- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Câu chuyện văn học, Nhà văn một-tác-phẩm: Margaret Mitchell và Harper Lee

11 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 112268)

Trong văn học sử Hoa Kỳ có hai hiện tượng nổi bật với nhiều điểm giống nhau, đó là nữ văn sĩ Margaret Michell với cuốn Gone With The Wind (1936) và nữ văn sĩ Harper Lee với cuốn To Kill A Mockingbird (1960). Cả hai cuốn tiểu thuyết cùng có bối cảnh là miền Nam Hoa Kỳ, cùng khai thác đề tài xung đột chủng tộc (da trắng và da đen), cùng bán được mỗi cuốn trên 30 triệu ấn bản (tính tới năm 2008). Cả hai tác phẩm lại cùng được giải Pulitzer danh giá, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và dựng thành phim rất thành công, chiếm được nhiều giải Oscar.

Song, có lẽ đặc biệt hơn, là sự kiện cả hai nữ văn sĩ này cùng chỉ có một tác phẩm duy nhất, mặc dù nhà xuất bản thúc hối, giới truyền thông trông chờ và độc giả khắp nơi khao khát đọc họ thêm. Đặc biệt ở trường hợp GWTW, độc giả muốn biết cái gì sẽ xẩy ra cho hai nhân vật Scarlett O’Hara và Rhett Butler -- liệu họ có trở lại với nhau sau khi Rhett tuyên bố một câu bất hủ, “My dear, I don’t give a damn”, rồi bỏ ra đi mặc Scarlett nước mắt đầm đìa, thề sẽ tìm mọi cách lấy lại tình yêu mà Rhett đã dành cho nàng bấy lâu nhưng nàng mải đeo đuổi người khác? Sự khao khát đó đã đưa đến hai sequels với sự cho phép của cơ sở trách nhiệm tác quyền Mitchell, đó là Scarlett (1991, do Alexandra Ripley viết), và Rhett Butler’s People (2007, do Donald McCaig viết). Đấy là chưa kể cuốn The Wind Done Gone của Alice Randall viết từ nhãn quan của một người nô lệ tại đồn điền Tara của gia đình Scarlett, do Houghton Mifflin xuất bàn năm 2001, sau khi nhà xuất bản này giàn xếp xong vụ kiện do công ty Mitchell khởi tố.

Trong khi đó, để trả lời cho yêu cầu của những người hâm mộ, tác giả To Kill a Mockingbird chỉ có sự im lặng đáp lại.

Tại sao sau sự thành công lẫy lừng đó cả hai nhà văn cùng không sản xuất thêm được tác phẩm nào khác? Ngay cả như trong trường hợp Harper Lee, có người cho rằng có lẽ chính bà không phải là người đã thực sự viết Mockingbird, mà là Truman Capote, tác giả In Cold Blood, là người bạn từ thuở thơ ấu với bà, mà bà vẫn làm thinh. Cũng có thể đấy là một khiêu khích để bà tái xuất giang hồ cho ra đời tác phẩm kế tiếp như một biện minh hoặc lên tiếng cải chính, vì bà nổi tiếng là ẩn nhân từ giữa thập niên 1960, không nhận cho bất cứ ai phỏng vấn mình nữa, từ đó tạo nêm một không khí huyền bí vây quanh bà.

Margaret Mitchell và Gone With the Wind

Margaret Mitchell sinh ngày 8 tháng 11, 1900 tại Atlanta, Georgia, trong một gia đình khá giả, cha là luật sư Eugene Muse Mitchell, và mẹ, một phụ nữ có học vấn tên May Belle Stephens và là một nhà tranh đấu cho quyền phụ nữ đầu phiếu (phụ nữ Mỹ được quyền bỏ phiếu vào năm 1920 sau nhiều tranh đấu cam go). Margaret còn có hai người em trai, nhưng một đã chết lúc còn nhỏ. Margaret ra đời đúng 35 năm sau khi cuộc Nội Chiến Nam Bắc (1861-1865) chấm dứt. Bà bị lôi cuốn bởi cuộc chiến này và những gì xẩy sau đó cho miền Nam Hoa Kỳ do hồi nhỏ đi thăm họ hàng nghe họ kể chuyện về những hoài niệm còn sống động của những người đã tham gia hoặc sống qua cuộc chiến cũng như hậu cuộc chiến đó. “Những chiều chủ nhật theo gia đình đi thăm bà con họ hàng thuộc thế hệ trước,” bà kể, “tôi thường ngồi trên những đầu gối gầy guộc của các cựu chiến binh [Confederate] và những cái lòng mập mạp trơn trượt của các bà cô nghe họ kể chuyện” về các trận đánh cùng những phấn đấu đề sống còn sau khi miền Nam bị bại trận. Những câu chuyện này đã để lại trong bà nhiều ấn tượng sâu đậm.

Lớn lên bà thích nghề báo, nhưng phải bỏ dở học vấn sau có một năm đại học vì mẹ chết, bà phải về để phụ trông coi việc gia đình với cha. Bà viết ký sự cho tờ The Atlanta Journal Sunday Magazine, rồi được nhận vô làm phóng viên mặc dù không có kinh nghiệm về báo chí. Trong thời gian này, bà nghiên cứu về cuộc Nội Chiến với một đam mê đặc biệt, và bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết từ năm 1926 trong thời kỳ dưỡng thương sau một tai nạn xe cộ. Cuốn tiểu thuyết mà sau này trở thành Gone With the Wind, vẽ lại bức tranh xã hội của Miền Nam ngay trước và sau cuộc Nội Chiến, với những dữ kiện lịch sử rất chính xác. Harold Latham của nhà xuất bản Macmillan khám phá ra bản thảo này qua một người bạn của Margaret, nhân một dịp đến Atlanta tìm tài năng mới và một cuốn truyện có thể trở thành bestseller.

 margaretmitchell-collage-content

Margaret Mitchell (1900-1949): Tại bàn làm việc trước cái máy chữ Remington bà dùng để viết Gone With The Wind, chụp năm 1936, trái, và với cuốn tiểu thuyết đã đưa bà lên tột đỉnh danh vọng mà nhà văn nào cũng ao ước có được, chụp năm 1948. (Ảnh Google/Image)

Nếu không nhờ tài kể chuyện, cách cấu tạo nhân vật rất chi tiết, sống động, lối hành văn lưu loát phong phú và các dữ kiện lịch sử chính xác, bên cạnh chủ đề có tính cách hoàn vũ (universal) -- về quyết tâm sống còn của nhân vật bất kể nghịch cảnh -- có lẽ cuốn GWTW đã, tôi nghĩ, không lôi cuốn được người đọc được như vậy vì người kể chuyện có cái nhãn quan hoàn toàn nghiêng về một phía, phía của những người kỳ thị chủng tộc, không chấp nhận chính sách của chính phủ liên bang bãi bỏ chế độ nô lệ, và không quên được thời hoàng kim trưởng giả của họ với những đồn điền cò bay thẳng cánh và đoàn nô lệ đông đảo sống dưới quyền sinh sát của các chủ nhân. Tôi đọc đâu đó là ít người Mỹ da đen đã đọc GWTW, coi đó là một cuốn truyện nặng mầu sắc kỳ thị chủng tộc.

Cũng như Haper Lee sau này với sự thành công của cuốn To Kill a Mockingbird, Margaret Mitchell không tin là cuốn tiểu thuyết có thể thành công vượt bực như vậy. Chưa đầy một năm mà nhà xuất bản Macmillan đã bán được trên 1.3 triệu ấn bản GWTW. Rồi giải thưởng danh giá Pulitzer, tiếp theo là việc Hollywood dựng thành phim với tài tử Clark Gable danh tiếng bên cạnh một Vivien Leigh đẹp sắc sảo tuy mới góp mặt với điện ảnh song đã hoàn toàn chinh phục khán giả với tài năng làm Scarlett sống động như thật. Cuốn sách đã được dịch ra trên 30 thứ tiếng, bán khoảng 30 triệu ấn bản. Tại Việt Nam, bản dịch GWTW ra đời vào năm 1951, tái bản tới lần thứ 12 và bán cả thẩy 100,000 ấn bản, một kỷ lục ở Việt Nam. Riêng tại Nga, chỉ mãi tới sau khi chế độ cộng sản Liên Sô xụp đổ vào năm 2001 dân Nga mới được đọc GWTW bằng tiếng Nga.

Ngân phiếu cho tiền tác quyền bay về như bướm bướm, cùng với thư của những người hâm mộ tác giả, đòi bà viết thêm một sequel cho GWTW, bên cạnh những chuyến đi để quảng cáo, tiệc tùng, cho cả sách lẫn phim, những cuộc phỏng vấn liên tu bất tận, khiến có lúc Margaret phải chạy trốn khỏi Atlanta, mặc chồng là John Marsh ở nhà đối phó. Phần lớn thời giờ còn lại Margaret dùng vào việc viết thư trả lời độc giả và tâm sự về sự thành công bất ngờ và ảnh hưởng trên bà và gia đình.

Có lúc Margaret không khỏi ngạc nhiên tại sao người ta lại thích GWTW, “[M]ặc dù chiều dài lê thê và đầy các chi tiết, [cuốn tiểu thuyết] thực ra chỉ là chuyện kể về những người rất đơn giản,” bà viết thư tâm sự với một người bạn, được tác giả Anne Edwards ghi lại trong cuốn tiều sử rất sống động, Road to Tara: The Life of Margaret Mitchell (1983). “Không có văn chương văn chiếc gì hết trơn trong đó, không cả những tư tưởng lớn, không có một ý nghĩa tiềm ẩn nào, không biểu tượng, không có gì là giật gân hết – không có gì hết, không có gì cả như những cái đã làm những cuốn sách bán chạy nhất trở thành best sellers. Vậy thì làm sao giải thích được sự lôi cuốn của nó đối với người từ 5 tuổi tới 90 tuổi đây? Tôi không thể hiểu được.”

Mười ba năm sau khi GWTW đưa bà lên tuyệt đỉnh của danh vọng và tiền bạc, Margaret bị tử nạn trong một tai nạn xe cộ vào ngày 11 tháng 8, 1949, để lại cho đời nhiều luyến tiếc. Song trên một khía cạnh nào đó, bà không còn phải đối diện với sự mong chờ của những người hâm mộ bà về một tác phẩm kế. Như Harper Lee đã, có lẽ, khắc khoải tới mấy thập niên sau khi To Kill a Mockingbird chào đời và cất cánh bay bổng lên chín tầng mây…

Harper Lee và To Kill A Mockingbird

Khác với Margaret Mitchell, sau thành công vượt bực của To Kill a Mockingbird, Harper Lee đã dự thảo trước sau hai dự án tiểư thuyết, với một cuốn đã viết được tới nửa và một cuốn đang được sưu tầm, đã có tựa, đó là The Reverend, để rồi cuối cùng bà bỏ cuộc, và rút vào im lặng, sống đời ẩn nhân.

Sinh ngày 28 tháng 4, 1926 và lớn lên tại Monroeville, một tỉnh nhỏ ở tiểu bang Alabama, bà tên thực là Nelle Harper Lee (bà bỏ chữ Nelle, phát âm như “Nail”, vì không thích người ta đọc chại ra Nellie). Nelle xuất thân từ một gia đình cha là luật sư Amasa Coleman Lee, một thời làm dân biểu tiểu bang và chủ một tờ báo địa phương, và là một nhân sĩ được kính trọng trong tỉnh. Ông Lee có một dạo biện hộ cho hai người da đen, cả hai bị kết án và treo cổ sau đó, nên ông bỏ nghề biện hộ để xoay ra chuyên về luật ngân hàng. Mẹ bà, Frances, không có bao nhiêu ảnh hưởng đối với con cái vì bà bị bệnh tâm thần, hầu như không tự tay chăm sóc và giáo dục các con. Là con út trong một gia đình bốn anh em, Nelle có bà chị lớn, Alice, cũng làm luật sư và là người về sau này quản lý sổ sách và công việc giao tế cho bà sau khi Mockingbird ra đời và trở thành một hiện tượng văn học.

Nelle cũng theo học luật, nhưng bỏ dở chừng. Bà bỏ đi New York vào năm 23 tuổi để vừa đi làm vừa viết văn. Một phần cũng vì người bạn thời thơ ấu của bà là Truman Capote, đang sống đời văn sĩ tại đó sau khi có một đôi cuốn sách xuất bản và tạo được một tên tuổi, khuyến khích bà lên New York, cái nôi của văn học nghệ thuật thời đó. Cả hai khi còn nhỏ thường hay đàn đúm với nhau viết truyện trên một cái máy chữ cũ ông Lee mua cho con gái. Nelle, với bản chất con trai (tomboy), cao và khoẻ, thường còn là người bao bọc cho Truman vì ông tính như con gái, thấp bé yếu ớt, thường bị tụi trẻ bắt nạt. Thời còn ở đại học Nelle cũng đã cộng tác với tờ báo của trường, và càng lúc càng thấy không muốn làm gì khác ngoài viết văn. Cha bà rất buồn trước quyết định bỏ học luật của con gái, nhưng không cản bà đi New York, nghĩ rằng bà trước sau rồi sẽ tỉnh ngộ và về lại với gia đình để giúp ông thực hiện giấc mộng có một văn phòng luật dưới bảng hiệu “A.C. Lee & Daughters”.

Nelle đi làm nghề bán vé máy bay cho hai hãng hàng không đề sinh sống, cũng chỉ đủ trả tiền thuê nhà và mua đồ ăn khiêm tốn. Song ngược lại bà làm quen với một số bạn, trong đó có nhà viết lời cho nhạc kịch Broadway tên Michael Brown và vợ là Joy, và trở nên thân thiết với gia đình này. Bà cũng hoàn tất được một số truyện và vừa tìm được người đại diện (literary agent) để giúp giao dịch với các nhà xuất bản. Giáng sinh năm 1956, sau sáu năm ở New York, Nelle nhận được một món quà đặc biệt của vợ chồng Brown nhân dịp ông vừa nhận được tiền bản quyền của một bộ nhạc kịch: đó là một món tiền trị giá lương một năm của Nelle, với một ghi chú ngắn: “Cô có một năm không phải đi làm để viết bất cứ gì cô thích. Merry Christmas.”

Nelle bỏ việc, ngồi nhà viết văn. Trong vòng một năm, trong sự cô độc và niềm nhớ nhà và khung cảnh thân thuộc của quê nhà ở miền Nam nước Mỹ, bà viết xong bản thảo đầu cuốn sách về sau này được đặt tựa là To Kill a Mockingbird, mang nhiều chi tiết rút ra từ đời sống ở Monroeville. Nelle sau đó trải qua hơn một năm làm việc với chủ bút Tay Hohoff của nhà xuất bản J.B. Lippincott & Co., viết tới viết lui, sắp xếp lại thứ tự các chương, thay chỗ này cắt chỗ kia thêm chỗ nọ. Trong thời gian làm việc này, có lúc Nelle khổ sở chán nản tới độ một bữa trời đang tuyết, bà mở tung cửa sổ và tung hê đống bản thảo trong tuyết, rồi bốc điện thoại gọi bà chủ bút tuyên bố bỏ cuộc. Bà Hohoff bình tĩnh bảo bà mặc đồ ấm vào rồi xuống đường lượm những tờ bản thảo đó lên. Và Nelle đã làm như bà dặn, vừa nhặt các trang giấy sũng tuyết vừa khóc.

Nelle cuối cùng hoàn tất cuốn tiểu thuyết đầu tay vào mùa hè năm 1959. Cũng vào cuối năm đó, Truman cần Nelle tháp tùng giúp ông thu thập chất liệu cho một loạt phóng sự cho tạp chí The New Yorker về vụ án mạng toàn gia đình bốn người của nông gia giầu có Herbert Clutter ở tỉnh lẻ Holcomb, Kansas. Chính nhờ sự giúp đỡ đắc lực và rất hữu hiệu này của Nelle mà Truman đã cuối cùng có nhiều hơn là đủ chất liệu để thực hiện cuốn tiểu thuyết phóng sự nổi tiếng In Cold Blood (1966).

Xuất bản vào ngày 11 tháng 7, 1960, To Kill a Mockingbird trong chỉ một sớm một chiều trở thành bestseller, được trao giải Pulitzer Prize for Fiction năm 1961, được dịch ra trên 40 thứ tiếng và trước sau bán ra trên 30 triệu ấn bản. Mockingbird được dựng thành phim vào năm 1962 do Robert Mulligan đạo diễn, với tài tử danh tiếng Gregory Peck thủ vai chính, luật sư Atticus Finch, và đã được nhiều giải thưởng Oscar. Năm 1999, Library Journal, qua một cuộc thăm dò ý kiến, bầu Mockingbird  là “Best Novel of the Century”, qua mặt cả Gone with the Wind.

harperlee-collage-content 

Harper Lee (1926-): Trái, Harper Lee, lúc 34 tuổi, và tác phẩm To Kill A Mockingbird, xuất bản năm 1960 (Ảnh Google/Image). Phải, với Tổng thống Georges W. Bush tại tòa Bạch Ốc năm 2007, khi bà, ở tuổi 81, được trao giải Presidential Medal of Freedom nhờ ảnh hưởng sâu xa của cuốn To Kill A Mockingbird đối với phong trào tranh đấu cho quyền công dân tại Mỹ vào thập niên 1960 và sau đó. Mockingbird hiện được giảng dậy tại phần lớn các trường trung học công lập tại Mỹ. (Ảnh Wikipedia Commons)

To Kill a Mockingbird đặt bối cảnh tại một tỉnh nhỏ miền Nam có tên là Maycomb, Alabama, trong thời kỳ Khủng hoảng Kinh tế vào đầu thập niên 1930. Câu chuyện được một nhân vật nữ kể lại về thời thơ ấu của mình qua cô bé Scout, với người anh, Jem, và cha, Atticus Finch, luật sư và là một người đàn ông goá vợ ở vậy nuôi các con. Câu chuyện bắt đầu lúc cô bé Scout chưa bắt đầu năm học đầu tiên và kéo dài ba năm. Cô đeo theo người anh và một cậu bé hàng xóm tên Dill, mỗi hè về ở với người cô ở Maycomb, cả ba chơi những trò chơi đơn sơ của trẻ con. Một trong những trò chơi đó là rình rập một căn nhà bí ẩn trong xóm, nơi trú ngụ của một người mà ai cũng né tránh coi thường, tên là Boo Radley. Ba đứa trẻ quyết tìm xem Boo mặt mũi thế nào. Dần dà bộ bốn dần trở nên bạn.

Trong khi đó trong tỉnh xẩy ra vụ một người da đen, Tom Robinson, bị cáo buộc là đã hãm hiếp một phụ nữ da trắng, Maybelle Ewell, con gái của một nông dân da trắng có tật say sưa và hung bạo, hay đánh đập la mắng cô. Lũ nhỏ không để ý tới chuyện này cho tới khi Atticus được cử biện hộ cho Tom. Khi Atticus ngồi án ngữ trước nhà ngục vào một đêm khuya để ngăn không cho đám người quá khích vào lôi Tom ra để hành quyết (lynching), cả ba đứa trẻ chạy tới góp mặt. Scout nhận ra trong đám người hung hãn ấy có một nông dân mà Atticus đã giúp đỡ trong một vụ pháp lý nhưng không có tiền trả và Atticus đã đồng ý nhận những gói hạnh nhân lâu lâu ông ta mang lại thay cho tiền, và ông này lại là cha của một cậu bé mà chính Scout đã nhẩy vào can thiệp khi cậu ta bị các bạn uy hiếp. Cô bé gợi chuyện với người đàn ông đó, khiến ông ta bối rối, hết còn hung hăng, và đám đông cũng dịu theo, rồi họ theo nhau giải tán. Mặc dù bị Atticus cấm không được theo dõi vụ án, nhưng Jem, Scout và Dill vẫn lén lên ban công nơi dành riêng cho người da đen mở xuống phòng xử dành riêng cho người da trắng bên dưới, để theo dõi vụ xử án. Vụ án diễn ra cho thấy công lý bị thành kiến và óc kỳ thị lấn át. Mặc dù Atticus đã đưa ra những lý luận hợp lý hợp tình, Tom vẫn bị một bồi thẩm đoàn toàn da trắng kết án. Khi đi theo Tom bị dẫn giải ra khỏi phòng xử, Atticus nói với theo Tom là ông sẽ kháng án, trước ánh mắt oán hận và tuyệt vọng của Tom. Biết trước sau gì cũng chết, Tom vượt ngục, nhưng bị bắn chết.

To Kill a Mockingbird ra đời đúng lúc phong trào đòi quyền công dân của người da đen lên cao vào thập niên 1960, bị các chính quyền địa phương ở miền Nam đối phó bằng bạo động, mặc dù phong trào được chính phủ liên bang công nhận và hỗ trợ. Độc giả da đen thấy họ phản ảnh trong Mockingbird. Độc giả da trắng vẫn hỗ trợ phong trào dù thầm lặng nhìn thấy nơi luật sư Atticus Finch hình ảnh của họ. Giới trẻ trong khi theo dõi bộ ba Scout-Jem-Dill và chia sẻ những tràng cười với các nhân vật trước các trò chơi trẻ con ngây thơ, để rồi bị cuốn hút vào chuyện người lớn lúc nào không hay, như Scout, Jem và Dill. Có lẽ đó là một trong những lý do Mockingbird được đón nhận nồng nhiệt vì đã ra đời đúng lúc, mặc dù tác giả của nó không hề có dự tính đó.

Cũng như Margaret Mitchell, sự thành công bất ngờ của Mockingbird đã làm Nelle đi từ ngạc nhiên, tới choáng ngợp – choáng ngợp vì danh vọng chợt đến trong khi bà, vốn bản chất khiêm tốn và riêng tư, không hề chuẩn bị tinh thần vì vốn không tin là cuốn truyện về đời sống tại một tỉnh lẻ và những mảnh đời bình thường lại có thể trở thành ăn khách như thế.

“Tôi không hề mong đợi bất cứ một thành công nào với Mockingbird. Tôi đã hy vọng sẽ lãnh một cái chết nhanh chóng và nhân từ từ tay các nhà phê bình song đồng thời tôi cũng hy vọng ai đó sẽ thích [cuốn sách] vừa đủ để khuyến khích tôi,” Nelle trả lời cuộc phỏng vấn vào năm 1964 với Roy Newtquist, cuộc phỏng vấn cuối cùng mà sau đó bà đã từ chối không trả lời bất cứ câu hỏi gì liên quan tới Mockingbird nữa. “Tôi chỉ hy vọng một chút thôi, như tôi đã nói, song tôi đã nhận được quá nhiều, và trên một khía cạnh nào đó, điều này cũng hãi hùng như cái chết nhanh chóng và nhân từ mà tôi đã chờ đợi vậy.”

Ngay sau khi Mockingbird trở thành một hiện tượng văn học, nhà xuất bản Lippincott đã bắt đầu hỏi bà cuốn sách kế tới đâu rồi vì không muốn bị mất cái đà mà Mockingbird đem lại. Phần bận rộn với việc quảng cáo cho cả sách lẫn phim suốt ba năm sau khi cuốn sách ra đời, phần khác có thể là do thận trọng vì biết từ đây tác phẩm nào dưới tên Harper Lee cũng sẽ không tránh khỏi bị đo bằng cái thước Mockingbird, Nelle lần lữa, khất lần. Một, hai, rồi ba năm trôi qua.

Và kể từ sau cuộc phỏng vấn dài với Roy Newtquist vào năm 1964, thì bà rút vào im lặng, mặc thiên hạ đoán già đoán non lý do tại sao bà ngưng hẳn sáng tác, kể cả không lên tiếng khi có người nêu lên giả thuyết là có thể Truman Capote là người giúp bà viết Mockingbird. Bà không lên tiếng cải chính, mà Truman thì lấp lửng trong chuyện này. Là một người có tính kiêu ngạo và khoe khoang, Truman vẫn cay với người bạn từ ấu thời ở chỗ mặc dù cũng là một bestseller, nhưng In Cold Blood đã không nhận được những danh dự như của Mockingbird, nhất là đã không được giải Pulitzer danh giá. Tình bạn của họ do đấy cũng bị sứt mẻ dần, cộng thêm với những tuyên bố này khác của Truman về lý do tại sao Nelle không sáng tác được nữa. Và hai người bạn từ thuở ấu thời đã từng giúp đỡ nương tựa lẫn nhau trên bước đương văn học hầu như không gặp nhau nhiều năm trước khi Truman qua đời vì rượu chè và bệnh hoạn, vào năm 1984.

Theo Charles J. Shields, tác giả cuốn tiểu sử Mockingbird – A Portrait of Harper Lee (2006) (kết quả của một cuộc sưu tầm khá công phu với 600 cuộc phỏng vấn những người quen biết Nelle trừ… Nelle, vì bà từ chối lời xin phép phỏng vấn của ông) thì vào giữa thập niên 1980, Nelle cũng bắt đầu sưu tập tài liệu cho một dự án tiểu thuyết thuộc loại như In Cold Blood. Cuốn sách, tựa là The Reverend, dự định khai thác một vụ án có thật liên quan đến một mục sư bị kết án giết năm người trong đó có vợ ông để lĩnh tiền bảo hiểm nhân thọ, và lần cuối cùng thì viên luật sư vẫn biện hộ cho ông từ chối không biện hộ cho ông ta nữa vì nghi có điều mờ ám. Song ông lại nhận biện hộ cho người đàn ông (thân nhân của một trong những nạn nhân của ông mục sư) đã bắn chết ông mục sư này ngay trong nhà thờ trước 300 nhân chứng vì bấy lâu ông ta tin chính ông mục sư giết người thân của ông ta. Shields đã viết về dự án sách không thành này dựa vào cuộc phỏng vấn với chính viên luật sư trong cuộc, Tom Radney, là người đã đưa tòan bộ hồ sơ vụ án cho Nelle.

Thỉnh thoảng, đó đây, tác giả Mockingbird hé lộ cho biết tại sao bà ngưng sáng tác. Câu trả lời mà tôi thích nhất, đó là khi một người em họ hỏi bà khi nào thì bà sẽ cho xuất bản cuốn sách kế, và bà đã trả lời: “Richard, khi cậu đã lên tới tột đỉnh thì chỉ còn có một con đường cho cậu đi thôi.” (“Richard, when you’re at the top, there’s only one way to go.”)

Ngưng không sáng tác nữa là một việc Nelle chắc đã phải phấn đấu không ngừng để tự hoà giải đồng thời tìm sự an bình cần thiết cho tâm hồn. Bởi vì bà rất yêu viết văn. Trong buổi phỏng vấn năm 1964 với Roy Newtquist, bà tâm sự: “Tôi thích viết. Đôi khi tôi sợ là tôi thích nó quá đi vì khi tôi bắt đầu tôi không muốn ngừng. Do đấy mà tôi có thể viết ngày này qua ngày khác không ra khỏi nhà hay nơi nào đó mà tôi đang ngồi viết. Tôi sẽ chỉ ra khỏi nhà vừa đủ thời giờ mua giấy và ít đồ ăn và chỉ có vậy. Cũng lạ, thay vì ghét viết [như nhiều văn sĩ một khi trở thành chuyên nghiệp] tôi lại yêu nó quá sức.”

Harper Lee hiện sống với người chị, Alice, một luật sư ngoài 90 tuổi song vẫn còn sáng suốt và quản trị việc sổ sách giấy tờ cho em gái, mỗi khi bà về Monroeville, Alabama vào mùa đông. Ngoài ra, bà giữ một căn chung cư ở New York để đi về. Cả hai chị em cùng độc thân.

Hiện có tới 75% trường trung học công lập dùng Mockingbird trong chương trình giảng dậy. Hàng năm cuốn truyện 300 trang này vẫn bán ra cá triệu ấn bản. Nhiều người đã phân tích những lý do đưa tới sự thành công của Mockingbird. Ngoài giá trị văn chương và chủ đề xung đột chủng tộc vẫn còn là một đỉểm nhức nhối của nước Mỹ mặc dù đã có những tiến bộ vượt bực so với thời của Mockingbird, cuốn tiểu thuyết còn dậy cho các thế hệ trẻ tại Mỹ lòng bao dung.

Và bài học ấy được gói trọn trong câu nói của vị luật sư nhân vật chính Atticus Finch, biết khó thắng nhưng vẫn đứng ra biện hộ hết mình cho kẻ bị hàm oan, trong một cuộc trao đổi với con gái Scout: “Con sẽ không bao giờ thực sự hiểu thấu một người cho tới khi nào con nhìn mọi sự qua nhãn quan của người đó… Tới khi nào con lẩn được vào bên dưới làn da của người đó và đi đó đây trong làn da đó.” ("You never really understand a person until you consider things from his point of view... Until you climb inside of his skin and walk around in it.") [TD, 02/2012]



Mockingbird, hình bên mặt, được Harper Lee dùng như biểu tượng của sư ngây thơ. mockingbird

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1098)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 993)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 958)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1370)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2014)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1752)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1848)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1866)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1162)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2013)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7523)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14559)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13412)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13946)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1370)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1752)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1848)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1866)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 992)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2014)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1409)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 1810)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1098)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 1906)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2462)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4169)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 958)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1162)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1562)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2058)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10089)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26596)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33200)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33209)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7752)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10291)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1370)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3253)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3168)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3066)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3411)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4840)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4415)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5703)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.