- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,430,357

CÓ MỘT ĐÀ LẠT Ở PHÍA NAM LUÂN ĐÔN

11 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 101421)

tetbury-content

Đó là Tetbury, một thành phố thơ mộng nằm về phía nam Luân Đôn khoảng 200 cây số (?).Tôi chỉ nhớ phải mất ba giờ lái xe để đến nơi. Thành phố nhỏ, những con đường dốc, hẹp. Nhà với mái xuôi nhọn hoắt, nằm liền nhau, phần lớn mở shop bày bán đồ cổ, quán ăn uống, tiệm cà phê.Tất cả đều sạch sẻ, sang trọng. Khí hậu mùa thu, ra khỏi nhà không thể thiếu áo ấm. Trên một con đường có ngôi nhà mang tên High Grove của thái tử Charles ở trước đây, nay làm nơi bán hàng lưu niệm cho quỹ từ thiện.

Với phong cảnh và khí hậu như thế làm sao không nhớ Đà Lạt cho được, dù cho Café 53

của Tetbury không thể so sánh với Café Tùng Đà Lạt, nhưng khi đã ngồi trong quán, cầm tách cà phê bằng sứ trắng, nhìn ra con đường vắng hoe trước mặt, có lúc ta mơ hồ lẩn lộn giữa hai không gian.

Chúng tôi ở trong một nhà nghỉ chỉ có 4 phòng dưới một con đường dốc, rất tiện nghi, rộng rãi. Chủ nhân là một người Úc sang đây lập nghiệp đã lâu, không có gia đình. Trước nhà, ông ta chỉ đặt một phiến gỗ nhỏ ghi mấy chữ : Old Fox House. Trong ba bữa ăn sáng chỉ có một thực đơn duy nhất, được bày biện kiểu cách!. Ông ta nói chuyên, phần lớn kể về các hoàng tử William và Harry những dịp họ đến đây, trong lúc khách ăn.

Trường Westonbird đồ sộ, uy nghi, nơi dành cho nữ sinh trung học nội trú, chỉ cách thành phố mười phút lái xe. Mùa hè, học sinh về nhà nghỉ, trường trống, nơi đây được dùng cho dich vụ đám cưới.

 

Như ngoại vi Đà Lạt có Đơn Dương, Đức Trọng, thì ở Tetbury có Bourton-on-the-Water, ngôi làng mà du khách khi đã đến Tetbury không thể không ghé! Hai bên đường san sát quán ăn, quán cà phê, nước giải khát. Đi sâu vào sẽ gặp Birdland- Park & Gardens- rộng lớn với đủ loài chim quý hiếm, từ hoàng yến, chim họ sẻ, chim ác là (marpie), cho đến chim cánh cụt (penguin), cú tuyết (snow owl), vẹt đuôi dài (macaw), chim hồng hạc (flamingo),chim bồ nông (pelican)….Giữa làng du lịch là một con sông nhân tạo, bề ngang khoảng hơn mười mét được đặt tên Venice, nước trong veo, có cầu bắc qua và ghế đá trên bờ.

 

Rời Bourton-on-the-Water, về đến Tetbury trời vừa tối. Phần lớn quán xá ở đây đóng cửa sớm, sau năm giờ, dù cho ngày còn dài. Thế là bữa ăn tối của mọi người là bánh mì và thịt nguội, vừa mua được từ một siêu thị nhỏ. Đêm cuối cùng ở Tetbury, tôi lặng lẽ mặc áo ấm, đội mũ, quàng khăn xuống đ ường. Trời lạnh, phố vắng, những con đường dốc in bóng đèn vàng. Tôi vừa đi vừa nhớ Đà Lạt năm nào, lúc họa sĩ Tôn Thất Văn còn sống, chúng tôi lên đó, ở nhà khách đường Hồ Tùng Mậu. Nửa đêm thức giấc, không ngủ lại được, bỗng cảm thấy thèm cái lạnh và đốm lửa của những gánh hàng đêm trước chợ, tôi bèn mang khăn độ mũ, leo qua cổng đi bộ dọc theo Hồ Xuân Hương lúc ba giờ sáng, trong cái lạnh rát mặt của đêm. Sáng hôm sau gặp nhau, tôi nhận ngay câu chào của Văn : Quỳnh điên rồi!

Đà Lạt, Tetbury. Bên này và bên kia. Cái buốt giá của những đêm. Sao chỉ có một đốm lửa trong trái tim mình.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1287)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4768)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 217)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 234)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 248)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 308)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 372)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.
25 Tháng Ba 20209:18 CH(Xem: 200)
bao nhiêu năm ngoan cố tìm cái đã mất / giống như tìm an ủi trong tuyệt vọng / thôi thì hôm nay / hài lòng trong một phút dối lòng
25 Tháng Ba 20208:55 CH(Xem: 179)
từ bên kia nỗi nhớ em thả bùa hồn ta lú lẩn / già nua chưa mà lầm tưởng / con bù nhìn trú ngụ vào bão để bình tâm / mắc cạn trên cánh đồng lạnh gió đông
11 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 634)
em không mười sáu không mười tám / không cả đôi mươi... bởi lụy người / tuổi trôi lơ lửng theo mềm yếu / non cỗi nương nhờ anh mặn vơi!