- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Giải văn chương Nobel 2010 MARIO VARGAS LLOSA

21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 86116)
mario_v_llosa_hl112
NHÀ VĂN TÁI TẠO THỰC TẠI

 Nói như Viện Hàn lâm Thụy điển vào đúng 13 giờ thứ năm 07/10/2010, theo lời thư kí Peter Englund khi ông công bố giải văn chương Nobel 2010 trao tặng cho (Jorje) Mario (Petro) Vargas Llosa, là như sau. Nhà văn xứ Pêru này trúng giải nhờ đã: « Thể hiện và phác họa toàn diện cơ cấu quyền lực và hình ảnh sắc cạnh chạm khắc nỗ lực kháng cự, tinh thần phẫn nộ và thành bại của cá nhơn con người. » Về mặt nghệ thuật: « Ông là nhà văn đã triển khai thuật kể chuyện theo phong cách quả tình kì ảo. » Về mặt con người của mình: « Qua tác phẩm, ta biết ngay ông là một con người say sưa trong hành xử. Hễ thấy mình phản ứng rập theo bổn sắc ấy, ông tỏ ra hết sức rung động và lấy làm vui vô cùng. »
 Ngay khi được tin đoạt giải, đương sự liền tuyên bố trên đài truyền tranh sở tại: « Tôi rất mừng cho mình và nhứt là cho nền văn chương châu Mĩ latin nay được rạng rỡ thừa nhận. »

Thân thế, sự nghiệp

 Thật ra, nền văn chương châu Mĩ latin viết tiếng Bồđàonha và Tâybannha đã được rạng rỡ thừa nhận đâu phải mới đây. Dầu không thể sánh ngang với các nền văn chương Bắc Mĩ (Hoa kì và Canađa) và châu Âu, nhưng trội hẳn châu Á, kể cả Úcđạilợi và Tân Tâylan. Cứ nghĩ tới các giải Nobel đã lần hồi trao tặng cho nền văn chương châu Mĩ latin trong vòng già nửa thế kỉ qua mà coi: * năm 1967, cho nhà văn Côlômbia Miguel Angel Asturias (1899-1974) (1), * năm 1971, cho nhà thơ Chilê Pablo Neruda (1904-1973), * năm 1982, cho nhà văn Côlombia Gabriel García Márquez (2), * năm 1990, cho nhà thơ Goatêmala Octavio Paz. Và * năm 2010 này bất ngờ cho nhà văn Pêru hụt giải biết bao nhiêu lần trước đây.
Mario Vargas Llosa sanh năm 1936 ở Arequipa, một thành phố nhỏ miền nam xứ Pêru, dưới chưn núi lửa Misti. Năm 14 tuổi, mới vừa sạch mũi, đà vô học trường quân sự Leoncio Prado, thời kì này hằn lại trong tâm trí biết bao kỉ niệm để đời. Sẽ biến thành đề tài cho cuốn tiểu thuyết ăn khách đầu tiên là tác phẩm La ciudad y los perros (Thành phố và lũ cầy tơ – 1963). Tập tự sự hư cấu này (3) miêu tả cuộc sống của lũ cầy tơ học viên trong trại huấn luyện, bị kỉ luật cay nghiệt của quân đội hà hiếp, sỉ nhục, đè đẩu cỡi cổ trong lúc ngọn gió tự do thông thoáng thổi qua trên thành phố. Rồi vào đại học San Marcos ở thủ đô Lima. Kiếm cơm bằng nghề sửa bản in và cộng tác với báo chí, đặc biệt với tập san Litteratura (Văn chương) và nhựt báo El Commercio (Thương trường). Năm 1958 xin được học bổng, sang Madrid, thủ đô Tâybannha, biên soạn và bảo vệ luận án tiến sĩ về Rubén Darío (1867-1916), nhà thơ Nicaragoa chủ soái trào lưu thời mới ở châu Mĩ latin.
Từ đó, nhứt là từ khi tác phẩm Thành phố và lũ cầy tơ trúng giải Biblioteca Breve (Thư viện Breve) và Critica (Phê bình) được chuyển dịch ra hơn hai chục ngoại ngữ, Mario Vargas Llosa nghiễm nhiên trở thành nhà văn ăn khách, nổi tiếng trong nước, ngoài nước. Tiếp liền là cuốn La casa verde (Ngôi nhà xanh lá – 1965), miêu tả cuộc sống đối lập giữa vùng khỉ ho cò gáy hoang dã và vùng phố thị huyên náo rầm rộ, cũng được chuyển dịch ra ngoại ngữ và trúng các giải Critica và Quốc tế Rómulo Gallegos. Thường xuyên được mời nói chuyện trong đại học Âu, Mĩ, Úc. Không chỉ chuyện nghệ thuật mà luôn cả diễn biến thời sự trên thế giới, văn học, chánh trị, kinh tế, xã hội. Khi giảng dạy, khi tọa đàm bàn luận. Đồng thời với một văn nghiệp ngày càng đồ sộ, nhiều sắc màu.
Trong số tác phẩm đề tài đa dạng, ngoài hai tập vừa nhắc tới trên, phải kể mấy thiên truyện mà giới nghiên cứu và phê bình đồng thanh ca ngợi nội dung và hình thức. Sơ lược theo thứ tự thời gian xuất bản: Conversación en La Catedral (Chuyện trò trong quán ‘‘Thánh đường’’ – 1969) giữa chàng con trai với lái xe của người cha, vẽ nên cuộc đời bất lương của ông ta trong xã hội Pêru đầy nhũng loạn, lưu manh, chụp giựt, cướp bóc, đĩ điếm; Pantaleón y las visitadoras (Pantaleón và chị em giải sầu – 1973), biếm họa tánh khí ngông cuồng mù quáng trong quân đội và giáo phái; La tía Julia y el escribidor (Bà dì Julia và thằng cạo giấy – 1977), tự sự tiểu thuyết, câu chuyện nửa hư nửa thực xảy ra trong thời kì xã hội Pêru xáo trộn tùng phèo; La guerra del fin del mundo (Cuộc chiến tàn phá địa cầu – 1981), biến động trên chánh trường xứ Brazil vào giữa thế kỉ XIX … Và nhiều nữa, trên dưới 25 tác phẩm thuộc loại hư cấu, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản, và khoảng 10 cảo luận đủ loại đề tài, văn học, xã hội, chánh trị, lịch sử. Đặc biệt vào đầu thập niên này, hai kiệt tác không thể lướt qua là các cuốn La Fiesta del Chivo (Lễ hội Dê xồm – 2001) và El Paraiso en la ostra esquina (Đằng kia là thiên đường – 2002), điển hình văn tài của tác giả trong công trình xây dựng tiểu thuyết.

Tái tạo thực tại
Hai kiệt tác này dựa trên cuộc đời các nhơn vật chánh trị, văn hóa xã hội. Nhơn vật, với cả hai nghĩa lịch sử và tiểu thuyết, làm nền cho cuốn Lễ hội Dê xồm là nhà độc tài Rafael Leodinas Trujillo y Molina (1891-1961) ngự trị một thời gian dài ở Ciudad Trujillo (Thành phố quốc gia Trujillo) (4). Còn cuốn Đằng kia là thiên đường thì trên cuộc đời nhà tranh đấu nữ quyền và quyền lợi thợ thuyền Flora Tristán (1803-1844) và cháu ngoại của bà là họa sĩ Paul Gauguin (1848-1903). Họ diễn tấu trên trang sách qua một văn phong đặc sắc, nội dung và hình thức lôi kéo, hấp dẫn..
 ¤ Lễ hội Dê xồm
 Nhà lãnh đạo tối cao và lãnh tụ vĩ đại Rafael Trujillo (5) trị vì nước Cộng hòa Trujillo với bàn tay sắt đẫm máu từ đầu thập niên 30 thế kỉ trước cho tới năm 1961 thì bị bọn làm phản sát hại. Đằng sau hình ảnh lịch sử đó, chuyện gì đã trải qua trong đầu của đương sự? Trong tâm trí và trong cuộc sống hằng ngày của đám đông run rẩy khiếp sợ hay bị mồi chài, câm miệng hến để sống còn. (6) Đây mới là chủ đích của Mario Vargas Llaso, xây dựng tác phẩm khớp với loại tiểu thuyết mà các nhà văn danh tiếng: Cuba Alejo Carpentier (1904-1980), Côlombia Gabriel García Márquez (2), Mêhicô Carlos Fuentes, Paragguay Augusto Roa Bastos (1917-2005) (­7) và chính tác giả đã đề xuất, thách đố với nhau: phác họa chế độ độc tài chuyên chánh hằng ngự trị ở châu Mĩ latin từ xưa tới nay.
 Thế là tác giả chiếm dụng lịch sử, biến nó thành phương tiện tái tạo một chế độ chẳng những tàn bạo, hung hãn, mà còn trào lộng, lố lăng. Không chỉ đột nhập tiền sảnh của thứ quyền lực cha truyền con nối, ác độc, mà còn lọt vô tận tâm can và đầu óc bọn mưu phản (sắp và đã) ám hại lãnh tụ của mình. Lọt vô cả trí óc và tâm khảm của hai nhơn vật hư cấu là ngài bộ trưởng thất sủng Augustin Cabral và trưởng nữ Urania của ngài. Tác giả biện minh cho tánh chất hư cấu của hai nhơn vật này một cách khái quát như sau: « Đây là tiểu thuyết, chớ không phải lịch sử. Tôi lấy Lịch sử làm nguyên liệu, nhưng cho phép mình tùy cơ ứng biến như bất kì tiểu thuyết gia nào. Tôi chỉ căn cứ trên nền tảng cốt lõi, trên tác phong và cuộc đời của Trujillo nhìn thấy bên ngoài, chớ không theo dõi sát sao hết mọi tình tiết. Tất nhiên là có nhiều nhơn vật và tình thế hư cấu, mường tượng. Ngay cả các nhơn vật lịch sử, Trujillo, đám phản loạn cũng được miêu tả trong truyện như nhơn vật tiểu thuyết. Tôi không gò ép mình, tùy cơ cải biến tiểu sử của họ, thêm mắm thêm muối, gia giảm góc cạnh. » Lại nữa: « Một chế độ độc tài chuyên chế hạng này phải được phác họa bằng thủ thuật tiểu thuyết mới hòng với tới sự thật. Là vì, chỉ cần nghĩ tới những chuyện bí mật, mờ ám và ghê rợn nhứt hằng bị che giấu, vùi lấp không để lại dấu vết. Thành thử phải bổ sung bằng bộ óc của nhà văn. »
 Trong số các nhơn vật lịch sử và tiểu thuyết diễn tấu trên 604 trang sách, trước tiên phải kể: * Rafael Trujillo, con Dê xồm cực quyền thống trị toàn thể tinh thần, tâm trí dân lành, và cả tủ sắt: tài sản của i gấp bội ngân sách nhà nước, và tình dục: ngủ với vợ các bộ trưởng hòng thử nghiệm lòng trung của họ - nhiều kẻ hiến dâng cả con gái còn trinh của mình. Chung quanh nhà cha già dân tộc này (5), còn có nhiều nhơn vật khác chẳng kém phần dị dạng, dị thường. Chẳng hạn: * Tướng Roman, bị tóm cổ sau khi nhóm làm phản ám sát Rafael Trujillo, phải chịu nhục hình vì quá ư tê liệt: bị tra tấn dã man bốn tháng trời đằng đẵng, luôn có bác sĩ kề cạnh sẵn tay cứu sống hễ ông ta sắp chợt chầu trời, kéo đủ thời gian cho chú chàng Ramfis tra tấn tiếp càng lúc càng tinh vi. * Ramfis Trujillo, nhơn vật quả tình bi đát, trong tiểu thuyết cũng như trong cuộc đời: sanh ra trong gia đình toàn trị độc đoán khác nào là máu mủ của những tay tàn bạo khét tiếng kiểu Claudius Nero thời Lamã cổ, Adolf Hitler thời Đức quốc xã hay Ioxxìf Xtalin thời Liên xô. Khó bề có một đời sống thông thường: đại tá năm lên 9, thăng cấp tướng năm 12 tuổi, làm sao mà chẳng trở thành quái vật vô độ, bất nhơn, hiểm ác: bạo lực thực thi trong thời gian sáu tháng trời còn khủng khiếp hơn tổng số bạo lực gom lại suốt ba mươi mốt năm cha mình ngự trị trong nước.
  ¤ Đằng kia là thiên đường
 Bà là một người đàn bà già trước tuổi, bịnh hoạn, kiệt quệ. Đã mỏi mòn thân xác và tâm thần trong trận mạc xã hội, mà vẫn ngang nhiên đọ sức với định kiến, với truyền thống ngàn đời trong công cuộc đấu tranh giành quyền cho phái nữ (nay gọi là nữ quyền) và cho tầng lớp thợ thuyền (nay gọi là giai cấp vô sản) bị bóc lột thời ngành công nghệ phôi thai. Đó là bà Flora Tristán chào đời năm 1803, hơn hai thế kỉ trước. Còn hắn thì là một họa sĩ mới vào nghề, tác phẩm ế ẩm. Rời bỏ Paris, nếp sống thanh bình, vợ con năm đứa và cả tên cúng cơm để đắm mình trong bầu trời phóng khoáng miệt Vạn đảo thái bình dương. Đặt cho mình tên mới là Koké-le-Maori, Côkê thổ dân bổn xứ. Đó là họa sĩ Paul Gauguin, sanh năm 1848, bốn năm sau bà ngoại qua đời. Mẹ hắn, Aline Gauguin, nhũ danh Tristán, là con gái của Flora. Dĩ nhiên Flora Tristán và Paul Gauguin chẳng bao giờ giáp mặt nhau. Nhưng họ gặp nhau trong máu huyết, mang trong mình cùng chung một gien.
 Cuộc đời ngắn ngủi, 41 năm, của * Flora Tristán là những ngày tháng rộn rịp, không một lúc rảnh rỗi. Lấy chồng, đẻ con ba đứa, trong khi hoạt động xã hội đòi phải có mặt khắp nơi. Tổ chức, dự kiến, thảo luận, điều tra. Khảo sát nền công nghệ và đời sống thợ thuyền. Mấy tập kí sự Promenades dans Londres (Dạo chưn trong thành phố London) và Tour de France (Vòng quanh nước Pháp) ghi chú công cuộc quảng bá í tưởng và thi hành nghĩa vụ: tổ chức giới thợ thuyền thành lực lượng đủ sức giành quyền lợi tối thiểu, kêu gọi thành lập Quốc tế công nhơn. (8) Công tác hoạt động không ngừng nghỉ này đủ để chứng tỏ tinh thần nữ quyền của đương sự. Rằng bà là một phụ nữ xuất chúng, can đảm, có tâm huyết sửa đổi thế giới, hướng nó về phía thiên đường đằng kia. Trong lúc thằng cháu của bà là * Paul Gauguin cũng tìm thiên đường cho mình trên quả địa cầu. Không phải thứ thiên đường trong xã hội của người bà, mà là thiên đường của cái đẹp, một thiên đường di sản của nhơn loại. Cho rằng nghệ thuật phương tây đà tới thời tàn tạ, bởi nó dần dần xa cách xã hội: « Nó bật rễ ra khỏi đời sống thường ngày. » Thế rồi hắn đi tìm thiên đường trong các xã hội sơ khai, nguyên thủy. Rời bỏ thành thị, rời bỏ nền hội họa cố hữu và cả vợ con, hắn lội suối băng rừng vượt đại dương qua tận Vạn đảo, tới Tahiti để cuối cùng dừng chơn trên đảo Marquises. Từ đây, hắn vạch rộng con mắt hội họa của Pháp, của châu Âu và, nói chung, của phương Tây cho nó thấy rõ rằng, ngoài nó ra, còn có biết bao nền nghệ thuật khác chẳng thua kém gì. Mà còn hứng khởi hơn nhiều. Sáng tạo của hắn từ đây đã lần hồi sản sanh các họa sĩ hiện đại, những Henri Matisse (1869-1954 – phái dã thú), Pablo Picasso (1881-1973 – phái lập thể) hay nhóm bích họa đầu thế kỉ XX ở Mễtâycơ (José Orozco, Diego Rivera, Alfaro Siqueiros và nhiều nữa).
Qua ngòi bút của Mario Vargas Llosa, hai cuộc đời nói trên xuất hiện như số phận của những con người không thỏa hợp với hiện tình xã hội và nghệ thuật. Nhưng vẫn hết sức là người: nhứt quán trong sở nguyện, say đắm trong hành động, bị ám ảnh bởi tâm huyết đi cho tới tận cùng chí hướng của mình - khiến cho cuộc đời và số phận của họ không khỏi đượm màu bi đát. Họ đã đi tới tận cùng mộng tưởng và đã trả giá rất đắt cho thiên đường đằng kia chắc gì thật sự là thiên đường. (9) Dầu vậy, cuộc đời long đong, số phận và thành bại của họ vẫn đáng được chú trọng, vì nó hé mở một cánh cửa tràn đầy hi vọng: thiên đường soi tìm vẫn có đó trước mặt, chờ đợi, trong tầm tay những ai mong muốn đồi thay nền xã hội bất công và nghệ thuật lỗi thời.

Muộn màng
Bao nhiêu lần hụt giải, phải đợi tới năm 2010 này Mario Vargas Llosa mới được viện Hàn lâm Thụy điển chiếu cố. Qua mặt bởi một số nhà văn thường thường bậc trung ít ai nghe tiếng, ít người say mê, thuộc hạng các khôi nguyên mấy năm gần đây, như những J.M. Gustave Le Clézio (2008 - Pháp) (10) và Herta Muller (2009 - Đức). Dầu đã được nhiều định chế văn học, trong nước, ngoài nước, liên tục choàng hoa trong thời gian già nửa thế kỉ, đã trao tặng cho ông những giải thưởng đáng giá. Như các giải Biblioteca Breve, Critica, Quốc tế Rómulo Gallagos, Tự trị Asturies, Planeta, Cervantès, Cino Del Duca chẳng hạn.
Muộn màng thay!

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 07-08/10/2010)
------------------- 
(1) Xem: Trần Thiện-Đạo, Cửa sổ văn chương thế giới (Nxb Văn hóa Thông tin – 2003 – tr.106-127), các mục: Miguel Angel Asturias - giải Nobel 1967, Bài văn mới nhất của Asturias và Nghĩ thêm về Miguel Angel Asturias.
(2) Xem: Trần Thiện-Đạo, Văn nghệ - Những nụ cười giòn (Nxb Hội Nhà văn – 2004 – tr. 288-293), mục: Gabriel García Márquez – nhà văn hiện thực huyền ảo.
(3) Tự sự hư cấu (Pháp: autofiction; Anh/Mĩ: faction = fact+fiction). Xin được phép dùng thuật ngữ chỉ chánh thức ra đời vào năm 1977.
(4) Nay gọi là Santo Domingo. Thời gian toàn trị, nhà độc tài quân phiệt Trujillo chẳng ngại lấy tên mình đặt tên nước. Khiến chúng ta không khỏi nghĩ tới tên mới của thành phố bị giải phóng nọ ở nước ta, cũng như tên Xtalingrad và Lêningrad thời trước ở Liên xô. Có điều là hai thành phố Liên xô nay đã bị xóa, mang lại tên cũ - xem: Trần Thiện-Đạo, Trăm năm cô đơn ở Aracataca (Hợp lưu, số 89, tháng 6 & 7/2006).
(5) Lãnh đạo tối cao, lãnh tụ vĩ đại, cha già dân tộc … là những danh từ thường dùng để tôn vinh các nhà độc tài, ở Cộng hòa Trujillo bấy giờ và ở nhiều nước khác.
(6) Nhớ lời bất hủ của Nguyễn Tuân (1910-1987) sau vụ Nhân văn – Giai phẩm (1955-1958): « Tôi còn sống sót tới nay, vì tôi biết sợ. »
(7) Xem: Trần Thiện-Đạo, Một vì sao rụng – Augusto Roa Bastos (E-van, ngày 20/04/2005).
(8) Karl Marx (1818-1883) nhặt lại í này, còn Friedrich Engels (1820-1896) nhiều thông tin khác do Flora Tristán đăng tải trước đó mà không hề nhắc tên bà. Họ không hề nghe biết hoạt động và đọc kí sự của bà chăng? Hay muốn dành lấy như do chính mình sốt dẻo nghĩ ra?
(9) Mượn chữ và í của Nguyễn Khắc Phê. Xem: Nguyễn Khắc Phê, Biết đâu điạ ngục thiên đường (Nxb Phụ nữ - 2010): chứng từ một thời kì lịch sử oan khiên qua chuyện kể gia đình. Nhan đề rút gọn câu Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820).
(10) Xem : Trần Thiện-Đạo, J.M. Gustave Le Clézio – Nhà văn lữ thứ (Hợp lưu, số 102, tháng 9 & 10/2008; Thể thao và Văn hóa cuối tuần, số 42, 17-23/10/2008), và Nhận định hay bừa phứa (Hợp lưu, số 103, tháng 1 & 2/2009).
 
 
Giải văn chương Nobel 2010 – 2

MÓN NỢ CỦA MARIO VARGAS LLOSA

 Dưới đây là bài phỏng vấn nhà văn giải Nobel văn chương 2010 do nhà báo Pháp Olivier Guez thực hiện đăng trên tờ Le Monde (Thế giới) ra ngày 15/10/2010. Trong bài, Mario Vargas Llosa nhắc tới hoàn cảnh nghe tin mình trúng giải, nhứt là món nợ của mình trong nghiệp dĩ văn chương và tình hình chánh trị xã hội hiện thời ở châu Mĩ latin. Tựa đề bài phỏng vấn là của người dịch.

Hỏi: Trong hoàn cảnh nào ông nghe tin mình trúng giải?
Đáp: Vào khoảng 5 giờ rưỡi sáng ở New York, nơi tôi trú ngụ hiện nay trong thời gian 6 tháng. Đang ngồi trước bàn viết đã nửa giờ, thì vợ tôi bỗng xán lại, vẻ mặt lạ lùng. Tôi đâm hoảng, chắc có tai biến gì đây. Nhưng bà bảo là có ông nào gọi điện muốn nói chuyện với tôi. Tôi cầm lấy máy, nghe có tiếng rầm rì đằng sau người nói tự xưng là thành viên viện hàn lâm Thụy điển. Chưa nói chuyện gì thì bị cúp. Ông ta lại gọi, lần này chuyển lời cho ông thư kí trường kì của viện hàn lâm báo cho tôi biết giải văn chương Nobel năm nay vừa được trao tặng cho tôi và tin này sẽ chánh thức công bố nội trong 14 phút sắp tới.
Hỏi: Ông nghĩ gì và nghĩ tới ai sau đó?
Đáp: Tôi lấy làm ngạc nhiên hết sức. Khó mà tưởng tượng nổi, bối rối vô cùng! Nhưng ngay liền sau đó khi tin được chánh thức công bố, khởi sự bùng lên một cuộc náo động khủng khiếp, điên loạn, chóng mặt: điện thoại liên tục réo gọi, khách khứa lũ lượt kéo nhau tới chúc mừng, gia quyến, bạn bè, đến mức tôi chẳng còn biết mình là ai nữa.
 Rồi tôi nghĩ tới những gì đã khởi đầu để dẫn đến ngày hôm nay: tôi thấy mình hồi lên năm đi học i tờ ở Bolivia và như một chiếc đũa thần mấy chữ này đã biến đổi đời mình và mở mang trí óc của mình đến mức nào. Tôi nghĩ tới má tôi ngày đêm đọc sách, lúc nào cũng động viên mình, giá còn sống thì chắc vui mừng rộn rã. Tôi nhớ lại thời trai trẻ khó khăn trong trường quân sự, lúc tôi nhận thấy mình muốn làm nhà văn, muốn hiến trọn đời mình cho chữ nghĩa, muốn sống bằng ngòi viết, một điều hoàn toàn không thể có, nhứt là ở Pêru, một nước coi văn chương như một thứ trò chơi dành để đỡ buồn trong những ngày rảnh việc mưa gió. Tôi cũng nghĩ tới ông cậu Luis Lucho, con người tuyệt vời đã đôn đốc tôi dấn thân đeo đuổi chí hướng của mình, bảo rằng không thôi thì sẽ đau khổ suốt đời. Còn hai người nữa, là: ông Carlos Barral, nhà xuất bản đầu tiên của mình, đã bất chấp lưới kiểm duyệt dưới thời Franco dám cho phát hành tác phẩm đầu tay La ciuda y los perros (Thành phố và lũ cầy tơ – 1963) của mình, và bà Carmen Barcells, nhà mô giới văn học, đã đổ rất nhiều công sức phổ biến tác phẩm của tôi. Và sau họ, tất nhiên là tới văn chương chữ nghĩa, tới niềm say mê của mình, tới phần thưởng phi thường mà văn chương chữ nghĩa trao tặng cho mình, nhờ đâu mà mình hưởng được những giây phút tuyệt trần trên cõi đời này, nó còn dâng hiến cho tôi bao nhiêu là giấc mơ, cung ứng cho tôi vô ngần khoảnh khắc cảm khoái tràn trề. Và cùng với cái may đó, tôi còn có thêm cái may nữa là được dành trọn thời gian cho văn chương chữ nghĩa.
Hỏi: Những nhà văn lớn nào đã gây hứng cho ông?
Đáp: Jules Verne, Victor Hugo, Alexandre Dumas. Họ giúp tôi rất nhiều, nhứt là hồi mới tập tễnh viết văn. Tôi rất thích văn chương thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX: thường xuyên đọc đi đọc lại Thomas Mann mà không khi nào thất vọng, đặc biệt cuốn Der Zauberberg (Ngọn núi huyền bí), một thánh đường chữ nghĩa cao vút. Các cuốn Quỉ sứ của Doxtoeivxki, Chiến tranh và Hòa bình của Tolxtoï, Moby Dick của Melville, Madame Bovary, tất nhiên, của đại văn hào Flaubert, nhà văn đã dạy tôi đủ điều hữu ích – lúc nào tôi cũng có các tác phẩm này trong tầm tay. Còn Faulkner nữa có ảnh hưởng sâu đậm và cả Malraux, Malraux của tác phẩm Thân phận con người, dưới mắt tôi là một nhà văn cực lớn nhưng không được nhìn nhận như vậy vì lí do chánh trị. Tôi nhớ hồi còn là một nhà báo trẻ ở Paris, vào những năm 60 thế kỉ trước, mỗi bài diễn văn ông đọc là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt diệu.
Hỏi: Sánh với các khôi nguyên giải Nobel mấy năm qua, ông thuộc hạng tự do tuyệt đối. Dưới mắt viện hàn lâm Thụy điển, chẳng điển hình chút nào…
 Đáp: Đúng thế, từ hơn bốn chục năm nay tôi cứ đòi được nhìn nhận như vậy. Cho tới cú điện thoại đặc biệt vừa rồi, tôi cứ đinh ninh rằng nhà văn nào mà thuộc dòng tự do tuyệt đối nhứt định không có cơ đoạt giải Nobel. Một trong những lí do khiến tôi nghĩ là mình không thế nào được giải, rằng mình là kẻ luôn bị trù dập, hoạt động báo chí và thời gian làm chánh trị đã lôi kéo tôi, thường là ngoài í muốn, vào nhiều tranh cãi. Thì ra tôi đã lầm!
Hỏi: Giải văn chương Nobel ông vừa đoạt có í nghĩa gì cho Nam Mĩ?
Đáp: Tôi hi vọng nó sẽ khích lệ các nhà tranh đấu cho dân chủ và tự do – kinh tế, chánh trị, văn hóa…-, điều mà tôi hằng mong mỏi và hoạt động không ngừng nghỉ từ mấy thập niên qua ít nhứt là hai tuần một lần trên trang sách trang báo. Tôi luôn luôn chống mọi hình thức chuyên chế chuyên quyền, khuynh hữu hay khuynh tả. Nhưng cũng nên nói rằng, mặc dầu vẫn còn phải đối đầu với nhiều vấn đề, Nam Mĩ hiện nay đang đi trên con đường hướng tới dân chủ, chỉ còn mỗi một nước độc tài – Cuba – và vài nước ‘’nửa-độc-tài’’ như Venezuela của ông Chavez hay Nicaragoa…Cánh tả đã chuyển Nam Mĩ theo đường hướng dân chủ và dân chủ xã hội, mở cửa thị trường như ở Chilê, Brazil và Uruguay, còn cánh hữu thì cũng dân chủ chẳng kém, một điều vô cùng mới mẻ ở lục địa Nam Mĩ.
Hỏi: Ông viết văn theo dạng đầu thế?
Đáp: Tôi dĩ nhiên là một nhà văn dấn thân trong xã hội, nhưng vẫn cho rằng văn chương và tiểu thuyết không thể bó mình chịu trận cho chánh trị trực tiếp chỉ đạo. Tuyên truyền chẳng khi nào ăn cánh với tinh thần sáng tạo.
 Hỏi: Ông sắp cho xuất bản một truyện mới tiếng Tâybannha trong tháng tới, xin ông cho biết đề tài của nó là gì.
 Đáp: Đó là cuốn Giấc mơ của anh chàng gốc Celte. Nhơn vật chánh là Roger Casement, người xứ Áinhĩlan đã thâu thập trước tiên các tài liệu chứng thực tội ác tày trời đã tàn hại xứ Côngô thuộc Bỉ và hành vi tiêu diệt thổ dân da đỏ ở miền Amazonie bị bọn chiếm đất trồng cao su sát hại vào đầu thế kỉ XX. Casement bấy giờ là bạn thâm giao với Conrad, đã giúp nhà văn này viết cuốn Giữa nơi tăm tối. Tôi đã sang Cônggô để sửa soạn cuốn sách, một kinh nghiệm quả thật kinh khủng.

TRẦN THIỆN - ĐẠO chuyển dịch
(Paris 16/10/2010) 
 
 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1576)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 1343)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1301)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1825)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2331)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 2014)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2199)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2185)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1380)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2302)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7668)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14815)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13658)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14092)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1823)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 2014)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2199)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2184)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1343)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2331)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1635)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2190)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1576)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 2375)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2847)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4439)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1301)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1380)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1971)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2458)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10277)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26792)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33330)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33362)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8069)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10403)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1823)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3399)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3352)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3220)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3545)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 5062)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4542)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5925)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.