- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mang xuống tuyền đài

30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 120997)
buivinhphuc_107-content

Vừa vào tới sở, Sinh được gọi lên văn phòng giám đốc. Nơi đây hai người cảnh sát Na Uy đang chờ Sinh. Họ không mang vũ khí nhưng vẫn tỏa chiếu quyền lực. Sinh hỏi lý do, họ chỉ nói được lệnh đón Sinh về ty an ninh thành phố.

Tiếp Sinh là một người lớn tuổi, mặc thường phục. Khi bắt tay Sinh, ông ta giới thiệu tên Henrik. Chờ Sinh yên vị trên ghế đối diện, Henrik đọc tên, số cá nhân và địa chỉ của Sinh trên xấp giấy trải trước mặt. Sinh xác nhận. Ông ta nói tiếp, giọng trầm đều:

- Một phụ nữ Việt Nam tự tử đêm qua bằng thuốc ngủ trong phòng một khách sạn, đã để lại một lá thư tuyệt mệnh đề tên ông nên chúng tôi muốn ông cung cấp những chi tiết cần thiết.

Sinh giật nẩy mình. Luồng điện chạy dọc sống lưng. Các lỗ chân lông nở ra, rịn mồ hôi. Miệng ấp úng. Henrik trao cho Sinh một tờ giấy có nếp gấp tư. Sinh cố định thần, nhìn vào. Những chữ Việt. Không nhiều, chỉ một hai dòng. Thế mà Sinh phải đọc đi đọc lại mấy lần: "Em muốn mượn cái chết này để chứng tỏ tình yêu của em đối với anh. Chỉ như vậy, em mới được vĩnh viễn bên anh." Và bên dưới, chữ ký lớn và rõ ràng: Kiều.

- Ông quen biết phụ nữ này chứ?

Sinh gật đầu.

- Nội dung lá thư thế nào?

Bằng giọng yếu ớt, Sinh chuyển ngữ sang tiếng Na Uy. Henrik gật gù:

- Ông thành thật, tốt lắm. Chúng tôi cũng đã cho dịch thư này ngay khi tìm thấy ở phạm trường.

Henrik lấy lại tờ giấy. Sinh vẫn ngồi bất động như đã bị đóng đinh trên ghế. Đôi tay Sinh không ngừng bóp nắn hai bên bắp đùi. Các bức tường trong căn phòng tiếp tục xoay chuyển. Sinh chóng mặt. Tiếng Henrik văng vẳng bên tai Sinh:

- Bà ta không có giấy tờ tùy thân nào trong người, trái lại đã dùng tên và địa chỉ giả khi đăng ký vào thuê khách sạn, thành ra cảnh sát điều tra không thể tìm ra lý lịch. Bây giờ ông cho chúng tôi biết nhá.

Sinh thở dài, lắc đầu:

- Tôi cũng không biết gì hơn.

Henrik hơi chồm người về phía trước, mở to cặp mắt sau làn kính trắng:

- Hả? Là tình nhân của bà ta mà ông nói vậy được sao?

Vẫn đày xáo động, Sinh trả lời:

- Không như các ông nghĩ đâu. Tôi không phải là... người yêu đúng nghĩa của bà ta. Tôi chỉ biết đại khái bà ấy cư ngụ bên Đan Mạch, nhưng không rõ địa phương nào. Còn tên họ là gì, nghề nghiệp nào, gia đình ra sao và ngay cả tuổi tác của bà ấy... tôi đều không nắm vững.

Nhìn thẳng vào mặt Sinh, Henrik đanh giọng:

- Nên nhớ thế này, theo luật hiện hành, nếu cố tình che giấu hoặc khai man hay muốn đánh lạc hướng công cuộc điều tra của nhà chức trách, chắc chắn ông sẽ không tránh khỏi những hậu quả nghiêm trọng.

Sinh ấp úng:

- Tôi biết... nhưng tôi đã nói thật.

Cặp lông mày rậm rạp của Henrik cau lại:

- Thế tại sao bà ta để lại lá thư tình cho ông? Hai người ít nhất phải có liên hệ tình cảm chứ.

Âm sắc trong giọng nói của Sinh đã tương đối rõ ràng:

- Nếu nghiên cứu kỹ lời lẽ trong thư , hẳn ông sẽ thấy tình cảm không có về... phía tôi. Tuy nhiên tôi xin kể đầu đuôi sự việc để ông hiểu rành mạch.

- Tôi hy vọng thế. Được, ông bắt đầu đi.

Sinh khẽ cựa quậy trên ghế, ho khan:

- Cách nay khoảng gần một năm, tôi và... cô Kiều quen nhau qua mạng lưới trên vi tính. Chúng tôi thường xuyên trao đổi với nhau những điện thư. Lỗi của tôi có lẽ là tôi đã... đùa cợt với chữ nghĩa khiến cô ta hiểu lầm tôi muốn gửi gấm tình cảm. Hè năm ngoái Kiều qua Na Uy tìm tôi. Nhận thấy Kiều đã có chiều hướng... yêu tôi đậm đà, tôi ân hận cho cô ta biết tôi đã có vợ con. Kiều trở về Đan Mạch trong nỗi thất vọng ê chề. Tôi dùng những điện thư để tiếp tục khuyên giải Kiều hãy quên tôi đi, nhưng cô ta dường như không muốn nghe theo.

- Thế hai người đã có gì với nhau chưa?

- Có gì là... nghĩa gì?

- Sex.

- Tôi có cần trả lời câu hỏi quá riêng tư này không?

- Thôi được, ông kể tiếp đi.

- Chủ nhật vừa rồi Kiều lại qua Na Uy. Một lần nữa tôi cho Kiều biết dứt khoát tôi không bao giờ có ý định xa lìa vợ tôi để yêu thương một người đàn bà nào khác. Tôi mừng thầm khi thấy cô ta tỏ vẻ thông hiểu hoàn cảnh, nói đành chấp nhận sự an bài của định mệnh vậy. Chúng tôi dùng bữa tối với nhau, chia tay để sáng hôm sau cô ấy trở về Đan Mạch. Ai ngờ...

Cổ họng Sinh bỗng cứng lại. Không khí trong phòng nặng hơn nữa. Lúc sau Henrik tháo cặp kính nhét vào túi áo trên ngực, thảy mạnh cây bút lên mặt bàn rồi xếp tập hồ sơ vào ngăn kéo tủ sắt:

- Hôm nay coi như tạm đủ, chúng ta sẽ còn phải làm việc nhiều nữa. Bây giờ ông vào nhà thương với tôi để nhận diện nạïn nhân. Được chứ?

Sinh lặng thinh, đẩy ghế đứng lên.

Gió lạnh bên ngoài không giúp Sinh tỉnh táo hơn. Sinh theo sau ông Henrik ra xe. Đầu cúi nhìn đất. Những bước chân nặng chịch. Dọc đường hai người không nói với nhau câu nào.

Nhân viên trực phòng xác bật đèn. Ánh sáng xanh nhợt gây thêm sự lạnh lẽo. Hai bàn tay Sinh nắm chặt lại trong túi áo khoác. Gã nhân viên liếc nhìn Sinh, rất nhanh. Sinh tưởng như hai người kia cũng nghe được tiếng tim đập của mình. Gã nhân viên kéo chiếc hộp sắt hình quan tài nằm sâu trong vách tường. Nhẹ nhàng, cẩn thận như thể gã cũng ngại làm người nằm bên trong thức giấc. Sinh cắn xiết hai hàm răng. Đôi môi khô nẻ bậm lại, muốn bật máu. Tấm vải che tử thi được lật lên. Một bộ mặt trắng bệch hiện ra. Méo mó. Các nếp da nhăn nhúm, hoằn sâu. Mái tóc cắt ngắn kết vào nhau, cứng khô dựng đứng. Sinh nhìn đăm đăm. Kiều đó. Tiếng ông Henrik sát bên tai:

- Đúng bà ta không?

Sinh gật đầu. Như cái máy. Trong khi toàn thân vẫn bủn rủn. Gã nhân viên trực nháy một bên mắt với Sinh:

- Chiều, văn phòng mai táng sẽ cho người tới trang điểm, lại... trẻ đẹp đấy mà.

Giọng gã đều đều. Như thể gã đang vừa nhai bánh mì vừa tán chuyện túc cầu. Sinh muốn đưa tay vuốt mi mắt của Kiều cho khép kín lại. Gã nhân viên hất hàm:

- Đủ chưa?

Sinh chưa kịp trả lời, bỗng lùi lại. Mặt Sinh biến đổi, tái mét. Tay quơ quơ. Chân muốn khuỵu xuống.

- Ông có sao không?

Miệng Sinh lắp bắp. Trong chiếc hộp sắt, rõ ràng xác chết động đậy. Kiều còn sống. Mắt Kiều mở ra, chớp chớp. Đôi môi chúm chím, cười. Sinh chống tay vào mép bàn bên cạnh, lấy lại hồn vía, quay đầu chạy. Đàng sau, tiếng gọi của hai người đàn ông đuổi theo. Văng vẳng có cả giọng cười ròn tan của Kiều.

Cả ngày hôm đó Sinh không ăn uống gì, nôn mửa mấy lần. Thư hỏi anh làm sao vậy, Sinh không đáp. Vợ Sinh không thắc mắc nữa.

*

- Cám ơn anh đã vào nhà xác thăm em, nhờ vậy em mới theo anh về đây được chứ. Từ nay em sẽ không xa anh nữa đâu!

- Cô sống khôn, chết thiêng thì xin hãy buông tha cho tôi!

- Anh vẫn còn giận em à? Tại anh cứ giấu em địa chỉ nên em mới đề đại tên sở làm của anh trên lá thư tuyệt mệnh khiến cảnh sát tìm đến làm phiền anh.

- Dại dột! Cô... quá đáng lắm!

- Anh còn giận em dữ vậy sao? Thôi cho em xin lỗi! Nhưng anh ơi, không thế, làm sao anh biết em đã chết mà xót thương em. Nằm trong hộp sắt ở nhà xác, em thấy rõ rệt anh đã xúc động, mắt anh rưng rưng muốn khóc. Lúc đó, anh biết không, em sung sướng hết sức, nghĩ mình đã làm đúng khi chọn cái chết. Và nhờ vậy, chúng mình đã được cơ may gần nhau thế này.

- Cô hãy nghe rõ này, tôi nhắc lại lần nữa, bây giờ bằng linh hồn chắc chắn cô sẽ hiểu thấu đáo hơn khi cô còn mang thân xác nặng nề.

- Vâng, anh nói đi, em nghe anh đây. Hay là để em nói trước: Em yêu anh vô cùng!

- Tôi rất quí cô, nhưng... yêu thì không bao giờ!

- Tại sao anh cứ mãi mãi từ chối tình yêu chân thật của em? Như em đã nói khi còn sống, ngay giây phút đầu tiên từ Đan Mạch lặn lội qua gặp anh, em đã cảm nhận anh đúng là người mà trái tim em hằng trông đợi. Em hiểu liền định mệnh đã an bài sự gắn bó vĩnh cửu cho đôi ta. Câu "tiếng sét ái tình", em ngỡ chỉ có trong tiểu thuyết, không ngờ lại ứng nghiệm cho cá nhân em. Tuy vậy khi anh khuyên em nên quên anh, em cũng vâng lời thử nghiệm. Trở về Đan Mạch, những ngày tháng sau đó đối với em thật vô cùng trống vắng. Em nhớ anh quay cuồng. Em quằn quại đêm ngày. Cuối cùng tri thức của em đã phải kết luận rằng em không thể thiếu anh trong đời. Thế là em lại trở qua Na Uy tìm anh để giãi bày tâm can, nhưng anh vẫn không chịu hiểu em.

- Nhưng tôi đã có gia đình.

- Thì sao? Em đâu đòi anh bỏ vợ con. Điều duy nhất em ước ao là được một lần anh xác nhận yêu em.

- Tôi không thể lừa dối cô. Tôi yêu vợ tôi. Thế thôi!

- Anh ơi, nay sống bằng linh hồn tuyệt đối của mình, em thấy và hiểu đến tận cùng sự việc của cuộc đời hữu hạn của anh. Chính anh đã và đang lừa dối anh. Ngày xưa anh và... chị Thư lấy nhau không vì tình yêu. Đúng vậy không? Anh cưới Thư vì mê nhan sắc chim sa cá lặn của chị ấy, còn Thư chấp nhận anh vì anh tốt nghiệp kỹ sư điện toán.

- Nhưng chúng tôi... hạnh phúc!

Bỗng có tiếng đế giầy lạch cạch trên sàn gỗ. Cửa phòng khách xịch mở. Thư bước lại sau lưng chồng. Sinh vẫn dõi mắt qua khung cửa kính nhìn ra khoảng trống bên ngoài. Thư kéo tay Sinh, thức tỉnh chồng:

- Anh cứ suốt ngày lảm nhảm! Đứng dưới bếp em vẫn nghe tiếng nói của anh rì rầm. Bộ không mỏi miệng sao! Bác sĩ cho anh nghỉ bệnh, ở nhà anh không làm gì thì ra ngoài đi dạo, cứ ngồi lì một chỗ nghĩ ngợi vơ vẩn rồi lầm bầm như đĩ khấn tiên sư. Không hiểu sao, đang yên sinh chứng tâm thần!

Sinh lặng lẽ mặc áo khoác, mở cửa đi ra. Trời lay phay mưa. Sinh lầm lũi bước. Chợt có tiếng gọi sau lưng:

- Anh! Chờ em với!

Đôi chân Sinh vẫn di chuyển. Giọng nói trong trẻo sóng bên:

- Chị Thư đang rên ở nhà.

Sinh quay người, lớn tiếng:

- Cô làm gì vợ tôi?

- Em không ưa điệu bộ vừa rồi của chị đối với anh. Thế mà anh bảo hạnh phúc! Em chỉ hất cho ly trà nóng đổ vào tay chị ấy.

- Cô mà đụng tới vợ con tôi, tôi sẽ không tha đâu!

- Anh an tâm, em hứa sẽ không làm hại gì vợ con anh. Nhưng nếu chị ấy... quá đáng, em chỉ xin... cảnh cáo thôi. Tại em yêu anh!

Sinh giơ nắm tay, quát:

- Câm mồm!

Những người Na Uy đi gần giật mình, trố mắt nhìn Sinh. Đôi chim hải âu đậu trên dây điện vụt bay. Mưa bắt đầu rơi nặng hạt hơn rồi ào ào xuống. Tóc tai mặt mũi Sinh ướt đẫm. Nước đã thấm qua mấy lớp áo, ướp lạnh da thịt Sinh. Đột nhiên Sinh như sực nhớ điều gì quan trọng, tất tưởi chạy ngược trở lại. Tung cửa vào nhà, Sinh gọi thất thanh em ơi, em ơi! Không một tiếng động trả lời. Sinh hốt hoảng chạy xuống nhà đậu xe. Thư đã ngồi trước tay lái, đang chờ máy nóng trước khi cho xe chuyển bánh. Miệng Sinh tiếp tục chu chéo, không thành tiếng. Tay vẫy vẫy ra hiệu cho vợ dừng lại. Thư quay kính xe xuống, thò đầu ra, cố hét to hơn tiếng động cơ:

- Có chuyện gì vậy?

Sinh ôm ngực, trấn áp cơn thở dốc:

- ... Xe hư... Bị...

Khuôn mặt Thư nhăn lại. Mi mắt nhướng lên, tỏ vẻ nghi ngờ. Nhưng rồi Thư cũng tắt máy, mở cửa xe bước ra:

- Xe em mới kiểm soát tuần trước. Sáng đưa con đi học, em lái thấy gì khác lạ đâu.

Sinh không nói gì, ngồi vào ghế tài xế. Sau vài cái nhún, Sinh khám phá ra dây thắng chân lẫn thắng tay đã bị đứt. Thư tái mặt. Sinh bảo vợ lấy xe của mình để đón con. Sinh đi được vài bước, Thư hỏi với theo:

- Anh, nhưng làm sao anh biết xe của em hư?

Không quay người lại, Sinh chỉ nhún vai thay câu trả lời.

Trở lên nhà, Sinh vẫn mặc cả áo khoác ướt, xuống thẳng bếp. Dáng vẻ giận dữ rõ rệt. Sinh lục lọi các ngăn tủ. Bếp núc không phải thế giới của Sinh. Mãi sau Sinh mới bật được tiếng reo. Đây rồi. Một chùm tỏi đựng trong bịch ni lông. Sinh bóc vỏ, rẽ củ thành nhánh. Cứ khoảng năm sáu nhánh tỏi Sinh lại bọc trong một miếng vải. Trong các góc nhà, dưới gầm giường của con, của mình, Sinh treo các túi vải đựng tỏi này. Xong, Sinh lại chọn những chiếc đũa tre, chặt ra khúc dài, khúc ngắn, kết thành nhiều hình thập tự rồi cũng treo khắp xó xỉnh. Một lúc lâu sau, mệt, Sinh ngồi thở.

Căn nhà vắng lặng. Sinh lắng tai. Chờ đợi. Chỉ có những tiếng hạt mưa nhảy lách tách trên mặt cửa kính. Sinh mỉm cười nhẹ. Lâu lắm Sinh mới lại nhếch rộng được cặp môi.

Thư kêu nhức đầu vào giường sớm. Hai đứa con nhỏ đã ngon giấc từ lâu. Sinh ngồi lại ở phòng khách. Các ngọn đèn đều tắt. Dạo này Sinh hay trầm mình trong bóng tối. Cảm thấy an toàn. Trí óc Sinh lại quay cuồng với bao hình ảnh. Nhưng thật ra thế giới riêng tư này của Sinh củng chẳng có một hệ thống gì cả. Rối bời. Đủ màu sắc. Đủ âm thanh. Đủ đường nét. Loạn xạ. Không cây cỏ. Toàn cát nóng màu lửa. Chẳng có sinh vật nào. Vẫn duy nhất chỉ mình Sinh. Tuyệt đối đơn độc.

Khoảng gần giữa khuya mi mắt Sinh trĩu nặng, muốn sụp xuống. Cơ thể Sinh mềm đi. Sinh cố gượng, chống lại. Sinh muốn thức nữa. Thế giới của Sinh đang chuyển động, lung linh huyền ảo. Nhưng người Sinh cứ rũ ra, từ từ đổ nhẹ xuống mặt nệm sô pha. Bỗng Sinh cảm thấy một hơi thở nóng, nhẹ nhưng dồn dập trên da mặt mình. Một cặp môi ươn ướt lướt trên trán, trên mắt, vòng xuống cổ rồi đậu lại, bám chặt lấy môi của Sinh. Đầu lưỡi lùa vào miệng Sinh, lượn quanh như muốn đùa giỡn với lưỡi Sinh. Toàn thân Sinh nóng lên dần. Sinh đáp ứng. Cũng tham lam. Bàn tay lần cởi các khuy áo rồi dải rút quần của Sinh. Rồi cũng đôi tay ấy xoa, nắn, mơn trớn từng phiến cơ thể Sinh khiến các tế bào bừng dạy, cháy bỏng. Một sức nặng đè lên Sinh. Nhún nhảy. Sinh vòng tay ôm lấy khối da thịt mềm mại nhưng hừng hực khí nóng bên trên. Rướn lên. Vỡ ào!...

Chiếc đồng hồ treo trên tường bỗng gõ một tiếng. Âm thanh khô, sắc cạnh. Sinh giật mình, mặc vội lại quần áo. Như kẻ mộng du, Sinh lững thững đi vào phòng ngủ. Dưới ánh đèn mờ ảo của ngọn đèn bàn, Thư đang ngon giấc.

 

*

- Đêm qua mình yêu nhau tuyệt vời, anh nhỉ.

- Cô hãy biến khỏi nhà tôi!

- Anh... đuổi em đi đâu bây giờ?

- Tôi không biết. Lên thiên đàng hay niết bàn hoặc xuống âm phủ, hỏa ngục... thì tùy số phận của cô.

- Nhưng ở bên anh, trong anh mới là nơi em phải hiện hữu.

- Đừng vớ vẩn nữa!

- Tại em yêu anh. Dù anh không muốn hay anh tìm cách này cách nọ để trừ khử em, em cũng không thể siêu thăng.

- Tôi không thua cô đâu.

- Mấy hôm trước, việc anh treo tỏi và hình thập tự chẳng mảy may ảnh hưởng tới em. Ngược lại, em thấy anh ngây thơ khờ khạo quá. Em còn nhớ trong Kinh Thánh, cuốn Tân ước có câu "người ta không thể làm tôi hai chủ". Anh vừa thờ thần dị đoan lại vừa cầu xin đức Chúa. Trong thâm tâm anh, thật tình anh chẳng tin gì cả. Đúng vậy không anh!

- Bịa đặt! Tôi không muốn nghe cô nói nữa.

- Anh yêu ơi, để em nhắc lại điều này nhé, theo tín ngưỡng của người bình dân, những ai chết oan ức thì vong hồn không thể siêu thoát. Trường hợp em cũng vậy thôi. Chỉ vì tình yêu đơn phương mà em... chết không nhắm mắt.

- Im đi!

- Tuy nhiên có một chân lý cũng của dân gian mà em nghĩ anh cũng thừa biết tuy rất đơn giản nhưng giá trị không những trong thế giới hữu hình của anh mà cả nơi vô hình của em nữa, ấy là chỉ có tình yêu hóa giải tình yêu. Anh còn nhớ chuyện Trương Chi - Mỵ Nương chứ? Chỉ khi những giọt nước mắt giao cảm của Mỵ Nương nhỏ xuống, khối tình của Trương Chi mới... tan được.

- Tôi... ghét cô...

- Sự thật làm anh đau đớn? Nhưng... không sao, anh ạ. Đau đớn đôi khi cũng là một thứ thống khoái.

Mặt Sinh tái nhợt. Tim thắt lại trong lồng ngực. Hơi thở tắc nghẹn. Mồ hôi tháo ra. Sinh ngã vật xuống, tay chân giật giật. Mắt trợn ngược. Vừa lúc đó Thư từ ngoài cửa bước vào nhà. Thấy vậy Thư vội vàng chạy tới đỡ lấy chồng, miệng gào, trời ơi, anh làm sao thế này. Anh! Anh!...

Chiếc bình hoa trên tủ chè đột nhiên rơi xuống trúng đỉnh đầu Thư. Máu phun bắn lên tường. Thư gục trên người Sinh, bất tỉnh. Một luồng gió mạnh thổi tung các màn cửa. Đèn trong nhà đồng loạt bật sáng. Dàn máy hát chuyển động. Một điệu nhạc vui tươi tấu lên rộn rã.

*

Lợi dụng ngày nghỉ, các con được đón qua chơi bên nhà bà ngoại, Thư dọn dẹp nhà cửa. Khi xếp lại đống vải cũ, Thư ngạc nhiên thấy một chiếc áo sơ mi của chồng nhét dưới đáy tủ. Theo thói quen Thư thường xem xét các túi áo, túi quần, lộn trái trước khi bỏ vào máy giặt. Thư vô tình tìm thấy một phong bì màu hồng ở túi áo bên trái. Mở ra, Thư ngạc nhiên thấy một tấm ảnh chụp bán thân một thiếu nữ. Lật úp tấm ảnh, mắt Thư lướt nhanh dòng chữ viết nắn nót "Mối tình mang xuống thuyền đài chưa tan". Da mặt Thư bừng nóng. Đầu muốn nổ tung. Thư hầm hầm chạy ra phòng khách. Sinh đang ngồi trầm ngâm như một thiền sư.

- Anh, hình ai đây?

Ngước cặp mắt lờ đờ nhìn vợ, Sinh lắc đầu. Thư gầm lên:

- À thì ra bấy lâu nay anh giả bệnh tâm thần, thật ra là anh sống trong mơ tưởng, nhớ thương tình nhân của anh.

Khuôn mặt Sinh đờ đẫn, không một cảm xúc. Thư càng sôi tiết:

- Anh phải khai thật, con đĩ nào đây? Bằng không, sẽ tan cửa nát nhà cho mà xem! Anh tưởng giấu mãi được à?

Sinh vẫn ngồi bất động trên ghế sô pha. Chợt giọng nói quen thuộc lại thì thầm trong đầu óc Sinh:

(Ảnh này em chụp vào ngày đầu tiên chúng mình gặp nhau, đó anh. Em mới bỏ vào túi áo anh hồi chiều hôm qua. Không ngờ... chị tìm thấy, tội nghiệp anh yêu của em quá!)

Sinh bật dạy, hét:

- Cô câm họng!

Phản ứng bất ngờ của Sinh khiến nỗi căm giận trong Thư dâng lên tột cùng:

- À, anh muốn vừa đánh trống vừa ăn cướp, phải không! Anh ngoại tình cho đã, còn buộc tôi phải câm. Đồ khốn nạn! Sở khanh!

Choảng! Thư hất tung bộ ly trên bàn xuống sàn. Tiếng thủy tinh cắt xé không gian. Mảnh vỡ bay tung tóe. Sinh trợn mắt, ngơ ngác.

(Chị ghen quá, anh nhỉ. Đó chỉ mới là một tấm hình, chị mà biết sự thật em yêu anh đến thế nào, chắc chị còn ghen dữ dội gấp bội. Nhưng anh đừng lo, đã có em bên cạnh anh.)

Sinh vung tay, miệng gào:

- Không thèm! Xéo đi! Tôi không bao giờ yêu cô!

Thư đập thêm hai ba bình hoa nữa, đạp đổ dàn máy hát, đẩy ngã tủ đựng chén bát kiểu, chu chéo:

- Tôi không đi đâu cả. Anh không yêu tôi vì anh đã có con đĩ đó rồi. Từ nay, tôi cũng chẳng thèm vợ chồng với anh nữa. Đường ai nấy đi!

Sinh lại thả mình xuống nệm ghế. Hai tay ôm thái dương. Giọng nói tiếp tục vẳng lên trong đầu Sinh:

(Chị chỉ dọa già thế thôi, sức mấy chị buông tha anh. Em cầu mong chị làm thật như chị vừa nói. Em thề...)

Lập tức Sinh vớ chiếc đèn bàn đặt trong góc phòng, giật mạnh, đập tứ tung vào không trống:

- Không thề bồi gì hết, có giỏi hiện ra đây! Tôi sẵn sàng giết cô lần nữa!

Thư sấn sổ đến trước mặt Sinh, hùng hổ:

- Đây, tôi tới đây! Tôi thách anh giết tôi đấy!

Thư vừa dứt câu, bỗng một huyền lực đẩy Thư bật ngửa ra, quật Thư mạnh xuống sàn nhà. Mặt Thư bị một mảnh thủy tinh cứa bật máu. Sinh chết sững. Miệng ú ớ. Thư bò dạy, chạy tìm điện thoại, bấm số cấp cứu. Thư vừa khóc vừa kể lể trong máy. Rất thảm thương. Nguy kịch. Một lúc sau xe cảnh sát hú còi đậu trước cổng nhà. Tay Sinh vẫn cầm chiếc đèn bàn. Cảnh tượng đổ vỡ. Máu, nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt người đàn bà. Đầy những tang chứng của sự bạo hành. Cảnh sát còng tay Sinh.

*

Người lập biên bản lại vẫn là Henrik. Dĩ nhiên ông ta nhớ ngay anh chàng Việt Nam trung niên này. Mặt mũi sáng sủa, bảnh trai. Giọng nói nhỏ nhẹ, trầm ấm. Điệu bộ thanh nhã, lịch sự. Có điều lần này anh chàng nói năng lung tung, kể chuyện ma quái, hồn nhập, thỉnh thoảng cất tiếng cười sằng sặc hoặc khóc nức nở. Henrik không ngạc nhiên. Ngày vào nhà xác để nhận diện nạn nhân, thình lình anh chàng bỏ chạy hốt hoảng đã là một dấu hiệu bất thường. Sau đó Henrik hỏi thăm sở làm, người ta cho biết người Việt Nam này nghỉ bệnh, nghe nói có triệu chứng tâm thần rối loạn. Henrik liên lạc với bác sĩ điều trị, được xác nhận sự kiện. Thành thử thay vì truy tố tội hành sử bạo lực đối với người phối ngẫu, Henrik đề nghị đưa anh chàng vào bệnh viện tâm trí.

Buổi chiều cùng ngày, nhân viên bệnh viện đến đón Sinh từ ty cảnh sát. Người ta choàng cho Sinh chiếc áo vải thô cứng, màu trắng ngà với những dải buộc sau lưng. Hai cách tay của Sinh bị bó lại. Đôi mắt Sinh dường như đã lạc thần. Khuôn mặt mang đày vẻ hoang vu. Hai nhân viên Na Uy to lớn xách nách Sinh dẫn ra xe cứu thương. Miệng Sinh không ngớt lẫm bẩm.

Bà giám đốc bệnh viện đứng đón Sinh ở hành lang. Bà mỉm cười xã giao. Sinh gầm gừ. Nụ cười tắt ngay. Sinh được đưa vào văn phòng bác sĩ trực. Thủ tục nhập viện diễn ra nhanh chóng. Bà giám đốc nói như khoe với bác sĩ:

- May quá viện mình mới tuyển được một nữ y táViệt Nam chuyên khoa. Tôi đề nghị giao bệnh nhân này cho cô ta phụ trách riêng. Dù gì đồng hương với nhau, nhất là cùng ngôn ngữ, họ giúp nhau dễ dàng hơn.

Viên bác sĩ gật gù:

- Đồng ý. Vậy tốt lắm.

Sinh tỏ dấu sợ hãi, ngồi bó gối, gập mình trong góc căn phòng nhỏ, trống trải đồ đạc. Nữ y tá người Việt hé cửa, lách vào. Bảng tên đeo trước ngực nổi bật trên nền áo trắng: Vuong Thuy Kieu. Cô ta tiến lại phía Sinh. Những bước chân nhẹ nhàng như thể không chạm mặt đất. Giọng ngọt ngào thì thầm bên tai Sinh:

- Đã có em, anh đừng sợ, anh nhé. Từ nay em sẽ chăm sóc anh đến cuối đời. Mình có nhau mãi mãi, nghe anh!

HOÀI MỸ

(Nguồn: Hợp Lưu 70)

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 171)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 426)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 304)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2528)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1732)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1406)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2481)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1950)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2606)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11720)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18304)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17349)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 171)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2481)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2605)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3954)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 426)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1950)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3741)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3260)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2528)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2447)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2838)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2809)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 304)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1732)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1406)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2679)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4567)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14891)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31028)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37759)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12736)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14023)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5204)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7719)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6800)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7230)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8162)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9826)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9036)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11911)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.