- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,360

Con mèo ngái ngủ

05 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 101366)


zzz_dinhcamly-content
 ZZZ_Photo by Dinh Cam Ly



Lần đầu tiên đến Hà Nội, hẳn bất kỳ ai, nhìn thấy điều gì cũng dễ dàng xúc động, cũng làm gợi nhớ đến những hình ảnh bàng bạc trong ký ức đã gặp gỡ ở tiểu thuyết, thơ ca... Nhưng với tôi, đáng nhớ hơn cả, đó là những cô thiếu nữ Hà Nội. Trời ạ, cứ mười cô thì có đến chín cô rưỡi đẹp mê hồn. Nói mê hồn là chắc chưa chuẩn xác, phải nói rằng đẹp và sâu lắng tựa bước ra từ những trang sách Tự Lực văn đoàn (!).

Chẳng hạn, dễ hiểu nhất là cô gái đang ngồi trước mặt chúng tôi, với mái tóc xõa ngang lưng, gương mặt trái xoan, đôi mắt tròn xoe vời vợi... Cô ta là cô hàng cà phê - có thể con bà chủ, em bà chủ, hoặc chính cô là bà chủ. Nói chung, dù sao, thì mỗi lúc bước vào cái quán nhỏ nhắn, chỉ đủ vài ba bộ bàn ghế này, chúng tôi chỉ gặp mỗi mình cô chào hỏi, phục vụ, chuyện trò... À, quên mất, phải kể thêm, ngoài cô gái ra, còn có một con mèo... Con mèo lông trắng, đốm vàng đôi khi nằm trong vòng tay của cô, những lúc cô thảnh thơi; đôi khi nó lại ngồi trên kệ tủ gần chiếc đèn chụp, mơ màng ra chiều ngái ngủ.

Bởi vậy, mấy lần gặng hỏi tên, cô cứ chúm chím cười, tôi liền nói:
- Có thể tên cô là Bích, là Phượng, là Oanh, Yến, Loan, Quỳnh..., nhưng tôi xin phép gọi cô là Nga nhé!
- Sao gọi là Nga?
- Vì tôi cảm nhận tên cô như vậy là đúng nhất
Thực ra, ngay những buổi đầu đến hàng cà phê, vừa thấy hình ảnh con mèo ngái ngủ thường kề cận bên cô gái xinh đẹp tôi đã liên tưởng ngay đến mấy câu thơ của Nguyên Sa: “Hôm nay Nga buồn như con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trên tay anh...”. Song, tôi đâu dám nói toạc ra với cô ý này. Đã chắc gì tất cả những cô gái Hà Nội đều luôn thích thơ (?). Mà khi đã không thích thơ, cô nàng sẽ chê mình “sến” thì hỏng việc (!)
Thế nhưng, cô gái không bày tỏ ý kiến về cái tên Nga, mà sau vài giây ngẫm nghĩ cô lại hỏi:
- Mấy anh là nhà thơ, nhà văn ở trong Nam ra phải không?
Tôi giật mình, ngạc nhiên:
- Trời ơi, sao cô biết?
- Vì mỗi ngày thấy mấy anh uống cà phê xong lại đi bộ về đường Nguyễn Đình Chiểu, nơi cái trụ sở hội hè gì đó, em đoán mò thôi.
- Đúng quá rồi. Chúng tôi từ trong Nam, về đây tham dự Trại sáng tác... Còn về việc gọi tên Nga thì sao?
- Cứ cho là vậy. À, mấy anh sẽ ở đây bao lâu?
- Khoảng hai tuần. Nghĩa là còn chừng 10 ngày nữa.
- Như vậy, nghĩa là... ít nhất trong 10 ngày này em có tên là Nga.
Từ ấy, cả nhóm chúng tôi - những gã viết lách lăng nhăng từ miền Nam lần đầu ra đất Bắc mỗi sáng đến hàng cà phê đều gọi cô gái là Nga. Tuy nhiên, hầu như ai cũng hiểu rằng Nga dành cho tôi một cái gì đó rất riêng. Tôi có thể khẳng định điều này, vì cứ mỗi lần Nga đang bồng con mèo ngồi trên ghế mây, có khách hàng yêu cầu í ới thì cô chuyền hẳn nó vào tay tôi. Những lúc ấy, con mèo chỉ “meo” một tiếng nho nhỏ, rồi nằm yên thiêm thiếp. Ngược lại, có một ai khác nhoài người đến định ôm lấy mèo, thì nó đánh phóc một phát thật nhanh, chuồn mất.

Một buổi trưa, chỉ có mình tôi và Nga trong quán. May mà có con mèo ngồi một bên, tôi quàng tay lên bộ lông mịn màng của nó, nhanh chóng tìm được lý do mở đầu câu chuyện:
- Nga à, còn mấy ngày nữa về rồi, tự nhiên tôi không ngủ trưa được, thấy nhớ con mèo quá!
Nga bịt miệng cười khúc khích:
- Vậy à? Mấy người văn thơ này đa cảm quá! Thật khổ thân anh!
- Thì tôi bắt đền Nga đó!
- Em lấy gì đền anh giờ? Sao anh không đền con mèo?
- Vì Nga là người nuôi con mèo. Nga phải có trách nhiệm.
- Anh này... nói lý giỏi lắm. Thôi cứ cho là em phải trách nhiệm. Vậy phải đền anh sao đây?
Tôi thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy chiến thuật của mình thắng lợi hết nửa phần, hoan hỉ nói:
- Thực ra, tôi chỉ muốn có một kỷ niệm với Hà Nội sau khi ra về. Do đó, có hai cách giải quyết. Thứ nhất, là Nga hãy tặng tôi con mèo đem về. Mỗi lần, nhìn thấy nó, tôi lại nhớ đến Hà Nội, nhớ đến Nga...
Vừa nghe đến đó, Nga bật ngồi dậy, giành lại con mèo ôm vào người giẫy nẫy: “không được, không được...”, cứ làm như cô vừa phát hiện ra tôi là một tên lang thang chuyên bắt trộm động vật. Một hồi, chừng nhận ra mình phản ứng hơi quá, Nga lại từ tốn nói:
- Dĩ nhiên em biết anh đùa. Nhưng anh thông cảm, con mèo là bạn thân nhất của em. Em không bao giờ cho nó bất kỳ ai. Do đó, cách giải quyết thứ nhất anh nêu ra là không nhắc đến nữa. Còn cách thứ hai là sao?
Tôi vờ làm vẻ ngoan cố, mặc cả:
- Vậy thì khó thật! Mai này về nhà, không thấy con mèo tôi nhớ chết mất!... Hay là cách thứ hai, Nga phải đền bù thỏa đáng cho tôi...
- Muốn đền gì thì em đền, nhưng đừng nhắc con mèo nữa!
Tôi nói:
- Lúc nãy tôi đã nói, tôi muốn có một kỷ niệm nào đó với Hà Nội. Nếu không được con mèo...
- Đã bảo, đừng nhắc con mèo nữa!
- Ừ... Thôi thì Nga dành thời gian giúp tôi một buổi dạo chơi cho biết Hà Nội, trước khi ra về...
Nga ngần ngừ một lúc rồi hỏi:
- Bao giờ anh về? Anh đã đi chơi những nơi đâu rồi?
- Còn khoảng năm ngày nữa. Chẳng còn lâu nữa Nga ơi! Nga đưa tôi đi đâu cũng được. Chỉ cần đi với Nga...
Nga không nhận lời, cũng không từ chối. Cô ta nâng bổng con mèo, nói với nó: “Tự vì mày mà người ta kiếm chuyện đấy! Cứ đợi hẵng hay...”.

Tôi hồi hộp đợi chờ... bởi quỹ thời gian đã cạn dần. Bất ngờ, sau lần trò chuyện đó chừng ba ngày, vào lúc trả tiền cà phê buổi sáng, tôi nhận được một mảnh giấy nhỏ Nga nhét vào lòng tay. Mảnh giấy ghi: “Bảy giờ tối nay, anh quay lại đây. Em đợi”.

Cả ngày hôm ấy tôi cứ bần thần, mê mẩn vì hạnh phúc. Mặc cho Trại sáng tác, các ông nhà văn vang bóng Tô Hoài, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên... đến trao đổi chuyện trò, tôi vẫn chẳng còn hồn vía để nghe, chỉ mong sao chóng hết ngày...
Thế nhưng, đúng vào giờ hẹn, khi tôi đến hàng cà phê, thì nơi đây cửa ngõ đóng chặt im lìm. Tôi hụt hẫng, ngẩn ngơ, hết đưa tay day ổ khóa, lại tựa lưng vào bờ tường nối thuốc điếu này sang điếu khác... Một chị phụ nữ chắc ở lối xóm đang dỗ dành đút cơm đứa trẻ nhỏ trên vỉa hè, đến gần nhìn tôi tò mò nói:
- Cậu muốn uống cà phê à? Đến phải cuối đường cũng có mấy quán. Ở quán này người ta đóng cửa, cô bán hàng phải về quê, vì nghe nói bố mẹ cô ấy bệnh nặng, sắp qua đời.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Vậy nhà cô bán quán là ở nơi khác, chứ không phải ở đây sao?
- Tôi cũng không rõ, nhưng nghe nói nhà bố mẹ cô ấy ở ngoại thành, cách đây chừng dăm bảy cây số. Nơi đây chỉ thấy mình cô ấy và một bà chị, đi làm đâu xa, thỉnh thoảng mới ghé.
Vậy là suốt khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại tại Hà Nội, tôi cứ thường xuyên nôn nóng lảng vảng qua lại trước hàng cà phê. Nhưng cánh cổng nơi ấy vẫn cứ khép chặt, không hé mở, đến mãi đêm tôi cùng bạn bè phải mang hành lý ra ga...

***
Tận mấy năm sau, có dịp trở lại Hà Nội, tôi lập tức quay đến dãy phố có hàng cà phê năm nào. Chốn cũ, giờ đã quá nhiều đổi thay. Hàng quán san sát kề nhau, người ta qua lại tấp nập. Cũng có vài quán cà phê, nhưng là những quán lớn rộng, bài trí khang trang. Tôi làm sao xác định được quán mình cần tìm?
Mãi hồi lâu, dựa vào ký ức và sự phỏng đoán linh cảm, tôi bước vào một ngôi nhà nhỏ nhắn và khá vắng vẻ hỏi thăm. Một phụ nữ trung niên mang kính trắng thận trọng chậm rãi đứng chặn ngay trước cửa nhìn tôi:
- Anh muốn tìm nhà ai?
- Tôi muốn tìm một cô gái tên... Nga. Mấy năm trước cô ấy bán quán cà phê ở ngay đây, hoặc có thể không xa lắm dãy nhà này.
- Quán cà phê ngay đây... thì nhiều lắm. Có quán bán rồi nghỉ, nghỉ rồi bán, làm sao nhớ hết... Còn ở quanh dãy phố này, hồi xưa đến giờ, chẳng hề có một ai tên Nga!
Tôi còn biết lý do gì để hỏi thêm đây? Bất chợt, khi người phụ nữ vừa quay lưng, tôi thoáng nghe một tiếng “meo” nho nhỏ và thấy trên chiếc ghế mây bên trong, dường như một con mèo ngái ngủ, đang lười nhác trở mình... Nó chẳng thèm đưa mắt nhìn tôi.

Trần Trung Sáng
Đà Nẵng 11- 2010
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1098)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1167)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1849)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5884)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5862)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13196)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30094)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81229)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 607)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối