- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,243

Thơ Trương Văn Vĩnh

21 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 94646)


truongvanvinh_dn_2011-content 

 Trương Văn Vĩnh_ Đà Nẵng 2011


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Trương Văn Vĩnh sống và làm việc tại thành phố Đà Nẵng.

TCHL


MIẾNG MỒI GIÁ TRỊ

Tôi bật bếp ga
lửa rừng rực nóng cái chảo dầu sôi sùng sục
rồi cho tất cả các “giá trị” còn lại vào
những giá trị của tôi còn tươi roi rói máu
đảo qua đảo lại
(medium, or well-done)
đem ra nhậu với ly rượu phế tích chiều nay

Cái loại “giá trị chín vừa” là mồi nhấm khi tỉnh
Cái loại “giá trị chín kỹ” là mồi nhấm khi say

Té ra lâu nay còn có một miếng mồi ngon đến vậy để nhậu với loại rượu cay đến vậy mà tôi không hay biết
và nay tôi đã biết rồi
biết để mà say
say
tôi say
say man dại với “giá trị chín vừa”
man dại với “giá trị chín kỹ”
man dại với ly rượu phế tích

Vâng, tôi say
say như vậy đấy bạn bè ơi!

(Đà Nẵng 12/2009 )

MỘT NGÀY CHẲNG RA GÌ

G là kiến trúc sư
anh ta nói với tôi rằng:
Kiến trúc là một loại âm nhạc vĩnh cửu
khi mà thế giới của loài người quá dị hợm
thì kiến trúc đã cho anh cảm hứng
tồn tại vượt thời gian
Tôi nói với anh ta rằng:
Chưa hẳn đã như vậy
thế giới của loài người đang rất gấp gáp
mọi thứ đều có thể banh xác trong tích tắc
vì lòng đố kỵ và tàn bạo của chính con người
Rạng sáng mai quả đất sẽ nổ tung
nếu như đêm nay không còn một bàn tay người nào đó kìm hãm
đó là lý do
chẳng có khái niệm vĩnh cửu nào
G và tôi đã cãi vã với nhau một trận tơi bời đến điên loạn
và tận cùng của sự điên loạn ấy
chúng tôi rất tỉnh táo
tỉnh táo trong một ngày chẳng ra gì.

 

Đà Năng, 2010

T.V.V

 

 

XÁCH NGƯỢC

Phố xách ngược bàn chân anh từ hôm qua
Ngay khi gió xách ngược tiếng chim
Dưới bầu trời
Dưới vòm lá
Ngay khi nắng xách ngược ngày vào đêm
Ngay khi những khoảng lặng
Thời gian
Không gian
Xách ngược ánh sáng vào vùng
Tối
Đen
Đặc quánh
Không cho phép con đường lối đi nào
(những con đường bây giờ không có lối đi)
Ở đó
Loài rắn độc rực sáng đôi con mắt độc dược
Tiêm nọc độc vào tiếng chim
Chết
Tiêm nọc độc vào bàn chân anh
Khằng khụa
Trong sự hỗn loạn gần chết ấy
Anh đi theo lối di trú của ruồi
Anh
Theo
Gặp
Sống
Cùng những số phận ruồi bu
Này em
Chìa tay ra, dù muốn hay không...

Đà Năng, 2010

T.V.V

 

 

LỐI ĐI KHÔNG MÀU

dấu vết bàn chân trên lối đi không màu
nhiều nỗi buồn trong anh đã nhập viện
không có chỗ nằm
sao nỗi buồn không chết ngay trên đường nhập viện
mà đòi theo cái chết khốn nạn đời anh

rồi niềm tin cũng bước trên lối đi không màu
niềm tin trong anh nhập viện
một bệnh viện không bò, đứng, ngồi, lết . . . nằm không mơ
anh cởi niềm tin trong chiếc áo đẫm mồ hôi
chiếc áo cởi niềm tin khổng thể cởi
niềm tin chết
không lần điều trị đầu tiên hay cuối cùng

còn có ước mơ lội trên lối đi không màu
ước mơ trong anh nhập viện
ước mơ bò lê lết
bệnh viện khóc
nước mắt đổ dài
ước mơ nhiễm bệnh

trong lần hấp hối duy nhất cuộc đời
anh
nhìn
nghe thấy
vô số kể
những
nỗi buồn
niềm tin
ước mơ
chăn chân đi tìm bệnh viện
trên rất nhiều lối đi không màu
chết
trên đường
bệnh viện
có còn sự kiện cấp cứu nào không?

 
02/6/2010


Con tàu ngang ngạnh


Ngang ngạnh như thế là đủ rồi con tàu ơi
nằm trên thi thể ngày như thế thì cũng ruỗng mục thôi con tàu ơi
dừng lại để ngắm cõi người như thế là cũng thấu hiểu rồi con tàu ơi

Thức thách thời gian ư?
Thức thách lòng người ư?
Sai rồi
chỉ có thể bào mòn những cái hốc mắt nhạy cảm mà thôi
Nghe lời ta nói đây!
hãy về với biển đi
hãy về với cái thân phận lênh đênh của mình đi
hãy vượt sóng cùng những ước mơ đi
đời đang cần lắm
Hãy làm vậy đi!
rồi đời sẽ khác

Sao không về với biển đi
Hay là!
hay là không tin biển nữa
hay là biển gầm gừ lời của những tên cướp biển
hay là hành động man rợ của bọn người kia
hay là sự xua đuổi bắt cướp trắng trợn

Thôi, về với biển đi
khôi phục lại niềm tin đi
rồi đời sẽ khác
Về với biển đi
ta thương cho sự ngang ngạnh của mày quá
về với biển đi
đừng ngang ngạnh nữa
Tàu ơi!

(*)viết bên con tàu trên bờ biển Thuận Phước
Đà Nẵng 01/01/2010


TÔI THẤY RÕ NỖI CÔ ĐƠN RỜI RẠC CỦA TÔI

1. chiều đi qua tay biết bao nhiêu người mà tôi dại khờ chi ôm hết như chiều của riêng tôi để rồi chiều chết dần trong tầm tay thì tôi về với đêm đen mà lòng cô đơn trơ trọi như miền giông gió

2. gió ơi gió chơi trò ú tim với mái tóc dài của người thiếu nữ mà chi để rồi lẻn vào tim tôi đánh thức tình yêu không tuổi trỗi dậy vô hướng như một gã du mục mãn đời lang thang

3. mưa! mắt tôi mơ loang bóng mưa, từng sợi mưa dài chia ba khúc, khúc đầu trôi về quá khứ, tôi sống thời đang sống khúc giữa, khúc cuối chạm đất là tương lai đầu thai về làm bụi bặm bám rát mặt người

4. tôi nhặt từng lóng tay mình trong ma thuật ngón của trần tuấn và ngồi đối diện với mười ngón tay của mình chợt rùng mình khi biết chính tôi là kẻ chăn bò trong thành phố suốt đời đi tìm vạt cỏ lưa thưa mà ngóng đôi mắt buồn về thảm cỏ xanh rì thèm được như kẻ chăn bò ở quê mà không dám quay về vì đã lỡ dán lên mình cái model thành phố

5. chiều nhìn về phía nghĩa trang mù khói buồn những âm a của phạm phú hải xuôi về miền cực lạc sống dưới khe nước ngầm chảy từ trong đá mấp mem miền hoang cát mà mấy ai nhớ nhớ quên quên!

6. đêm co cụm bó gối ngồi chờ từng cơn lạnh đi qua! cái buốt lạnh viên hồn tôi thành viên đá nhỏ rơi tõm vào núi đá chôn vùi thoi thóp từng khúc thở sau cùng rồi chết, chết không lối thoát như những vần thơ của gã nguyễn lãm thắng hiện thời, và chết như ai đó đã viết về cái chết của kẻ làm thơ

7. đời nó dạy (mất dạy?) cho tôi những cái nhìn phiến diện mà chả có cái phiến diện nào ra cái phiến diện nào, thôi thì phiến diện tôi hay phiến diện đời hay là gì, gì, gì đó nữa thì trong tôi là sự cô đơn rời rạc như một kẻ chán đời cởi niềm tin trong chiếc áo đẫm mồ hôi.

8. vâng! rạc rời, rời rạc, rạc rời, rời rạc... phần tôi!

Đà Năng, 2010

T.V.V

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1095)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1165)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1845)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5880)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5851)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13188)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30089)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81229)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 522)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối