- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ký ức Hà Nội

31 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 111566)

 


hoguom_thaiduongtran

 Hồ Gươm / Ành Trần Thái Dương


Lời tác giả: Viết Ký ức Hà Nội, tôi xem như là một sự đối thoại với Hà Nội, ba mươi sáu phố phường của chị Ban Mai. Cái nhìn của tác giả Ban Mai là của một người phương Nam về Hà Nội với nhiều suy nghĩ và ưu tư.
Còn tôi, là cái nhìn của một người trẻ đã từng sống và học tập ở đây. Với tôi, Hà Nội là nơi gặp gỡ của bạn bè từ mọi miền của đất nước, là nơi cho tôi cảm nhận lòng tốt và sự ấm áp của tình người. Hà Nội cũng cho tôi thấm thía sự nhọc nhằn mưu sinh và giúp tôi thêm trưởng thành...Vì vậy, Hà Nội trong cảm nhận của tôi là một Hà Nội thật gần gũi và đời thường.

Nguyễn Hạnh Nguyên


Lần thứ ba, tôi đến Hà Nội vào buổi trưa một ngày tháng mười đầy nắng. Đã gần cuối thu, lẽ ra thời tiết phải mát mẻ, dễ chịu thì lại vẫn oi bức như đầu tháng sáu. Dường như mùa hè quá lưu luyến và không muốn rời đi. Xe khách dừng ở bến đỗ, tôi ì ạch với một túi xách và cái vali kéo ở lối ra. Những người chở xe ôm vây lấy tôi mời chào, tôi lắc đầu bảo có người nhà đón rồi. Thật ra chẳng có ai đón tôi cả, tôi chỉ muốn thoát khỏi họ để ra ngoài, tìm một chiếc taxi đi cho thoải mái. Quãng đường từ bến xe về trường tôi học chỉ hơn 1km nhưng cũng đủ để tôi hồi tưởng lại hai lần trước tôi từng đến đây.

 

 *

 

Lần đầu tiên, tôi là con bé tỉnh lẻ ngơ ngác lên thủ đô thực hiện ước mơ vào đại học. Bến xe Kim Mã ồn ào, lộn xộn, đông đúc. Trên đường từ bến xe về địa điểm thi nằm trong một xã của huyện ngoại thành, cách 3km so với đường quốc lộ, tôi chỉ thấy người và xe cộ tấp nập. Hết kì thi, tôi vội vã về quê mà chưa kịp tìm hiểu gì về Hà Nội. Trong lòng tôi tự nhủ : thi đỗ đại học, tôi sẽ tha hồ khám phá Hà Nội. Nhưng năm đó, tôi thi trượt nên Hà Nội vẫn chỉ là ao ước trong tôi.

 

Năm năm sau, một lần nữa, tôi trở lại Hà Nội để thực hiện mơ ước về con đường học vấn. Bước chân của tôi không còn là của con bé mười tám tuổi rụt rè. Tôi đã tốt nghiệp đại học và chuẩn bị dự thi vào cao học. Đứa bạn cùng quê đang học trong trường đón tôi, đưa tôi đến phòng ở kí túc xá đã đăng kí trước. Suốt hai tháng, tôi quanh quẩn trong kí túc xá; lên giảng đường học và về phòng. Áp lực thi cử chiếm hết quỹ thời gian, tôi không dám lơ là, suốt ngày vùi đầu vào sách vở. Lần thứ hai đến Hà Nội, tôi vẫn chưa biết gì nhiều về Hà Nội.

 

Và lần thứ ba, tôi đến Hà Nội với tất cả sự háo hức và lo lắng. Tôi đã thi đỗ cao học và chuẩn bị nhập trường. So với lần thứ nhất, Hà Nội vẫn đón tôi với người và xe cộ tấp nập. Vẫn là bến xe đông đúc, vẫn những người chạy xe ôm chèo kéo dai dẳng đến khó chịu. Và thêm nhiều điều khác nữa đang chờ tôi ở phía trước … Lần này, tôi sẽ ở lại Hà Nội lâu hơn. Hai năm học ở đây, chắc chắn sẽ đủ cho tôi khám phá về Hà Nội.

 

 *

 

Thời gian thấm thoát trôi đi, tôi lại đã xa Hà Nội. Hôm nay, ngồi trước computer, tôi chợt muốn viết lại, ghi lại những cảm nhận của mình về Hà Nội. Viết về Hà Nội, với tất cả kỉ niệm buồn vui của những ngày chưa xa.

 

Khi chưa đến Hà Nội, tôi vẽ lên Hà Nội trong trí tưởng tượng của mình với tất cả vẻ đẹp và sự nên thơ. Tôi khám phá Hà Nội qua những trang văn của Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân… Tôi tìm hiểu về Hà Nội qua những ca khúc trữ tình; qua từng bức tranh hay qua mỗi thước phim tư liệu tôi xem. Hà Nội trong tôi là một vùng đất văn hóa, cổ kính đồng thời cũng là một thành phố năng động, hiện đại. Như một lẽ tự nhiên, chưa đến Hà Nội nhưng tôi đã có sẵn thiện cảm và tình yêu đối với Hà Nội. Rồi đây khi từng ngày hít thở không khí của Hà Nội, đi trên những đường phố của Hà Nội; tôi cảm nhận về Hà Nội ở một góc nhìn hiện thực và gần gũi hơn.

 

Nếu như ấn tượng đầu tiên của tôi về Hà Nội là người đông đúc và xe cộ tấp nập thì ấn tượng tiếp theo cũng vẫn là người và xe. Tôi nhớ hồi mới nhập học, mỗi khi ra đường nhìn thấy xe cộ nườm nượp chạy qua, tôi hoa mắt. Bạn tôi đùa rằng: “tớ có cảm giác người Hà Nội sống ở ngoài đường hay sao ấy. Đi đường toàn thấy người là người không”. Tôi chưa có điều kiện đến một số thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng hay Cần Thơ nên tôi không dám so sánh. Song tôi băn khoăn tự hỏi : ở những thành phố ấy, có hay tắc đường kẹt xe như Hà Nội không? Với thành phố nơi tôi sống, chuyện tắc đường kẹt xe chỉ là hãn hữu. Ở Hà Nội, cứ mỗi lần đèn đỏ ở ngã ba ngã tư, tôi nhìn dòng xe ở chiều ngược lại vọt qua, ùn ùn một hàng dài. Rồi mỗi lần muốn đi bộ sang đường, tôi mất không ít thời gian vì xe chạy qua liên tục, tôi ngập ngừng không dám bước.

 

Hà Nội trong tôi không chỉ là người và xe mà còn là sự ngột ngạt của khói bụi. Chỉ sau một thời gian ngắn, tôi tập thói quen cứ ra đường là phải mang khẩu trang, bất kể đi đâu. Không có khẩu trang, mùi khói xe làm tôi nhức đầu choáng váng, rồi bụi thì khỏi nói. Nếu không có kính mắt thì chắc cứ phải lo dụi mắt. Tật cận thị của tôi thế mà lại hay. Có sẵn cặp kính chống bụi, nếu không chắc tôi phải mang kính dâm bất kể là đông hay hè. Có lẽ vì vậy mà tôi thường thích đi xe bus, vì tránh được khói bụi. Nhưng xe bus thì cũng có nỗi khổ của xe bus. Trọ học hai năm thì cũng chừng ấy thời gian tôi gắn bó với xe bus Hà Nội. Tôi tích lũy đủ kinh nghiệm để đi xe bus cho an toàn, nhưng dĩ nhiên cũng không tránh được vài “tai nạn” nho nhỏ như bị va đập bầm tím tay chân. Tôi cũng thấm thía cảnh chen lấn để lên được xe, những khi tắc đường xe nhích từng chút một, những khi lái xe đi ẩu thắng gấp, tôi khốn khổ lo đu bám sao cho khỏi ngã. Có thể nói tôi vừa sợ vừa thích xe bus Hà Nội.

 

Tất nhiên Hà Nội không chỉ chật chội, đông đúc người, xe và bụi khói…

 

Hà Nội đẹp và nên thơ như trong hình dung của tôi. Tôi đã khám phá nét đẹp của Hà Nội bốn mùa, theo cách rất riêng tôi. Mùa thu, tôi thích đi dạo ở Bờ Hồ ngắm những dáng liễu mềm mại bên mặt nước xanh, cầu Thê Húc màu đỏ son nổi bật và tháp Rùa rêu phong. Trời xanh mây trắng, lá vàng buông rơi … Mùa hạ, tôi thích ngắm hoàng hôn huyền ảo ở Hồ Tây. Mặt trời như hòn than đỏ dần dần chìm vào mặt nước hồ. Phía chân trời xa xa, vài ba tia nắng còn sót lại, hắt tỏa lên những đám mây. Gió mát lành mang theo hơi ẩm thật dễ chịu. Mùa xuân, trước khi về quê nghỉ tết, tôi luôn tìm cách lượn lờ vài vòng ngắm những vườn đào vườn quất bên khu Nhật Tân. Tôi cũng mê mẩn cả buổi sáng ở chợ hoa Quảng An, ngắm cho thỏa thích những loại hoa với đủ sắc màu. Mùa đông, trời lạnh nên tôi lười đi. Nhưng thỉnh thoảng nổi hứng, tôi đi xe bus vào trung tâm, dạo quanh phố cổ, kiếm món gì nong nóng ăn để lấy sức đi bộ. Rồi tôi đi suốt hai phố Đinh Lễ, Nguyễn Xí qua hết chừng ấy tiệm sách để ôm về vài cuốn đọc dần.

 

Hà Nội không chỉ đẹp trong bốn mùa, Hà Nội còn đẹp trong từng khoảnh khắc tôi chợt bắt gặp… Sông Hồng một sớm mai. Mưa vừa tạnh, mặt trời ló ra sau đám mây. Những tia nắng đầu ngày chiếu xuống, cả mặt nước long lanh như dát vàng. Từ cầu Thăng Long, tôi chiêm ngưỡng cảnh thần tiên, vừa ngỡ ngàng vừa vui thích. Lần đầu tiên ngắm nhìn con đường gốm sứ ven sông Hồng, tôi cũng có cảm giác tương tự như vậy. Những bức tranh đa chủ đề, được ghép bằng vô số những mảnh sứ nhỏ đầy màu sắc, thật công phu khiến tôi không khỏi khâm phục sự sáng tạo và bàn tay tài hoa của các họa sĩ. Cùng với cầu Long Biên, nhà hát Lớn, Văn Miếu Quốc Tử Giám, con đường gốm sứ ven sông Hồng đã trở thành một trong những biểu tượng của riêng Hà Nội.

 

Cũng vì có tâm hồn ăn uống nên tôi không thể bỏ qua việc khám phá ẩm thực của Hà Nội. Túi tiền eo hẹp, tôi chẳng bao giờ dám mơ bước chân vào những nhà hàng sang trọng và đắt tiền song tôi cũng có dịp thưởng thức không ít những món ngon ở đây. Nào bún chả, bún ốc, bún đậu; nào phở, bánh cuốn, chè, kem, ô mai, hoa quả dầm. Trong đó, có những món không của riêng Hà Nội mà có thể bắt gặp ở nhiều nơi khác nhưng không hiểu sao chỉ có thưởng thức ở Hà Nội tôi mới thấy ngon và cảm nhận hết hương vị của nó. Tôi mê nhất là bún chả và hoa quả dầm. Bún chả thì ở phố Hàng Mành, hoa quả dầm thì ở phố Tô Tịch. Mỗi lần đi chơi Bờ Hồ tôi thường rủ rê bạn bè ghé đây ăn. Tôi cũng mê ô mai Hàng Đường, mua một vài loại rồi thỉnh thoảng bỏ ra nhâm nhi cũng thú lắm.

 

 *

 

Hai năm học ở thủ đô, tôi không rõ mình tiếp xúc được với bao nhiêu người Hà Nội gốc : “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Song tôi tin rằng những chủ nhà trọ thực dụng và tính toán, những bà bán hàng ở phố hàng Đào lạnh lùng trả lời “không biết” khi tôi hỏi đường đều không phải là những người Hà Nội tiêu biểu. Ngược lại, một chút gì đó của người Hà Nội, tôi nghĩ mình đã gặp được ở những gia đình tôi đến dạy kèm cho con cái họ. Họ thường tiếp đón tôi lịch sự, ân cần chu đáo, hỏi thăm về công việc của tôi, về phương tiện tôi đi lại. Tôi biết mình chỉ là một gia sư, nhưng mỗi khi được nghe họ gọi một tiếng “cô giáo”, tôi thấy lòng mình xúc động. Công việc dạy kèm, không chỉ giúp tôi trang trải cuộc sống mà còn cho tôi rất nhiều niềm vui, cho tôi biết một phần về người Hà Nội. Nhất là những người phụ nữ Hà Nội giữ vai trò “nội tướng” trong gia đình đã dành được rất nhiều cảm mến nơi tôi. Từ cách họ tổ chức gia đình đến việc dạy dỗ bảo ban con cái trong sự ứng xử đều khiến tôi thấy khâm phục. Dù cho, tôi không có điều kiện để tìm hiểu sâu hơn nữa về người Hà Nội, để có thể viết về họ với những mỹ từ ngợi ca. Nhưng những gì mà tôi đã chứng kiến ở họ và viết ra đây, đủ để tôi giữ ấn tượng đẹp về người Hà Nội.

 

Chưa hết, Hà Nội trong tôi còn là sự ấm áp của lòng tốt và tình người. Hai năm học, tôi đã có thêm bao nhiêu bạn bè mới. Họ thường đến từ nhiều tỉnh/thành phố trên khắp đất nước. Và may mắn thay, chúng tôi có duyên được gặp nhau ở đây.

 

Tôi nhớ chị Thủy, người chị cùng ở trọ với tôi suốt năm đầu tiên tôi ở Hà Nội. Một vài người quen biết hai chị em tôi không khỏi thắc mắc tại sao chúng tôi hợp nhau đến thế. Chị là người Nam, tôi người Bắc. Chị học toán, tôi học văn. Hồi mới ở chung với chị, tôi thấy tức cười vì chị luôn gọi tôi là “cưng”. Tôi bảo chị rằng : ngoài Bắc người ta thường dùng từ “cưng” để gọi người yêu chị ạ. Rồi hai chị em tôi cùng cười. Chị quan tâm, chăm sóc tôi như một đứa em của chị. Thỉnh thoảng chị trổ tài nấu món Nam cho tôi ăn. Phải nói rằng chị nấu không khéo đâu, nhưng tình cảm của chị đặt vào từng món ăn ấy, khiến tôi thấy chúng ngon vô cùng.

 

Tôi nhớ Đoàn hơn tôi hai tuổi, nhưng hai đứa chỉ xưng hô “mày – tao”. Nó chê tôi khờ, dễ bị lừa. Tôi nhớ Tuyết Anh xinh xắn, dễ thương. Tôi nhớ The sắc sảo, luôn nhiệt tình chu đáo.

Tôi nhớ những người bạn học cùng lớp cao học đáng yêu. Họ đã bên tôi những khi tôi vui, những khi tôi gặp khó khăn hay buồn bã, ốm đau. Những lời động viên khích lệ, những sự giúp đỡ ân tình của họ khiến tôi không thể nào quên. Hà Nội đã cho tôi sự ấm áp của tình người khi tôi được sống trong sự yêu thương của bạn bè. Và sự ấm áp ấy, tôi còn được nhận từ những người tôi chỉ gặp một lần hoặc tôi không biết tên.

 

Tôi không quên lần duy nhất tôi bước lên xe bus đông đúc với một túi đồ nặng và được một boy bảnh trai nhường ghế. Tôi đoán cậu là sinh viên, ít tuổi hơn tôi, nhưng vì nhìn mặt tôi trẻ nên cậu gọi tôi là bạn. Cậu mỉm cười với tôi: “bạn cứ ngồi đi, đừng ngại”. Tôi nói cám ơn mà phút ấy nghe trái tim mình hơi … xao xuyến.

 

Tôi cũng không quên chị bán rau ở chợ tạm gần nhà trọ mà tôi không rõ tên. Lần nào chị cũng bán cho tôi thật rẻ, có khi cho không tôi luôn. Khi tôi ngại ngùng từ chối, chị bảo rằng chị bán đủ lãi hôm nay rồi, mớ rau này cho em đem về ăn, chẳng đáng là bao, của nhà chị trồng được mà. Tôi nói “cám ơn” mà lòng xúc động thật nhiều.

 

 *

 

Bên cạnh những niềm vui ấm áp, Hà Nội trong tôi còn là những phút cô đơn, mặc cảm, chạnh lòng. Tôi sẽ không bao giờ quên được những buổi tối mùa đông sau giờ dạy tôi đứng chờ xe bus. Trời lạnh, tôi đứng co ro bên những người xa lạ, cảm giác mình thật lẻ loi. Không một người quen bên cạnh tôi. Tôi rất muốn khóc nhưng kìm lại được. Đứng giữa cái lạnh của buổi tối mùa đông và nghĩ đến sớm mai, mẹ tôi thức dậy đi làm trong giá rét, lòng tôi chợt xót xa.

 

Tôi cũng không sao quên được những đêm mưa, tôi thường mất ngủ. Bao nhiêu lo lắng đầy ắp trong tâm trí tôi. Việc học hành, công việc hiện tại, dự tính xin việc mai kia. Rồi có những lúc tôi ước gì tôi có người yêu. Để những ngày cuối tuần hay nghỉ lễ, tôi không phải ngồi làm bạn với chiếc computer. Để cuộc sống của tôi thêm những tiếng cười, thêm những nhớ nhung, thêm những hờn giận. Để tôi có thể thả hồn trong giấc mơ lãng mạn về “ngôi nhà và những đứa trẻ”. Vậy mà, tôi vẫn ca bài ca độc thân hoài rồi lại tự an ủi mình : tại vì duyên số chưa đến.

 

 *

 

Hà Nội trong tôi còn là nỗi thao thức về những phận người nhỏ bé tội nghiệp. Một buổi tối khuya, tôi đang ngồi đọc sách chợt nghe tiếng rao : “ai khoai nướng đây”. Tiếng rao chậm buồn, có vẻ mỏi mệt của một người già. Tôi bỏ sách, chạy ra hành lang ngó xuống đường. Ánh đèn đường hiu hắt soi bóng một người đàn ông gầy nhỏ đang đẩy xe hàng khiến lòng tôi thương cảm. Dù rất muốn chạy xuống, mua giúp ông vài củ khoai nhưng tôi không thể vì giờ đó nhà chủ đã khóa cửa. Sau đó, cứ mỗi lần nghe tiếng rao, tôi lại chạy ra hành lang ngó xuống đường đến khi nào ông bán khoai đi qua. Tôi tự hỏi sao ông không bán vào ban ngày để ít nhất tôi có thể gặp ông một lần. Lần nào, tôi cũng không khỏi băn khoăn : hôm nay, ông bán có được nhiều không?, khi nghe tiếng rao của ông chìm lỉm vào màn đêm tĩnh lặng.

 

Không ít lần trên đường, tôi bắt gặp những người già cả, những đứa trẻ nhỏ đi ăn xin. Tôi không có nhiều tiền để cho họ, chỉ một ít tiền lẻ, mong rằng sau một ngày, họ sẽ có một bữa cơm để ấm lòng. Cũng không ít lần tôi bắt gặp những người thu mua đồng nát, với những chiếc xe đạp cọc cạch và tiếng rao lạc đi giữa những âm thanh ồn ào khác. Những cô, những chị bán hoa quả đã rong ruổi khắp những phố phường đông đúc. Họ đều từ những vùng quê trôi dạt lên đây kiếm sống, gánh nặng mưu sinh đè nặng lên vai. Ở chốn phồn hoa đô hội này, hóa ra cũng không thiếu những mảnh đời nhọc nhằn đáng thương.

 

Hà Nội trong tôi còn là kỉ niệm không quên về những ngày tôi học tập dưới mái trường ĐHSP. Tôi đã được gặp bao nhiêu thầy cô giáo mà trước đây tôi chỉ mới thấy tên họ trên những cuốn sách. Không ít giờ lên lớp khiến tôi say mê, hứng thú. Thỉnh thoảng, tôi còn đi học ké những chuyên ngành khác rồi bị mang tiếng là “chăm chỉ”. Ngày bảo vệ luận văn tốt nghiệp, tôi không khỏi nuối tiếc. Hai năm học, phút chốc qua đi như một giấc mơ. Tôi ghi nhớ những lời căn dặn chân tình của các thầy cô tôi yêu quý vào phút chia tay. Không chỉ đem đến cho tôi kiến thức, các thầy cô còn là những tấm gương về đạo đức, lòng yêu nghề để tôi soi mình vào đó, để hoàn thiện mình hơn trên con đường nghề nghiệp mà tôi đã chọn.

 

 *

 

Với tôi, hai năm sống và học tập ở Hà Nội là khoảng thời gian ý nghĩa và thú vị hơn rất nhiều so với bốn năm tôi học đại học ở một thành phố khác. Hai năm, tôi thêm trưởng thành, vững vàng. Hai năm và mãi mãi, Hà Nội đã trở thành một phần đời sống của tôi. Hà Nội lung linh xa vời trong trí tưởng tượng của tôi khi tôi chưa đến với Hà Nội. Hà Nội hôm nay trong tôi không chỉ là Hà Nội của thi ca nhạc họa mà là một Hà Nội đời thường, gần gũi, thân quen.

 

Ngày tôi rời xa Hà Nội cũng là một ngày tháng mười nhiều nắng như cách đây hai năm tôi đến đây. Tôi nghe lòng mình bâng khuâng, như có nỗi buồn len nhẹ trong tim. Đường xá, cảnh vật dần lùi xa sau lưng tôi. Nhìn ra cửa kính ô tô, tôi ngắm một lần nữa dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa. Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ giản dị mà tôi từng đọc trước đây : “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn” (thơ Chế Lan Viên)

 

Và tôi hiểu rằng tôi đã để lại một phần tâm hồn mình với Hà Nội mến thương.

 

Nguyễn Hạnh Nguyên

Hạ Long, tháng 3 - 2011

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2519)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3156)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3559)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3795)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4471)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3947)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4960)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3190)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 3101)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8903)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15829)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14851)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15206)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3156)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4471)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5788)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3190)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4665)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4186)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4948)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3559)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3795)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3947)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4960)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2519)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3101)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3186)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3695)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11763)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28162)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34550)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34625)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9281)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11542)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2476)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5788)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5259)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5304)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4606)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6567)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5796)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7662)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.