác, khẳng định tất cả các loại hình văn học nghệ thuật đều có những "chức năng chung" (mà nòng cốt là "ba chức năng") giống nhau. Hơn nữa, Phương tiên sinh cho rằng văn học có thể "thay mặt" tất cả các loại hình văn nghệ khác trong việc bộc lộ "chức năng chung của văn nghệ". Cho nên trong bài viết này, các lệ chứng mà Phương tiên sinh dùng để biện minh cho chức năng chung của văn nghệ, rất tiếc, lại hoàn toàn chỉ là văn học, tuyệt nhiên không có bất kỳ một lệ chứng nào về âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc hay điêu khắc... Quan điểm này cũng được trình bày tại chương VIII, với tên gọi Chức năng của văn nghệ, trong cuốn Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, in năm 2006, đã nêu trên. Nhưng việc dành cả một chương để giới thiệu "Chức năng của văn nghệ", chứ không phải của văn học, trong một cuốn sách lý luận văn học tự nó đã nói lên điều này.

[7] Các tác giả giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội (NXB Giáo dục, H. 1998, tr. 100 - 104) có cùng quan điểm với các tác giả giáo trình Văn hoá xã hội chủ nghĩa (NXB Chính trị quốc gia, in lần 2, H. 1995) của khoa Văn hoá Xã hội chủ nghĩa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, khi cho rằng (nguyên văn đoạn trích): "văn hoá gồm các chức năng sau:

- Chức năng bao trùm là chức năng giáo dục

- Chức năng nhận thức

- Chức năng thẩm mĩ

- Chức năng giải trí"

Như vậy là, "ba chức năng" chẳng những được xem là "chức năng chung của văn nghệ" (phải chăng là của tất cả các loại hình văn học và nghệ thuật khác nhau?), mà còn được xem là "chức năng chung của văn hoá" (phải chăng là của tất cả các loại hình và lĩnh vực văn hoá khác nhau, cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể?). Nếu như vậy thì rõ ràng quan điểm này đã xoá nhoà gianh giới giữa các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, văn hoá khác nhau, đã đồng nhất "bản chất đích thực" của các lĩnh vực hoàn toàn khác nhau này. Và dù muốn dù không, nó đã tạo điều kiện cho việc đánh giá văn học bằng các yếu tố ngoài văn học, hay chí ít là bằng các yếu tố "gần văn học". Điều đó cũng sẽ phải xảy ra tương tự đối với các lĩnh vực khác của văn hoá, văn nghệ.

[8], [9], [10] Biện chứng giữa hệ thống với yếu tố trong chức năng của văn nghệ. Bđd.

(Nhớ lại năm 1982, tại Viện Văn học, sau khi nghe một vị Giáo sư Viện sĩ, Trưởng Ban Lý luận văn học thuộc Viện Văn học Hunggari thuyết trình về "13 chức năng văn học" trong lý luận văn học của Hunggari, cố thi sĩ Hoàng Trung Thông, Viện trưởng Viện Văn học lúc đó đã thủng thẳng nói vui với chúng tôi, đại ý: Việc phải chú ý tới từng ấy chức năng văn học đủ làm cho người sáng tác cụt hứng trước khi viết ra được một câu thơ. Người làm thơ chỉ quan tâm có một điều là phải viết được thật hay, thật mới cái nỗi niềm của mình, hết!)

[11], [12], [13], [14], [15], [16] Biện chứng giữa hệ thống với yếu tố trong chức năng của văn nghệ. Bđd. Trong bài này, Phương tiên sinh chẳng những thay thế chức năng của văn học bằng các tác dụng và ý nghĩa của văn học, mà còn đưa ra một quan niệm khá lạ về chức năng văn học ("chưa hề có ai nói như vậy kể cả ở nước ngoài", như lời Phương tiên sinh) khi cho rằng chức năng văn học "như một vòng tròn bên ngoài" của các yếu tố chức năng bên trong, "là hệ thống các yếu tố của chức năng", trong đó các "yếu tố chức năng" có vai trò chính phụ, lớn bé khác nhau, chúng có quan hệ "biện chứng" với nhau và với chính cái "hệ thống" ấy?! Cách giải thích đầy tinh thần triết học này là một nỗ lực của Phương tiên sinh nhằm đổi mới lý lẽ chứ không phải lý luận, để bảo vệ địa vị thượng tôn của "ba chức năng văn học", cũng như bổ sung thêm các chức năng mới cho văn học, nhưng có lẽ nó đã không đem đến kết quả như Phương tiên sinh mong muốn. Bài viết tuy không đưa ra được quan niệm mới về chức năng văn học, nhưng về mặt khách quan nó có tác dụng chỉ ra sự bế tắc của quan niệm về "ba chức năng văn học". Trong không khí rất trầm lắng của ngành lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay thì đây là những cố gắng rất đáng ghi nhận. Tán thành quan điểm cho rằng "chức năng ở cấp độ hệ thống của văn nghệ chỉ có thể là chức năng thẩm m࿹" nêu trên, tác giả mục từ Chức năng văn học trong Từ điển văn học (Bộ mới) viết: "Có thể nói, chức năng thẩm mĩ là chức năng hệ thống, xuyên suốt các chức năng, trong khi các chức năng khác là chức năng yếu tố, giữ vai trò tuỳ thuộc" (Sđd, tr. 309). Có một điều rất thú vị là việc thay thế vị trí thượng tôn của "chức năng giáo dục" bằng "chức năng thẩm mĩ" vô tình đã đẩy các nhà lý luận văn học hiện nay ít nhiều tới gần với quan điểm của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam ở những năm 40 của thế kỷ trước vốn từng bị những nhà phê bình Marxist phê bình là mang nặng tư tưởng của "chủ nghĩa duy mĩ" và "nghệ thuật vị nghệ thuật"!

[17] Tủ sách Đại học Sư phạm: Cơ sở lý luận văn học. Sđd, tr. 29.

[18] Biện chứng giữa hệ thống với yếu tố trong chức năng của văn nghệ. Bđd

[19] Từ điển văn học. T.I, NXB Khoa học xã hội, H. 1984, tr. 151.

[20] Trong các văn kiện chính trị, các chỉ thị, các phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước về văn học nghệ thuật trước đây đều nhất quán cho rằng văn học là công cụ, là vũ khí, là phương tiện nhằm phục vụ chính trị, giáo dục, cải tạo con người và xã hội. Xin trích một số ý kiến của Tố Hữu, một trong những nhà lãnh đạo văn nghệ chủ chốt trước đây, trong cuốn Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta (Nxb Văn học, H. 1978) về vấn đề này: "Nhiệm vụ cao quý của văn nghệ là giúp sức cải tạo xã hội, cải tạo con người" (tr. 107); "Cần nhận rõ nhiệm vụ của văn nghệ phục vụ cho những chính sách của Đảng và chính phủ..." (tr. 120); "Đối với chúng ta ngày nay phải coi nó [văn học] là một thứ vũ khí vô sản chuyên chính, vũ khí cách mạng..." (tr. 224); "Văn học là một thứ vũ khí tế nhị và tổng hợp. Đó là một công cụ giáo dục..." (tr. 225); "Văn học nghệ thuật của ta là văn học nghệ thuật cách mạng, là văn học nghệ thuật cải tạo và xây dựng đời sống, cải tạo và xây dựng tư tưởng..." (tr. 476)... Quan điểm này được quán triệt trong tất cả các giáo trình giảng dạy về lý luận văn học ở các trường đại học cũng như trong các cuốn sách công cụ về lý luận văn học khác. Đây được xem là những "trói buộc" cần thiết đối với nền văn nghệ trong thời chiến. Nhưng sau khi đất nước được trở lại hoà bình, trong không khí Đổi Mới, năm 1986, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã đặt ra yêu cầu "cởi trói cho văn nghệ". Khi văn học đã được "cởi trói" thì chức năng của văn học cũng cần được "cởi trói" theo.

[21] Xem thêm "Cụm bài về văn học Hậu hiện đại" trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, 2007 của Viện Văn học, đề cập tới một số hiện tượng văn học "Hậu hiện đại" ở Việt Nam từ 1986 đến nay. Đó là những tác phẩm văn học thể hiện tinh thần "không hài lòng với hiện trạng, không khuất phục trước quyền uy và chuyên chế, không tán thưởng những chế độ có sẵn, không bắt chước những cái đã trở thành thường quy", "làm méo mó lịch sử một cách có ý thức phản tỉnh", hay "khuynh hướng phản sử thi" của những "câu chuyện về một thế giới vô nghĩa, vô hồn"... (trích các ý kiến nói về bản chất của văn học Hậu hiện đại Việt Nam trong cụm bài trên).

[22], [23] Biện chứng giữa hệ thống với yếu tố trong chức năng của văn nghệ. Bđd.

[24] Khái niệm "chức năng" được hiểu là "sự thực hiện chức phận riêng" (Từ điển tiếng Việt phổ thông A – C, Uỷ ban Khoa học xã hội chủ trì biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, H. 1975).

[25] Biện chứng giữa hệ thống với yếu tố trong chức năng của văn nghệ. Bđd. Tuy nhiên, trong bài viết này, cái được coi là "tương ứng với bản chất đích thực" của văn học, tức là chức năng văn học, lại được Phương tiên sinh xác định là cái không duy nhất, có khi thứ yếu, thường biến, nhất thời và hữu hạn, nên nó được biểu hiện ra khi thì là "ba chức năng", khi thì là "năm chức năng", khi thì là "mười bốn chức năng", "hai mươi bảy chức năng" và có khi là "vô số chức năng"?! Còn tác giả mục từ Chức năng văn học trong Từ điển văn học (Bộ mới, sđd) lại cho rằng người ta có thể "từ những mục đích khác nhau mà nhận ra những chức năng khác nữa của văn học" như "chức năng văn hoá, chức năng sáng tạo"(tr. 309). Tuy nhiên, ai cũng thấy đó khó có thể chỉ là chức năng riêng của văn học.

[26]. Hồ Chí Minh: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. In trong Hồ Chí Minh tuyển tập, Tập I, Nxb Sự thật, H. 1980, tr. 403.

[27] Xem Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Phần thứ nhất: Chủ toàn và chủ biệt, hai ngã rẽ trong triết học Đông Tây (sách do Nguyễn Huệ Chi soạn, chú, giới thiệu), Nxb Văn học, H. 1995.

[28] Chữ dùng của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, trong bài Hiện thực phải đạo, 1979. Xem thông tin thêm trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (http://vi.wikipedia.org).

[29] Chữ dùng của nhà văn Nguyễn Minh Châu, trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa, báo Văn nghệ số 49 – 50, ngày 5/12/1987.

[30] Điều này đã từng xảy ra không chỉ đối với các tác phẩm văn học của các nhà văn "không cách mạng", những nhà văn của "phía bên kia", hay những nhà văn chỉ đơn thuần là sống trong "vùng tạm chiếm", mà thậm chí còn xảy ra đối với cả những tác phẩm của của một số nhà văn "cách mạng" như các tiểu thuyết Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan, Vào đời của Hà Minh Tuân, Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương, hay bài thơ Vòng trắng của Phạm Tiến Duật... Nhưng hiện nay các tác phẩm này, và nhiều tác phẩm được xem là "có vấn đề" khác từng bị cấm đoán trước đây, lại đang được xuất bản và phổ biến công khai.

[31] Thomas L. Friedman: The World is Flat. Abrief history of the twenty – first century (Thế giới phẳng – Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI). Sách được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt bởi sự hỗ trợ về tài chính của Phòng Thông tin – Văn hoá, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP. Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2006.

[32] Quan điểm này chi phối rất mạnh ngành nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở nước ta. Tư tưởng đề cao chủ nghĩa hiện thực, đặc biệt là vấn đề phản ánh trung thành hiện thực khách quan trong văn học đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu tìm kiếm một cách vô vọng chủ nghĩa hiện thực từ trong văn học cổ đại, trung đại, ít nhiều đã làm biến dạng và xoá nhoà gianh giới của chủ nghĩa hiện thực vốn là một sản phẩm có tính lịch sử (Xem: I. X. Branghinski: Sơ kết cuộc thảo luận về sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học các nước phương Đông, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10 & 12, năm 1960; Lê Đình Kỵ: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học xã hội, H. 1970; Đỗ Đức Dục: Suy nghĩ về vấn đề sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam, Tạp chí văn học, số 4, năm 1971; Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện thực chủ nghĩa Việt Nam, Tạp chí văn học, số 2, năm 1986...). Thậm chí nó khiến cho một số nhà nghiên cứu, phê bình hiện nay đã đồng nhất nhân vật lịch sử với nhân vật tiểu thuyết trong một số tác phẩm lấy đề tài từ lịch sử, khi họ phê phán nhà tiểu thuyết đã "bôi nhọ lịch sử", "xuyên tạc lịch sử"....

[33] Bài viết đối thoại với quan điểm "đa chức năng văn học" hay "chức năng chung của văn hoá, văn nghệ" trong lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, nếu như xem đây là một vấn đề thuần tuý học thuật thì khi bàn về nó buộc lòng chúng ta phải từ bỏ sự nệ thuộc máy móc vào "những bộ đồng phục", vào "niềm tin theo chức trách" của những "viên chức văn nghệ", hay của những người mắc phải "hội chứng tiền thuỳ" (chữ dùng của F.M. Dostoievski), cũng như thái độ của những phần tử "nửa trí thức" (chữ dùng của D.X. Likhatsev trong Thư gửi Ban biên tập, tạp chí Thế Giới Mới, số 2, 1993 [Д. С. Лихачёв, Письмо в редакцию, «Новый мир», 1993, №2, стр. 3–9], dẫn theo dịch chú của La Thành).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Năm 20181:14 CH(Xem: 3174)
Hạnh phúc biết bao cho một người không có quá khứ, hay một dân tộc không có lịch sử—nhiều người quan niệm như thế. Nhưng con người, mỗi người trong chúng ta, đều có quá khứ, vui, buồn hay vui buồn trộn lẫn. Một dân tộc luôn luôn có lịch sử, vinh quang, tủi buồn, hay vinh nhục đủ mùi vị. Quá khứ luôn luôn là tấm gương cho mỗi người tự sửa mình, rút cho mình một kinh nghiệm sống, chuẩn bị cải thiện tương lai. Lịch sử một quốc gia, nếu được ghi chép trung thực, là kho tàng kinh nghiệm cho việc ích quốc, lợi dân, và phát huy tình nhân loại cho một thế giới đáng sống hơn.
28 Tháng Tư 20181:03 SA(Xem: 2175)
Từ ngày 7/3, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày. Thật khó ngỡ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người—có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa—bị sụp đổ hoàn toàn. Cảnh tượng “bỏ của chạy lấy người” suốt tháng 3/1975 của các đơn vị Nam quân khiến đó đây vang lên những lời chỉ trích nặng nề như “hèn nhát,” “tồi dở” v.. v... Sự thảm bại ấy, thực ra, chỉ là đoạn kết bi phẫn ngắn ngủi khó tránh của một cuộc chiến kéo dài đã hơn 30 năm. Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên.
01 Tháng Tư 20184:43 CH(Xem: 1996)
Buổi tối ngày 2/1/1946, tại một biệt thự ở Neuilly, ngoại ô Paris, Tướng Charles de Gaulle đã cảm khái nói với con rể tương lai như sau: "Nước Pháp thật thiếu may mắn!" [Vraiement, la France n'a pas de chance!]" (1) 1. L'Institut Charles de Gaulle, Le général de Gaulle et l'Indochine, 1940-1946 (Paris: Plon, 1982) pp 180, 182, 200. [Sẽ dẫn: De Gaulle et l’Indochine, 1982]. Lời than thở trên đã được thốt ra vì một món quà năm mới mà Thủ tướng Lâm Thời Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp chẳng hề trông đợi: Tám ngày trước, 26/12/1945, một tai nạn phi cơ giữa lòng rừng già Phi Châu đã phá hỏng kế hoạch bí mật mà De Gaulle và giới thân cận trù liệu từ nhiều tháng—Tiểu đoàn trưởng (Thiếu tá) Vĩnh San, lá bài chính của kế hoạch trên, có mặt trong số hành khách xấu số của chiếc phi cơ lâm nạn. (2)
15 Tháng Hai 20183:06 SA(Xem: 4880)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop = political agitation and propaganda]. Chuyến qua Pháp từ ngày 30/5 tới 16/9/1946, Côn đóng vai một quốc trưởng, hy vọng thuyết phục thế giới về chính nghĩa độc lập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976). Chuyến đi này thất bại, vì Linh mục/Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu và nhóm Gaullist chỉ coi Hồ như lãnh tụ một Đảng, và lãnh thổ Việt Nam không quá vĩ tuyến 16, trừ thêm các khu tự trị cho sắc tộc ở thượng du Bắc Việt cùng vùng rừng núi phía tây Trung Kỳ.
09 Tháng Mười Hai 201711:43 CH(Xem: 2815)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9/3/1945, khi Nhật đột ngột chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương trong vòng 48 giờ, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Trong giai đoạn này, hai chính phủ Việt Nam “độc lập” ra đời, chấm dứt tám thập niên Pháp đô hộ, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa tất cả các cấu trúc xã hội
28 Tháng Tám 201712:46 SA(Xem: 5263)
Dưới thời Nhật chiếm đóng (1940-1945), tại các tỉnh miền Tây, một giáo phái đang thành hình và lực lượng ngày một mạnh. Từ sau năm 1947, giáo phái này thường được biết như Phật Giáo Hòa Hảo, hay ngắn gọn hơn, Hòa Hảo. Hòa Hảo thực ra chỉ là tên ngôi làng mà người khai đạo, Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) đã mở mắt chào đời. Đại cương, Hòa Hảo dựa trên một số nguyên tắc và phương pháp tu luyện đại chúng của Phật giáo tại gia.
11 Tháng Bảy 201711:56 CH(Xem: 5588)
Vua thứ 13 và cuối cùng của nhà Nguyễn—Nguyễn Phước Điện (8/1/1926-25/8/1945)—được biết nhiều hơn với niên hiệu Bảo Đại. Chữ "Bảo" [ThCh 25] bên trái có chữ "Nhân," bên phải phía trên có chữ "khẩu," dưới có chữ "mộc," nghĩa là "giữ gìn, bảo vệ;" "Đại" [ThCh 121] là to lớn—"Bảo Đại," như thế, hàm ý "bảo vệ sự vĩ đại, to lớn [của cơ nghiệp nhà Nguyễn]." Mặc dù Nguyễn Phước Điện chỉ duy trì được vương quốc thêm gần 20 năm, và thực thể chính trị Quốc Gia Việt Nam [QGVN] hơn sáu năm nữa, các đối thủ từng sử dụng những thuật ngữ bất nhã—như "mannequin doré" [hình nhân giát vàng](1), hay bù nhìn [puppet, quisling, scarecrow, straw dummy](2)—nhưng vua là một trong những vua lý tưởng, nếu không phải duy nhất, chế độ Bảo hộ Pháp có thể đào tạo suốt hơn 60 năm chiếm đóng Đại Nam (1884-1945).
12 Tháng Tư 201711:55 CH(Xem: 6502)
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 là một đề tài còn gây nhiều xúc động và tranh cãi. Tuy nhiên, tới nay vẫn chưa có nghiên cứu sử đích thực nào về đề tài này. Một trong những lý do là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố chưa được hoàn toàn giải mật. Đa số tác giả đều đứng về phe này hay phe kia, xếp đặt và diễn giải các dữ kiện vốn bị giới hạn và thiếu sót theo sự yêu ghét hay khuynh hướng chính trị, tôn giáo của họ. Tác nhân lịch sử bị đặt lên những chiếc giường của tên tướng cướp, thừa chặt bớt, ngắn kéo dài ra cho vừa khuôn thước thành kiến tiên thiên của mình. Không ít người còn bịa đặt ra những chi tiết không thực để bẻ cong lịch sử.
26 Tháng Hai 201711:42 CH(Xem: 5592)
Ngày 23/4/1925, Toàn Quyền Merlin về nước. Maurice Monguillot, Thống sứ Bắc Kỳ (từ 27/2/1921 tới 5/7/1924), lại được XLTV Toàn Quyền [tới 18 /11/1925], dù tháng 7/1925, Tổng trưởng Thuộc Địa Léon Perrier đã cử Dân biểu Alexandre Varenne (1870-1947)—một lãnh tụ Xã Hội của Đệ Nhị Quốc Tế nổi danh—sang Đông Dương để thực hiện những đổi thay cần thiết giữa thời không mệnh danh là “tăng trưởng kinh tế.”
30 Tháng Giêng 20172:02 SA(Xem: 5753)
Nguyễn Phước Tuấn, vua thứ tư tắm gội thiên mệnh Đại Pháp—cũng vua thứ mười hai nhà Nguyễn—là nhân vật “bị bỏ quên” trong thời Nguyễn mạt. Hầu hết các tác giả chỉ vắn tắt nêu lên bốn đặc điểm của Nguyễn Phước Tuấn: hợp tác chân thành với Pháp, (1) thích dùng chữ Hán trong các Dụ hay diễn văn,(2) bị Phó Bảng Phan Chu Trinh công kích qua Thất điều thư ngày 15/7/1922,(3) và nghi án về phụ hệ với Thái tử Vĩnh Thụy, tức vua Nguyễn Phước Điện (8/1/1926-25/8/1945), thường chỉ được biết đến qua niên hiệu Bảo Đại.