- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,950

Em Kể Anh Nghe Chuyện Đất Trời

08 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 103719)

tranmongtu__2011-content

 Trần Mộng Tú_ 2010



Hôm nay là 30 tết, em dậy sớm lo bữa cơm chiều cuối năm. Từ ngày cha mẹ qua đời, mỗi năm em nhận làm Bữa Cơm Cuối Năm mời các anh chị đến nhà xum họp trước bàn thờ bố mẹ, vừa cùng nhau tưởng nhớ đến ông bà, cha mẹ, vừa mời các cụ về cùng đón với các con, các cháu một năm mới trước mặt. Sau đó Tết sẽ được tổ chức vào ngày cuối tuần cho cả gia tộc, với đầy đủ con, cháu, chắt của bốn gia đình.

Năm nay lạnh hơn mọi năm. Sương, tuyết và mưa nhiều quá nên những bụi hoa đào Nhật (Japanese quinces) không nở kịp. Hai hôm trước em đã trèo lên con dốc sau nhà thăm hoa, chỉ thấy những cái nụ rất nhỏ, em có cắt một vài cành vào cắm trong bình nước ấm, nhưng hy vọng hoa nở kịp ngày mồng một rất mong manh. Bàn thờ và phòng khách, phòng ăn chỉ có cẩm chướng đỏ, cúc đại đóa vàng, và thủy tiên đất.

Em cố muốn không nhắc đến những kỷ niệm ngày Tết xa xưa trên quê nhà, không muốn viết xuống những nỗi nhớ của mình về những cái Tết thời trẻ có cha mẹ bên cạnh nữa. Em đã viết về những tình cảm đó trong mấy chục năm nay rồi. Bây giờ em gói nó vào vuông lụa thật quý và đặt vào chiếc hộp thật đẹp, cất vào một góc thiêng liêng nhất của hồn em. Em không mở ra cho ai xem nữa đâu. Cái hộp đó là của riêng em, em mang theo bên mình, và em cũng chỉ mở ra cho một mình em nhìn vào thôi. Mở giữa một bình minh đẹp mùa xuân hay trong một đêm mưa lạnh mùa đông để trầm mình vào hạnh phúc đau thương chất ngất đó, một mình.

Sáng nay mặt trời đang rắc những chùm ánh sáng xuống như tấm lưới hồng rực rỡ tung trên mặt hồ xanh, có vài ba chiếc thuyền nhỏ kéo ra, nhưng không đủ hấp dẫn để em đứng ngắm, em còn lo chuẩn bị bàn thờ và bữa cơm chiều nay cho mười người. Em dậy thật sớm nên đến mười hai giờ trưa, mặt trời đúng ngọ, nắng vừa hắt trước hiên nhà em đã chuẩn bị xong bữa cỗ, Thật ra những món cá thu kho, thịt đông, vịt tiềm em đã làm hai hôm trước rồi.

Em nhìn chung quanh nhà, thấy vẫn thèm một cành đào. Mặt trời ngoài kia bỗng rực rỡ hẳn lên, em nghĩ mình phải đi lên dốc một lần nữa, may ra với sự hào phóng của ông trời, biết đâu những bụi đào đã thêm nụ.

Em mặc áo ấm, xỏ chân vào đôi giầy vải, cầm kéo leo lên con dốc sau nhà. Em muốn nói qua cho anh nghe về con dốc này. Khu xóm nhà em ở trên một vùng đất cao, chạy dọc và nhìn thẳng xuống hồ Samammish, nhà cửa cất trên ba từng đất. Nhà em thuộc từng thứ hai, giữa từng thứ nhất và từng thứ hai có một con đường mòn phân chia ranh đất, nơi đó là đất của thành phố, không thuộc về ai cả. Nhưng nhà phía trên và phía dưới đều được hưởng con đường mòn xanh biếc cỏ và những bụi dâu đen (black berries). Dốc nhà em từ trên cao đổ xuống sân sau, em đã xây thành một cái vườn ba từng, có hai mươi bậc thang leo lên. Năm nào, mùa hè em cũng bị gai đâm khi hái dâu chín. Ở đó, em cũng khám phá ra hai bụi Japanese quince khá lớn, nếu tháng 12 và tháng 1 dương lịch không lạnh lắm và tuyết rơi ít, hai bụi đó sẽ cho em những cành đào ngày Tết âm lịch (vào tháng 2 dương lịch )thật đẹp.

Hôm nay, tuy vẫn lạnh, nhưng mặt trời đang chiếu xuống những tia nắng rực rỡ, không gian thơm mùi cỏ mới, không khí như cắn được dòn tan, em vừa bước vừa tránh những cành gai nằm lẫn trong cỏ, em thích đếm gót chân mình in nhẹ trên nền cỏ hơi ươn ướt. Em chỉ đi khoảng bốn mươi bước là tới chỗ hai bụi hoa của mình. Lòng em tràn trề hương xuân mới, thấy yêu đời, yêu người, yêu cái phần đất mình đang đứng trên nó, yêu mình đang có mặt trước bụi cây, ngọn cỏ, yêu cả những cành gai dâu mình vô ý dẫm phải.

Nhưng anh ơi! Anh có biết em đã nhìn thấy gì dưới một bụi hoa đào chưa kịp nở không? Anh đoán đi, em chắc anh không thể nào đoán ra được đâu, vì sẽ ngoài sự tưởng tượng của anh: Em thấy một đôi nam nữ đang nằm quấn vào nhau. Họ không nhìn thấy em, không nghe thấy tiếng bước chân em. Cái lưng của chàng trai úp bên trên, nên cái gáy không có mắt, cô gái nằm dưới tuy mặt ngửa lên, nhưng hai mắt lại nhắm nghiền. Họ đang say đắm hôn nhau, bốn cái tai chắc đang điếc hay chỉ lắng nghe tiếng thở của nhau, nên họ không thấy em và không nghe tiếng bước chân em trên cỏ. Hay tại em bước nhẹ quá. Hay tại em không hiện hữu dưới mắt họ. Em đứng im, gần như nín thở, ngay cả không dám quay lui vì sợ gây tiếng động. Đám mây trên trời như ngưng bay, gió không thổi, nắng rực rỡ như lửa than, và em như đá tảng. Nắng chiếu óng ánh trên mái tóc ngắn của cậu con trai, chiếc sơ mi mầu xanh dương hơi nhàu nơi hai bàn tay cô gái níu. Cô níu chặt quá, làm cái cổ sơ mi như muốn lật ngửa ra soi rõ một cái gáy thanh xuân mạnh mẽ. Cô gái nằm phía dưới tuy không nhìn rõ hết khuôn mặt, nhưng vầng trán nhô ra rất thanh tân. Em đoán họ độ mười lăm, mười sáu tuổi.

Em cứ đứng ngẩn ra, không dám thở mạnh, em nghĩ đến hình ảnh vườn Địa Đàng trong kinh thánh, bây giờ chỉ cần một con rắn nhỏ chui ra trong bụi hoa đào thì hai người trẻ trước mặt em sẽ có tên là “Adam và Eve” ngay lập tức. Em thấy cả một quang cảnh trước mặt em, nếu đem đóng khung lại, thì sẽ là một bức tranh xuân đẹp nhất trong những bức tranh một đời em được chiêm ngắm. Em hoang mang tự hỏi: người ta yêu nhau đẹp như thế này, sao Thượng Đế lại sai thiên thần đuổi họ ra khỏi vườn Địa Đàng hả anh?

Em dón dén cố đi giật lùi lại ít bước trước khi quay lưng lại họ, em không muốn đánh thức họ ra khỏi cơn mê ái tình. Em bước rất khẽ về phần đất nhà mình, em xuống hết hai mươi bậc đá của cái vườn thang và em ngồi xuống bậc cuối cùng, ngay dưới gốc cây mộc liên (magnolia)

Em thở hắt ra, tưởng như mình vừa làm xong một việc gì rất khó. Nắng bây giờ như mạnh mẽ hơn, em nheo mắt lại cho khỏi chói, nhìn chung quanh mình, em thấy đất trời như gấm dệt. Cây mộc liên với những tán lá dầy xanh thẫm như lá bàng ở quê nhà; những bụi cây bách diệp (cypress), cây hoa kim ngân (honey sucker), cây hoa tử đằng (wisteria), mùa này chưa ra hoa, nhưng những chùm lá ngọc bích có những con chim nhỏ, ríu rít bay ra, bay vào, hay vụt đến vụt đi trong một không gian trong trẻo và tĩnh lặng, sao thanh bình quá đỗi! Hình ảnh đôi người trẻ yêu nhau trong buổi trưa nắng mùa xuân dưới bụi hoa đào vẫn chập chờn trước mắt em, em bỗng nhớ ra: Hôm nay không phải cuối tuần, giờ này trường lớp còn trong giờ học, làm sao họ lại ở đây được nhỉ? Họ từ ở dẫy nhà bên trên đi xuống hay ở dẫy dưới này đi lên. Em tần ngần một lúc, nghĩ, hay là mình hoa mắt, làm gì có người trẻ nào lại có thể dắt nhau vào một cái lối mòn đầy gai góc này mà tỏ tình với nhau trong giờ học. Em tính đi vào nhà, xong trong lòng vẫn thắc mắc, em đứng lên và thấy chân mình quay trở lại con đường mòn trên dốc.

Họ không còn ở đó nữa, họ đã rủ nhau trốn ra khỏi vườn Địa Đàng hay họ chưa bao giờ vào? Em nhìn xuống, cố tìm dấu vết cây cỏ bị nằm rạp hay gai góc bị gẫy, em không nhìn ra được điều gì cả. Những cành gai dâu vẫn nằm vắt chéo lồng bồng trên nhau, cỏ vẫn còn nguyên, từng mảng mầu xanh ngậm nước, ngay cả dấu giầy em cũng không có, nhưng em lại nhớ rất rõ, cái mầu áo xanh dương của chàng trai, đôi mắt nhắm với vầng trán thanh tân của cô gái. Em đứng im như đá, hay em đã thành đá tảng thật rồi. Nước ở hồ dưới kia bốc lên một đám khói trắng, gần như phủ kín mặt hồ và những ngôi nhà.

Giữa em và hai người trẻ đó, ai có thật trong một khoảnh khắc uyên nguyên của mặt trời vừa đúng ngọ?

Trần Mộng Tú

Mồng Một Tết, Tân Mão/2011

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1027)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1109)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1797)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5821)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5808)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13160)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30012)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81127)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20221)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 344)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”