- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Thơ Nguyễn Du 阮攸 Đinh Văn Tuấn (chuyển dịch Lục bát)

27 Tháng Tám 20158:41 SA(Xem: 64432)



NguyenDuBW

Tượng thi hào Nguyễn Du (Hà Tĩnh) - Ảnh: Dương Quang

1

對酒
趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色漸遷黄鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲眞可哀。

(Ngồi xếp bằng tròn cạnh cửa sổ, say, mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn hồ rượu,
Chết rồi, ai rưới rượu trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong được say suốt ngày.
Thế sự như mây nổi, thật đáng buồn.)

 

Dịch thơ

Uống rượu

Mắt say hé mở song nhàn
Muôn hoa rụng xuống ngập tràn rêu xanh
Sao không cạn chén bình sinh
Mai sau giọt rượu vắng tanh bên mồ
Cánh vàng khuất bóng bồi hồi
Nghe chừng xuân sắc tàn vơi bao giờ
Năm lụi tàn, tóc bạc phơ
Trăm năm say khướt vô bờ khát khao
Đời như mây nổi lao đao
Chạnh lòng u uẩn nghẹn ngào bi ai

2

撥悶

十載塵埃暗玉除
百年城府半荒墟
么麼蟲鳥高飛盡
滓濊乾坤血戰餘
桑梓兵前千里淚
親朋燈下數行書
魚龍冷落閒秋夜
百種幽懷未一攄

(Cát bụi che mờ thềm ngọc đã mười năm.
Thành phủ xây dựng trăm năm nay, một nửa đã thành gò hoang,
Những loài chim, sâu nhỏ bé đều bay hết cả.
Sau cuộc huyết chiến, chỉ còn lại cõi càn khôn nhơ nhớp.
Quê nhà trong cơn binh lửa, mình ở xa ngàn dặm, nước mắt tuôn rơi,
Ở xa muôn dặm nghĩ đến mà rơi nước mắt.
Bạn bè, bà con chỉ còn lại mấy hàng thư dưới đèn.
Đêm thu vắng, cá rồng lặng lẽ,

Trăm mối u hoài chưa dẹp được.)

 

Dịch thơ

Xua đi sầu muộn

Mười năm thềm ngọc bụi mờ
Trăm năm hoang phế thành xưa ngậm ngùi
Cánh chim vô tích chơi vơi
Trời ô đất uế máu rơi tương tàn
Quê hương binh lửa ngút ngàn
Tấc lòng nghìn dặm lệ tràn bi thương
Còn đây bằng hữu dặm trường
Dưới đèn soi tỏ mấy hàng thư phai
Đêm thu thanh vắng buông lơi
Ngư long mộng mị ngủ vùi tịch liêu
Xiết bao sầu muộn đìu hiu
Mà nay chưa thỏa một điều khôn nguôi

 

3

漫興
龍尾洲邊多白鷗,
藍江堂上有寒儒。
一生詞賦知無益,
滿架琴書徒自愚。
百歲為人悲瞬息,
暮年行樂惜須臾。
寧知異日西陵下,
能飲重陽一滴無

(Bên bãi Long Vĩ có nhiều chim âu trắng,
Trong ngôi nhà bên sông Lam có nhà nho nghèo.
Một đời chuyên về từ phú, biết là vô ích,
Sách đàn đầy giá, chỉ mình làm ngu mình.
Cuộc đời trăm năm, buồn thay, chỉ là chốc lát,
Tuổi già mới mua vui, tiếc quá ngắn ngủi.
Biết rồi đây, khi nằm xuống dười gò phía tây,
Tiết Trùng dương (1) đến, liệu có uống được một giọt rượu nào không?)

 

Chú thích:

(1) Trùng dương: tức trùng cửu, ngày 9 tháng 9 Âm lịch. Thời trước , các nhà thơ vào tiết này  thường uống rượu , ngắm hoa cúc tìm hứng thơ

 

 

Dịch thơ:
Cảm hứng lan man

Từng đàn cò trắng phau phau
Bên bờ Long Vĩ hẹn nhau sum vầy
Sông Lam vẫn chảy nơi đây
Nhà tranh một mái, chốn này, hàn Nho
Một đời từ phú mộng mơ
Biết là vô ích mơ hồ đấy thôi
Cầm thư chồng chất bùi ngùi
Chỉ là tự chuốc một đời ngu ngơ
Trăm năm trong cõi người ta
Buồn sao một thoáng chỉ là phù du
Mà nay tóc bạc, ô hô!
Đắm mình hưởng lạc nào ngờ chóng qua
Rồi mai dưới mộ xế tà
Chén Trùng Dương cạn chỉ là giọt không!

 

4

雜詩其二

鴻山一色臨平渠,
清寂可為寒士居。
千里白雲生幾 席,
一窗明月上琴書。
笑啼殉俗干戈際,
緘默藏生老病餘。
葉落花開眼前事,
四時心鏡自如如。

(Núi Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng,
Nơi thanh tú tĩch mịch này, kẻ hàn sĩ có thể ở được
Mây trắng từ nghìn dặm bay đến, bay trên giường chiếu,
Trăng sáng soi qua cửa sổ, chiếu vào cặp sách túi đàn.
Lúc loạn lạc, cười khóc cũng phải theo đời,
Thân già yếu nên yên lặng để giữ mình.
Chuyện trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng,
Quanh năm, cõi lòng vẫn thản nhiên như không.)

Dịch thơ:

Tạp thi (II)

Núi Hồng soi bóng mơ màng
Sông trôi lờ lững nhẹ nhàng viễn du
Chọn nơi thanh vắng thâm u
Một chàng hàn sĩ nhàn cư thỏa lòng
Xa xôi ngàn dặm mênh mông
Bên giường mây trắng bềnh bồng nhẹ trôi
Cầm thư lấp lánh chơi vơi
Qua khung cửa hẹp trăng soi ngập tràn
Khóc cười, tục lụy cầu an
Binh đao loạn thế tương tàn thời nay
Im hơi lặng tiếng bao ngày
Thân tàn lắm bệnh loay hoay sống còn
Nhìn xem lá rụng héo hon
Này đây hoa nở mê hồn đấy thôi
Bốn mùa biến đổi không thôi
Tâm hồn sáng láng tinh khôi nguyên tuyền

 

5

漫興 其二
行腳無根任轉蓬,
江南江北一囊空。
百年窮死文章裏,
六尺浮生天地中。
萬里黃冠將暮景,
一頭白髮散西風。
無窮今古傷心處,
依舊青山夕照紅。

(Chân không bén rễ, mặc cho chuyển dời như ngọn cỏ bồng.
Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông, lại phía bắc sông.
Cuộc đời trăm năm, chết xác với văn chương.
Tấm thân sáu thước, lênh đênh trong vòng trời đất.
Muôn dặm mũ vàng, cảnh đã xế chiều.
Đầu tóc bạc phơ, gió tây thổi tung.
Nơi gợi bao nhiêu chuyện kim cổ hết sức đau lòng.
Ấy là dãy núi xanh vẫn nhuốm bóng chiều hồng như cũ.)

 

Dịch thơ:
Cảm hứng lan man (II)

Chân không bén rễ vật vờ
Cỏ bồng phiêu lãng phất phơ mặc lòng
Trên vai nhẹ nhõm túi không
Giang Nam, giang Bắc xuôi dòng lang thang
Trăm năm hệ lụy văn chương
Khốn cùng chết rũ tỏ tường từ nay
Tấm thân hèn mọn lắt lay
Lênh đênh trời đất đọa đày mãi thôi
Mũ vàng muôn dặm xa xôi
Bóng chiều đã ngả bồi hồi dưới chân
Gió Tây hiu hắt xoay vần
Bạc phơ mái tóc, bất thần thổi tung
Núi xanh vẫn nhuộm ánh hồng
Trăm năm thế sự đau lòng cổ kim

 

6

蝶死書中
芸窗曾幾染書香
謝卻風流未是狂
薄命有緣留簡籍
殘魂無淚哭文章
蠹魚易醒繁花夢
螢火難灰錦繡腸
聞道也應甘一死
淫書猶勝爲花忙

(Thư phòng bao lâu nhiễm hương thơm của sách,
Từ bỏ vị phong lưu chưa hẳn là dại.
Mệnh bạc, có duyên lưu lại với sách vở,
Hồn tàn không nước mắt khóc văn chương.
Con mọt sách dễ làm tỉnh mộng phồn hoa,
Lửa đom đóm khó đốt cháy được tấm lòng gấm vóc.
Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam,
Ham mê sách còn hơn mải miết vì hoa.)

 

Dịch thơ:

Bướm chết trong sách

Song vân thoang thoảng thư hương
Phải đâu cuồng dại dứt đường phong lưu
Còn đây duyên nợ dạt dào
Lưu truyền sách vở mệnh nào bạc đâu
Hồn tan không giọt lệ sầu
Khóc than chi để nghẹn ngào văn chương
Phồn hoa mọt sách mơ màng
Mà nay thức tỉnh nhẹ nhàng như không
Dễ đâu lửa đóm dám mong
Mà thiêu tàn cháy gấm lòng thêu hoa
Lắng nghe đạo lý thỏa thuê
Cam lòng nguyện chết trở về hư không
Mê hoa lụy sắc thỏa lòng
Sao bằng đắm sách mơ mòng cố nhân

 

7

秋至
阮攸
香江一片月
今古許多愁
往事悲青塚
新秋到白頭
有形徒役役
無病故拘拘
回首藍江浦
閒心謝白鷗

(Một mảnh trăng trên Sông Hương
Gợi bao mối sầu kim cổ
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh
Thu mới đến trên làn tóc bạc
Có thân luống vất vả
Không bệnh mà lưng cứ khom khom
Ngoảnh đầu về bến sông Lam
Bụng muốn  nhàn mà phải phụ với chim âu trắng)

 

Dịch thơ

Chớm thu

Sông Hương vằng vặc trăng khuya
Xiết bao sầu muộn đầm đìa cổ kim
Nấm mồ xanh cỏ nhói tim
Bi thương tràn ngập âm thầm chuyện xưa
Chớm thu nhuộm tóc bạc phơ
Hình hài khổ lụy bơ phờ mãi thôi
Lưng khom đành chịu với đời
Thân vô bệnh tật ngậm ngùi với ai
Sông Lam ngoảnh lại xa vời
Hồn nhàn, cò trắng xa rời từ nay

 

8

春夜
黑夜韶光何處尋
小窗開處柳陰陰
江湖病到經時久
風雨春隨一夜深
羈旅多年燈下淚
家鄉千里月中心
南臺村外龍江水
一片寒聲送古今

(Đêm tối đen, tìm đâu thấy cảnh xuân tươi sáng?
Cho cửa sổ nhỏ mở, chỉ thấy bóng liễu âm u.
Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày,
Vẻ Xuân cũng theo mưa gió mà chìm trong đêm khuya

Ở đất khách lâu năm, ngồi dưới bóng đèn những rơi lệ.
Quê nhà xa nghìn dặm, nhìn trăng mà đau lòng.
(Ở đó) bên dòng Long giang (1), ngoài thôn Nam Đài
Tiếng sóng lạnh tiễn đưa kim cổ.)

 

Chú thích:

(1) Long giang: chỉ sông Lam. Sông Lam tên là Thanh Long giang

 

Dịch thơ:

Đêm Xuân

Đêm khuya tăm tối mênh mông
Tìm đâu chút ánh xuân hồng phôi pha
Bên song cửa nhỏ mở ra
Hàng hàng liễu rủ lòa xòa thâm u
Lênh đênh phiêu bạt giang hồ
Một thân nhuốm bệnh bơ phờ đã lâu
Gió mưa xuân hẹn đêm sâu
Dưới đèn nhỏ lệ mấy thu xa nhà
Cố hương nghìn dặm cõi xa
Nhớ nhung sầu muộn chan hòa ánh trăng
Nam Đài lai láng Long giang
Tống đưa kim cổ tiếng vang lạnh lùng

 

9

留別阮大郎
西風歸袖柳高林
傾盡離杯話夜深
亂世男兒羞對劍
他鄉朋友重分襟
高山流水無人識
海角天涯何處尋
留取江南一片月
夜來常照兩人心

(Tựa như) gió tây cuốn cả rừng liễu cao vào tay áo.(2)
Uống cạn chén rượu biệt ly, nói chuyện cho tới đêm khuya.

Trai thời loạn nhìn thanh gươm mà thẹn.
Ở đất khách, cùng bạn chia tay càng thấy bùi ngùi.
Khúc đàn cao sơn lưu thuỷ(3), ai người hiểu?
Góc bể chân trời, biết tìm anh nơi đâu ?
Còn đó mảnh trăng ở phía nam sông
Đêm đến thường soi chung tấm lòng hai ta.)

 

Chú thích:

(1) Nguyễn đại lang: ông bạn họ Nguyễn, chưa rõ là ai

(2) Theo cụ Lê Thước, Trương Chính thì bản cái viết 歸袖柳 quy tụ liễu, nhưng xét ra không thành cú pháp nên nghi là 蕭颯拂 tiêu táp phất và dịch nghĩa là: Gió tây hiu hắt thổi qua rừng cây cao (Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB Văn Học. 1978). Nhưng theo thiển ý người dịch (ĐVT), dựa vào “quy tụ liễu” cũng thấy có nghĩa và  đã dịch thành: (Tựa như) gió tây cuốn cả rừng liễu cao vào tay áo - Liễu: Chỉ sự chia tay. Ngày xưa, ở Trường An, bên sông Bá, người ta đưa tiễn bạn thường bẻ tặng một cành liễu.

(3) Cao sơn lưu thủy: núi cao, nước chảy. Sách Liệt tử chép chuyện hai người tri âm, Du Bá Nha và Chung Tử Kỳ, có nói: “Tử Kỳ nghe đàn rất sành. Khi Bá Nha gảy đàn, nghĩ đến núi cao hay nghĩ đến dòng nước chảy,  Tử Kỳ  đều biết cả”. Về sau Tử Kỳ chết,  Bá Nha đập đàn không gảy nữa, cho rằng trong đời không còn ai biết nghe tiếng đàn của mình.

Dịch thơ

Lưu biệt Nguyễn Đại Lang

Gửi vào tay áo bồn chồn
Gió Tây gom rặng liễu buồn trên cao
Một hơi cạn chén nghẹn ngào
Suốt đêm trò chuyện biết bao tâm tình
Đương thời loạn thế điêu linh
Nam nhi trước kiếm thẹn mình bấy lâu
Tha hương bằng hữu trước sau
Vẫn hằng trân trọng nỗi sầu biệt ly
Cao sơn lưu thủy còn kia
Nào ai thấu hiểu sẻ chia tiếng lòng
Chân trời góc bể mênh mông
Biết đâu nơi chốn mà mong tìm về
Giang Nam nguyện giữ trăng thề
Chung lòng đêm mộng trăng về chiếu soi

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 16247)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 16427)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
21 Tháng Mười Hai 20252:39 SA(Xem: 15082)
Thầm dỗ Ngủ yên Ngủ yên nhe Cây mùa đông Sợi thời gian Dali chảy dài thương đợi Chờ xanh miết trời xanh Giấc mơ thiên nga và thời gian miên man Mọc trên cành khô Gọi người Người sẽ về Từ phía biển Tôi biết từ lâu Nỗi chợ đợi biển khơi
17 Tháng Mười Hai 20253:02 CH(Xem: 18917)
MƯA không phải là một bài thơ, mà là một trường thi của hiện sinh, nơi mưa trở thành một thực thể siêu hình: mưa của thời gian, mưa của ký ức, mưa của lưu lạc, và mưa của chữ nghĩa tự vấn chính mình. Ngay từ khổ đầu, Thi sĩ Nguyễn Chí Trung đã đẩy mưa vượt khỏi phạm vi tự nhiên để đặt nó vào trường độ lịch sử và siêu lịch sử: “mưa từ thượng cổ đến nay”. Mưa ở đây không gột rửa mà làm meo mốc ký ức, phủ rêu lên những “ngày vui qua”, những ngày “như ngọc như ngà” nhưng chỉ còn tồn tại như một hình thức của nhớ, không còn là thực tại. Đó là mưa của thời gian bị hỏng.
13 Tháng Mười Hai 20255:37 CH(Xem: 17514)
Thơ haiku của nhà thơ Nhật bản Miura Chora (1729–1780) trong sáng và giản dị, nhưng lại giàu chất thơ tao nhã. Miura Chora đã góp phần lãnh đạo phong trào phục hưng Matsuo Bashō vào thế kỷ 18. Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch hầu hết là từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson. ( Bạt Xứ )
13 Tháng Mười Hai 20254:12 CH(Xem: 16229)
bây giờ rụng tóc nhăn da / tới lui cũng chỉ có ta với người / có ta với một bầu trời / vẫn chung thủy giũa cõi đời đảo điên / anh về thành phố gọi tên / một vùng ký ức thôi miên anh về.
10 Tháng Mười Hai 20257:12 CH(Xem: 15386)
Mùa thu sao lại buồn như cỏ / Trong gió hiu hắt buổi chợ chiều / Tôi trở về đây sau cơn lũ / Nghe hồn còn ngập nỗi cô liêu.
08 Tháng Mười Hai 20258:05 CH(Xem: 14007)
Dã quỳ vàng giữa heo may / Thầm thì nắng sớm hong ngày yêu thương / Đồi cao gió quyện mờ sương / Hoa nghiêng lối nhỏ, vấn vương gót hài
26 Tháng Mười Một 202511:38 CH(Xem: 14188)
Quê nhà cơn lũ / Em tôi/ Mẹ ôm con lạy giữa đồi mưa bay / Con sông cuộn xác / Cha gầy / Những đồi đất chảy / Đã dày nỗi oan
26 Tháng Mười Một 202510:53 CH(Xem: 14824)
nhà anh ở có một cây ổi ngọt / gần hết năm trái trỉu nặng thấy thương / con sóc nhảy lên cao rồi nhảy xuống / chạy tung tăng khắp đám cỏ quanh vườn