- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Về một dấu chỉ văn xuôi hải ngoại: Hoài niệm

02 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 116023)


loira_dh2010-content
 Exit_Ảnh ĐH

1. Trước hết, người viết bài này nhận thấy mình chưa thể kiểm soát trọn vẹn và kĩ lưỡng đời sống văn chương của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, vốn đã/đang rất phong phú, phức tạp và từng chịu nhiều định kiến, đặc biệt là từ sau 1975 đến nay, dù thực tế có thể trông cậy đây đó nhiều bài viết có tính tường thuật và tổng kết, của cả những người là đương sự can dự vào đời sống ấy lẫn những chứng nhân quan sát, mà cơ hồ, điểm chung nhất khá thuận tình thuận lí, là coi văn học của người Việt hải ngoại như một bộ phận gắn liền, hợp thành với/trong văn chương Việt ngữ

[Xin ví dụ: Bùi Vĩnh Phúc với Một cách nhìn về mười ba năm văn chương Việt ngoài nước (1975 – 1988); Nguyễn Huệ Chi với Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại; Đỗ Minh Tuấn với Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước; Hoàng Ngọc Hiến với Đọc văn học Việt Nam hải ngoại; Nguyễn Mộng Giác với Sơ thảo về các giai đoạn thành hình và phát triển của giòng văn xuôi hải ngoại từ 1975 đến nay; Thụy Khuê với Thử tìm hiểu một lối tiếp cận văn học sử về Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975 - 2000; Nguyễn Vy Khanh với 19 nhà văn hải ngoại: tuyển tập nhận định văn học (2008)…]. Bất luận người viết ở vị thế nào, một khi không coi ranh giới địa lí – chính trị là rào cản, thì hẳn tiếng Việt sẽ là điểm cư trú cuối cùng, để đi tới những thống nhất cơ bản trong cách chọn tiêu chí xếp đặt, cũng như sự hội ngộ thân sơ giữa người sáng tạo và người tiếp nhận, trên văn bản tác phẩm. Chính vì thế, tôi đã chọn tuyển tập 20 năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-1995 (2 tập, 158 tác giả. Nxb Đại Nam, 1995) làm cứ liệu chủ yếu trước khi viện đến một số tác phẩm của các tác giả hải ngoại được xuất bản trong nước gần đây, và đương nhiên, một vài tác phẩm trên mạng internet mà tôi yêu mến trong sự ước lượng rằng, quanh đó là khối dung lượng khổng lồ không dễ gì thâu tóm được. Nhưng, một lần nữa, vì khả năng hạn hẹp nên người viết chỉ đề cập đến địa hạt văn xuôi.

Năm 1998, vua Quang Trung của Sông Côn mùa lũ được hồi hương, vừa có mặt trên thị trường sách, vừa vào phòng thu radio phát sóng toàn quốc, đã nói lên thực tiễn tất yếu của tinh thần hòa hợp, tương giao văn hóa giữa những người Việt cầm bút, báo hiệu một may mắn tương tự cho nhiều số phận bình thường hơn; và nhất là, đã cụ thể hóa những nỗ lực của một trong những tờ báo đi tiên phong vào thập niên 1990, Hợp Lưu, rằng sẽ “là diễn đàn phổ biến tất cả các tác phẩm của anh em văn nghệ sĩ trong và ngoài nước […] cũng như phô diễn được cái đẹp, cái hay của ngôn ngữ Việt”, để sau đó, biên độ tiếp xúc văn chương hải ngoại trở nên thật rộng rãi, cởi mở, đa nguồn. Nhưng cũng phải thấy, chính tác giả của Sông côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác, sau những trải nghiệm của một thuyền nhân, khi định cư ở miền đất mới, đã chỉ ra thực tế khá chua chát: “ Tôi có được tự do phổ biến tác phẩm của mình, nhưng phải tự lo việc ấn loát và phát hành (…). Yểm trợ và nuôi dưỡng văn hóa dân tộc nơi xứ người, điều đó không có trong bộ nhớ những người khôn vặt và chuyên buôn hàng xén” (Viết ngoài quê hương). Không có yểm trợ văn hóa, người cầm bút di dân tự thân phục dịch cuộc lưu chuyển văn hóa, đa số được bắt nguồn từ kinh nghiệm tiếp xúc trực tiếp với đời sống mới, dù tới đích hay lưng chừng, đều xẩy ra liên tục trong chính bản thân mình như một khẩu phần thường ngày nuôi dưỡng đời sống sáng tác. Nguyễn Mộng Giác thuộc vào thế hệ cầm bút di dân sau 1979, vốn là thế hệ, theo cảm nhận của tôi, sẽ khác với người cầm bút di tản trước đó (1975), sẽ chủ động nhập cuộc sinh hoạt văn học bởi ít nhất, nó đính kèm, ngoài nhu cầu tự tâm còn là nhu cầu kiếm sống. Tình cảnh di dân đầy mất mát li tán, gian khó hiểm nguy, là thứ được hồi tưởng đầu tiên sau khi đặt chân lên trú xứ, tươi mới như thể một hành trạng vừa tích lũy. Song, khi gợi ra viễn cảnh đời sống mới, di dân là thành phần nhiều hi vọng nhất để cuối cùng phải dàn trải nhiều thất vọng nhất, nên có chăng họ mang cảm giác “bơ vơ không thuộc về cái gì cả” (Nguyễn Mộng Giác). Giai đoạn 1990 - 2000 có thể coi là cuộc giao ban lần một thế hệ cầm bút. Các cây bút trẻ có ưu thế và xu thế của nhà cách tân, muốn tạo lập gương mặt và tiếng nói thế hệ mình. Đó là thế hệ nhập cuộc nhanh chóng với đời sống biến động, làm nhiều việc cùng lúc, khả năng tích lũy đa cảm giác thay cho duy trì và bảo dưỡng một cảm giác. Những nhà văn sinh giữa thập niên 50 và đầu 60 không quá nhấn mạnh “chủ nghĩa nạn nhân” của quá khứ, vì thế, trong vai trò kẻ ngoại cuộc, dù ở hoàn cảnh nào, họ cũng phải gánh trách nhiệm sáng tạo không chỉ vì quê cha đất tổ đã mất hút trong họ. Ngay cả khi họ chấp nhận tình thế cưu mang trong bụng mình một hình hài thứ hai của chính họ, tức là đi chiếm hữu một ngôn ngữ khác. Nó gợi ra đặc tính kép của ý muốn cầm bút, là sự dằn vặt đạo đức vì nguy cơ đánh mất cội nguồn và là sức mạnh khai phóng trước hiện thực mới, trong đó mỗi bước chân số phận đều ban phát cho cái Tôi món quà hoàn thiện.

Những dẫn dụ trên đây nhằm lí giải phần nào gốc gác, nguồi cơn tâm lí xã hội của hoài niệm (Nostalgia) vốn xuất thân từ triết học. Trên đất tạm dung, đời tạm trú (Thanh Nam, Khúc ngâm trên đất tạm dung), hoài niệm quả là hành vi trung tâm của các giác quan, giữa vô số những biến động và thay đổi khôn lường, nó vẫn tồn tại như thể lần đầu tiên nó được phân công giữ ngọn lửa sự sống trong lòng người xa xứ. Rời bỏ quê hương, quá khứ là mất mát và ngẫu nhiên được sắp xếp vào một trú xứ, chốn tạm dung, nơi không phải là đất mẹ (motherland) thì chỉ cấy ghép vào nỗi mất mát kia một hiện tại đầy bất an và vô định. Khi người cầm bút đồng thời là kẻ di dân, họ chấp nhận chuyển đổi cấu trúc kinh nghiệm mất mát rằng quê nhà không còn hiện hữu và cũng không thể có quê hương hiện thời, sang cấu trúc sáng tạo, nơi một lần nữa, cái bản ngã phải chấp nhận sự sưng tấy “ngữ pháp của lòng hoài cảm” (Nguyễn Hưng Quốc). Như vậy, hoài niệm hay hoài cảm, theo đúng nghĩa gốc của từ này, về quá khứ, quê hương, nguồn cội… đã có lúc như dấu chỉ lộ thiên, trỗi lên mạnh mẽ kéo dài trong trang văn của hai thế hệ cầm bút di tản và di dân, hoặc những người từ lâu đã thành “thổ công” nơi đất mới. Còn về sau, với những cây bút thuộc “thế hệ thứ hai” thích nghi hơn với miền đất mới, như đã phân tích, mức độ và trạng thái của hoài niệm sẽ có nhiều biến đổi, khó mà coi là cùng chung bản lai diện mục nữa.

2. Viết về một quá vãng vừa qua thực ra là trục vớt câu chuyện từ kí ức, từ trí nhớ khi đặt vào độ lùi xa nhất định về thời gian. Lúc đầu, nó dễ dàng đi vào hồi kí với tinh thần nhớ lại, “kể cho mình” là chính, nên có hẳn thể hồi kí thịnh hành. Về sau, nó bước ra hẳn “thế giới ngoài mình” để xuyên thấm trong câu chuyện về người khác, đời khác. Nên truyện ngắn, tùy bút, thậm chí với cả thể khảo cứu, sẽ trở nên thích hợp hơn. Hoài niệm có mặt ngay ở đấy, vấn vít hay bảng lảng, dìu dịu hay dữ dội, bột phát hay toan tính… đều cho phép chủ thể của nó được dịp phiêu lưu, tìm kiếm, tri nhận những thực thể từng là một thời gắn bó. Riêng thể tiểu thuyết lịch sử, như Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Gió lửa (Nam Dao), Người trăm năm cũ (Hoàng Khởi Phong) hẳn sẽ không là đặc trưng của hoài niệm, dù dung mạo và bước đi, đã tiến rất sâu vào quá khứ trầm tích của nhiều thời xưa xa.

Biểu hiện rực rỡ nhất của hoài niệm, là hoài niệm quê nhà, mà thực chất, cũng nằm trong chuỗi đơn cảm giác có tính cá nhân. Nên dễ nhận ra, chuỗi cảm giác đầu tiên là hướng về mô tả cảnh trí, phong vị tập quán, với một vóc dáng thi pháp ca dao đậm đà cảm hứng cội nguồn, đôi khi mang máng giọng điệu Tự Lực văn đoàn, đẹp, lãng mạn mà bùi ngùi. Thì ra, khi mà trong của cải giắt lưng, có người đã từng nhập tâm vào văn Thạch Lam, Nhất Linh, thời sẽ lại viết về Hà Nội, bằng một lòng hoài cổ rất mực “vì chính mình muốn có được một ngày mơ mộng để trở về với tuổi hai mươi”, rồi nhận ra “cái vẻ đẹp của Hà Nội, dường như được khơi dậy từ bóng im, màu xanh của lá, phố cũ bằng các mái che hiên nắng mưa trên đường nhỏ” và “người Hà Nội, có lẽ cái mà họ thích muốn giữ lâu nhất là màu áo. Ở trong mỗi màu áo, dù đậm nhạt, rực rỡ màu sắc, mức độ thế nào cũng thế, dường như đó là linh hồn” dù “rất nhiều thứ đổi thay, khác hẳn với tập sách mà thời kì đó Thạch Lam đã viết” (Nguyễn Chí Kham, Hà Nội, bướm trắng). Cũng có người từng thuộc nằm lòng dăm ba câu thơ Nguyễn Bính, thi sĩ giang hồ, thì giờ đây “trời làm xa cách mấy con sông” nên đành viết thư gửi chị Trúc để nhắc rành rẽ: “Mấy con sông? Sông Cái Cá, sông Cổ Chiên, sông Long Hồ, sông Thiềng Đức, sông Cầu Lộ, sông Cầu Lầu, sông Định Tường, sông Cửu Long, sông Tiền Giang” (Kiệt Tấn, Tết này chưa chắc em về được). Mà chị Trúc ấy, trong tưởng tượng của anh “rất hiền lành và chơn chất, đâu có lẩm cẩm đi tìm một cái gì siêu việt. Chị nấu cơm kho cá, chị khâu và thêu thùa, đặc biệt chị làm bánh rất ngon…”. Nhớ rành rẽ, nên ngay cả đồ ăn thức nhắm cũng dễ dàng so sánh khi trên đất người được dịp gặp lại: “Món mắm và rau của người Nam, tôi đã từng nhiều lần thưởng thức, nhưng chưa bao giờ thấy ngon như hôm đó” (Nguyễn Xuân Hoàng, Chuyện kể trên đồi cam) hay dứt khoát: “Chiều nay, cơm mắm. Có cả rau luộc” (Võ Phiến, Xong cả) mà ở tận xứ Úc châu. Thế mới hiểu, hương vị nào cũng có lịch sử và sự tạo tác của nó và, cho phép ta đồng cảm hơn cái phút giây nhớ canh rau muống, cà dầm tương tưởng rất lẩm cẩm hôm nào. Ăn - ở - mặc hình như xây dựng nên con người, bởi thế hồi tưởng nào cũng tròng trành qua giai đoạn biết học ăn học nói học gói học mở, tức là khi ý thức được sắc thái thẩm mĩ hay nói quen thuộc hơn, bản sắc cốt cách của cộng đồng, của dân tộc. Đến đây thì quê nhà là Áo dài Việt Nam (Trần Thị Lai Hồng) “Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã, tô bồi thêm nét đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập” để nhất định “Ngày áo dài hồi hương hẳn không xa”; là Tranh Tết: tìm lại những hình ảnh chưa bao giờ có thật (Nguyễn Đồng): “Nó chỉ sống đời sống thật sự của nó, mang nặng đầy đủ ý nghĩa thật sự của nó, khi nó được xuất hiện với tư cách một đóng góp cho hoan lễ”; là Mùa cưới (Phạm Thăng): “Dân miền Nam có tật lạ là hay bắt bẻ nhau một cách văn nghệ trong những buổi lễ cưới. Bên họ nhà trai hay nhà gái nào cũng thủ sẵn một tay ăn nói để tỏ ra dòng họ mình không đến nỗi cục mình, quê mùa”… Những phác thảo phong tục như vậy đan dệt nên sắc thái văn hóa xứ lạ, đủ sức tạo thành nét khu biệt nếu xẩy ra sự chung đụng giữa các sắc dân thiểu số vừa lập một không gian tâm lí an lành.

Nhưng dường như không gian ấy vẫn chưa ngừng được cơi nới thêm. Người cầm bút có xu hướng tiếp cận mình ở những ngõ ngách sâu hơn của hoài niệm. Do đó, chuỗi cảm giác thứ hai là kỉ niệm tuổi thơ và sự trưởng thành lương thiện, tái diễn trong đứt đoạn, có khi thụt lún vào giấc mơ hoặc bị bỏ lửng ở hiện tại. Tuổi thơ như một quá khứ sớm thành tương lai khi nó giữ gìn cho tâm trí con người tha hương chỗ nương tựa sau những biến cố ở hiện tại: “trong sâu thẳm, là một người nhà quê, sinh ra và lớn lên trong lũy tre làng, dù đi xa cho nhiều năm dài dặc, tôi vẫn thấy quãng đời thơ ấu tại quê nhà đã in vào lòng tôi sâu đậm nhất” (Phan Lạc Tiếp, Người nghệ sĩ làng quê). Những lí lẽ giản dị song mặc định rằng những dư âm đầu đời, kể cả ngọt bùi hay đắng cay, bao giờ cũng trụ vững đến cùng và người ta có thái độ dung thứ cho nó, nếu là lỗi lầm, hoặc thi vị nó, nếu là cổ tích của số phận. Điều đó thật ý nghĩa với những “trú khách”, những cố nhân vô tình gặp lại sau tai ương hồng trần: “Hai tâm hồn khách trú già, lận đận suốt gần một đời người đầy dâu bể, mà vẫn ướp giữa ấp ủ những hình ảnh về một mùa hoa gạo rất xa xôi. Hình ảnh của nhau đã khắc sâu trong tâm hồn họ đến nỗi, đối với nhau, cả hai người không bao giờ thay đổi, không bao giờ lớn lên, lúc nào cũng chỉ là những tâm hồn mười tuổi của một mùa hè tuyệt vời” (Nguyễn Vạn Lý, Có một mùa hoa gạo). Không chỉ bởi tuổi thơ là một đi không trở lại mà quê nhà cũng có thể lâm vào tình huống tương tự, nên hiện tại phải phân ra một lằn ranh giữa quê nhà của kí ức, hoài niệm với quê nhà đang bày chật trước mắt. Đứng trên lằn ranh đó, cảm xúc chung thường là phản ứng trước sự vật đổi sao dời, mà thực chất đầy nghịch lí, là không muốn mình lớn lên, già đi: “Quê hương anh thay đổi quá nhiều trong khi tâm hồn anh lại tưởng dường như ngày còn bé”, còn khi đã lỡ đường xa vạn dặm thì “Trở về thăm quê là tìm lại bản thân mình, tắm gội cái thân thể đầy bụi bặm thời gian và ô nhiễm bao thói hư tật xấu” (Lê Lạc Giao, Lối cũ) hoặc “Chúng tôi tạ ơn một ngày bình yên và xin ơn một ngày trở về cố quốc” (Bùi Bích Hà, Buổi sáng một mình). Chẳng khó để nhận ra những nghiệm sinh giữa đi và về, giữa quê nhà trong tâm tưởng và quê nhà hiện tồn mà người cầm bút hải ngoại muốn biện luận. Nhưng có một sự thật đủ gai góc và ẩn giấu khiến không phải ai cũng tự tín vào mình, trình bày nó bằng thái độ nghi ngờ càng trở nên hiếm hoi: “Chúng ta là những người nghèo nàn vô cùng cái thực phẩm dự trữ mắm muối mo cơm mà quê hương gói theo khi chúng ta ra đi, chúng ta chưa kịp ăn no, nhai cho kĩ để nhuần nhuyễn cái gia tài văn hóa to rộng của đất nước” (Ngô Nguyên Dũng, Tiếng núi). Thái độ kiểm thảo di sản mang theo không cho phép sự bình yên kéo dài, ngược lại, gây xáo trộn và hoang mang khi muốn nhận thức lại mình là ai, mang căn cước nào trên cơ địa văn hóa mới. Rất nhiều câu hỏi, dằn vặt nội tâm đã xoáy sâu vào đó, chứ không như mĩ từ “công dân thế giới” mà chúng ta hôm nay thường nhanh nhảu cổ vũ và nhầm tưởng rằng sẽ tự nhiên nảy nở chứ chẳng cần trải qua nhọc nhằn, đau đớn nào.

Trong hoài niệm tuổi thơ thì hoài niệm tiếng nói, cụ thể là tiếng Việt mẹ đẻ, thứ phải trình diện, đối diện rát rao trên đất khách quê người, hẳn thuộc về ý niệm bản sắc nòi giống và gắn liền với thân – tâm. Khi buộc che giấu, lãng quên, đánh mất tiếng nói thì có có lẽ, mỗi người đều cảm thấy khổ tâm, đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần. Cái thân - tâm tưởng như rời rạc với tiếng nói, đến đây, lại phóng chiếu vào nhau, tường minh, khiến từng cá nhân tự đương đầu với chính mình. Cuộc đương đầu ấy dẫn đến hoặc tự thương hoặc tử thương. Trần Doãn Nho diễn tả điều này rất tinh tế trong truyện Một chút Việt Nam, nhắc đến một cô gái “ra đi còn quá nhỏ để nhớ” nên “những giới hạn về ngôn ngữ khiến cô bị lìa cắt khỏi nguồn cội… Nàng muốn mình là người Việt Nam, nhưng thiếu hẳn một quá khứ Việt Nam…” và sẽ trở về “chỉ khi nào em đọc và viết được tiếng Việt”. Sự tử thương của tiếng nói khoanh vùng thế hệ ở khoảng cách không thể nào chua xót hơn, khoảng cách bất khả giao tiếp: “Vô một nhà toàn mũi tẹt da vàng, ăn cơm thì phải có rau muống mà con nít chỉ rặt nói bằng tiếng Mỹ, còn cha mẹ ông bà thì ngồi như phỗng đá” (Nhã Ca, Nụ hồng), đẩy xa hơn đến tình thế và mặc cảm “người không có đất nước” (Trần Hoài Thư, Bên này dòng Hudson) để cuối cùng, quán triệt một giải pháp rất hậu hiện đại: “Đừng định nghĩa chúng tôi là ai. Đừng đặt chúng tôi vào biên giới quốc gia chủng tộc. Hãy chấp nhận chúng tôi như một tiếng nói, một ngôn từ, một sự có mặt” (Trần Diệu Hằng , Khi ở s. về c.). Điều này, một lần nữa, nói lên những cố gắng của người viết tiếng Việt, như để chống lại nỗi sợ vốn liếng quê hương đang dần bị hòa loãng, trấn an tinh thần nếu xẩy ra những cú sốc văn hóa. Nhưng phải thấy rằng, đồng đẳng ngôn ngữ sẽ là viễn tượng nếu các thế lực mai phục trong ngôn ngữ chưa chấp nhận một thương thảo khác, buộc chúng ta phải hiểu và cởi mở hơn với việc nhiều cây bút chọn ngoại ngữ, trở thành công dân ngôn ngữ hơn là công dân đất nước.

Bởi hoài niệm không chỉ là hướng nội, khép kín và càng về sau, trước những xâm thực văn hóa bên ngoài, nên nó sẽ nảy sinh những cảm niệm về sự đổ vỡ và chiêm nghiệm di sản quá khứ. Chuỗi cảm giác này trở nên phức tạp và cần lẩy ra vài hệ đo khác vì phép hồi tưởng đã chen chân những đại lượng tự sự lạ lẫm như mê sảng, bấn loạn và dục tính. Nhân vật tôi trong Giấc mơ thổ của Trần Vũ trước khi trỗi dậy thú tính đã chìm đắm triền miên giấc mơ trong trẻo: “… Nỗi ham mê mới trong tôi ngây ngất như tuổi mười bốn mười lăm ở gương mặt Nữ trái soan mơ ước (…). Nữ đẹp tựa các cô nữ sinh tuổi cài trâm tôi vẫn rình đón trước cổng trường dạo nào… Cả khung trời hoa mộng dĩ vãng cũ bừng sáng”. Chuyện hãm hiếp diễn ra như một phản ứng dây chuyền từ lịch sử, từ tuổi thơ khốn khổ và cả hai trở thành điều kiện cơ bản để cái ác thực thi. Trong Thiếu nữ chờ trăng lên của Lê Thị Huệ thì quan hệ tính dục giữa người nữ và nhân vật W (West – phương Tây ?) thực chất là quan hệ trao đổi mà ở đó, hình ảnh cố quận trong kí ức buộc phải lấy ra làm vật thay thế: “Trước khi ngủ W vòi tôi kể chuyện về những đêm trăng nơi tôi đã chào đời và sống suốt những năm thơ ấu … Tôi kể cho W nghe những đêm trăng cả gia đình tôi quay quần trước sân gạch ngắm trăng lên”. Trên một cơ địa văn hóa mới, kiểu quan hệ như thế, cùng với mô hình tuổi thơ – gia đình – người cha (tiêu biểu như Chỗ tiếp giáp với cánh đồng của Khánh Trường) thì tính dục thường ngụ ý tình huống văn hóa và số phận dân tộc hậu thuộc địa hơn là bản năng sinh lí. Đến đây, hoài niệm quê nhà không đơn thuần là độc âm quá khứ, nó là dụ dỗ đa âm từ phía hiện tại bởi những liều lượng văn hóa khác nhau. Chính vì thế, trong sáng tác của Thuận (Made in Vietnam, Chinatown), Trần Vũ (Cái chết sau quá khứ, Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu, Khi về đã lạnh vườn xưa, Buổi sáng sinh phần), Lê Thị Thấm Vân (Xứ nắng)… di sản quá khứ bao giờ cũng tươi mới và hoài niệm có tính ám ảnh, ám dụ trong tinh thần chiêm nghiệm tỉnh táo, kính nhi viễn chi.

Chất diệp lục của hoài niệm, cái có thể hấp thụ hoặc phân biệt năng lượng tha nhân tốt hơn, thường thuộc về các nhà văn nữ. Lê Thị Thấm Vân bắt đầu từ “bài học vỡ lòng”, Lê Thị Huệ “khởi đi từ ngây thơ”, Trần Diệu Hằng là “niềm im lặng”, Bùi Bích Hà “buổi sáng một mình”… Mỗi bản ngã tự tường trình số phận mình, là thính giả của chính họ, một thúc giục lắng nghe biến thái cảm giác, khi là mẹ, khi là vợ, lúc lại người tình. Cả ba trạng thái đó, thực tế, đều giống nhau ở điểm là sự chứa đựng, cưu mang một sinh thể khác, tựu trung như là giang sơn cư trú. Nhưng không giống nhau là mỗi bản thể đều ủ ấp những nỗi cô đơn riêng biệt.

3. Hoài niệm, từ đây, có lẽ là dấu chỉ cần nhiều hơn nữa những diễn giải thấu đáo…

Mai Anh Tuấn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 465)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 683)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 729)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1196)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1061)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1189)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1673)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1722)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1588)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1591)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10451)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17268)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16343)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16798)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1187)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1722)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1744)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2498)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 682)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1061)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1588)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1428)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 465)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1196)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1673)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1591)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 729)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3157)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3112)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3707)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2247)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13964)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30089)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36167)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11656)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13105)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2932)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4165)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4109)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4629)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5150)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8361)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7756)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10678)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.