- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Nhật ký của một hộp thư cũ

02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 128750)


phamthingoc_hl_114

Tôi hỏi cô nhân viên mới trong sở đã nhận được ngân phiếu đầu tiên do hãng gửi qua đường bưu điện chưa. Cô trả lời chưa, nhưng cũng đã mấy hôm rồi cô chưa thăm hộp thư, và than thêm rằng hộp thư của cô chỉ mang toàn tin buồn. Đứa con gái lớn của người đàn ông cô đang chung sống đã bao nhiêu năm ở tù bây giờ vừa được tự do, viết thư xin về nhà với bố. Ở tù vì hút sách, đứa con gái có hồ sơ toan tự tử bao nhiêu lần trong và ngoài tù. Tôi mím môi gật gù. Từ một câu hỏi giản dị được xung phong ra quá nhiều chi tiết. Lần sau tôi sẽ không hỏi cô điều gì nữa, dù cô đưa ra nhận xét hơi đúng: hộp thư mang toàn những tin buồn. Những người mang gia cảnh như cô, và ở nước Mỹ này thì đấy là gia cảnh bình thường, họ không hay có máy điện tóan, và không luôn địa chỉ liên mạng. Hộp thư mang đầy những tin buồn từ chủ nợ, từ nhà trừng giới, tù ngục, bệnh viện tâm thần, những đứa con hoang, tòa án ly dị.
Trải qua bao nhiêu năm, do hệ thống e-mail trở nên thông dụng, hộp thư của tôi cũng cạn hết nguồn vui, chỉ còn lại tấm ngân phiếu lương bổng hãng gửi về mỗi hai tuần đều đặn, không sai hẹn. Đó là một thứ văn kiện tôi xem xét kỹ lưỡng mỗi đầu và giữa tháng, dù chẳng có gì khác biệt từ tấm check mới nhất và hai tuần trước đó. Hơn một thập niên sau sự xuất hiện của hộp thư liên mạng, những cánh thư cá nhân cho tôi cũng đã biến thành cổ lỗ, tuyệt chủng, mà số lượng junk mai, thư quảng cáo, vẫn không giảm bớt. Dù thế, tôi vẫn mỗi ngày vui vẻ thăm hộp thư trước nhà, vẫn như một đứa trẻ trông ngóng đón ra từ đấy một điều làm ngạc nhiên, một cánh thư mang nét chữ của một con người có thật, một nhân vật nào đó từ dĩ vãng. Dĩ vãng thời trong nhóm Thế Hệ chẳng hạn. Một hôm xuống phố, đi ngang đường cũ để nhìn thấy trụ sở Thế Hệ xưa đã bị san thành một bãi đậu xe. Trụ sở nghèo nàn tối tăm khi xưa cũng có ổ khóa, và tôi một thời đã được trao phó chùm chìa khóa riêng để tự do ra vào, lấy thư, đọc thư, trả lời thư dù chỉ là những xã giao hình thức. Trụ sở không còn, tôi thấy ngậm ngùi. Mọi sự là phù phiếm, hình như chỉ có khóc than là dai dẳng.

Trong vòng một thập niên, kỹ thuật thông tin liên lạc tiến triển đến mức vừa bàn đến một phát minh mới thì điều ấy đã thành lạc hậu. Những chiếc điện thoại cầm tay lưu động ngày càng nhỏ nhắn, hấp dẫn đến mức người ta quỵt cả tiền nhà để trả tiền điện thoại cầm tay. Những đứa làm cùng sở, đứa nào cũng pager đầy người, điện thoại lưu động inh ỏi trong sở, ngoài xe, và e-mail những khi nói chưa đủ. Phương tiện xa xỉ của liên lạc nằm trong bàn tay, nhưng tôi không chắc họ có gần nhau hơn. Tôi thấy họ, như thấy mình, là những con người ngày càng mất kiên nhẫn giữa những tiện nghi vượt bực. Nhu cầu cần phải được đáp ứng nhanh chóng, liên lạc giữa thời đại e-mail cần phải có hồi âm trong tức khắc.

Những lá thư đầu đời của tôi, cách đây cũng gần cả ba mươi năm gửi đi cho bạn bè ngày vừa đến Mỹ, phải chờ ít nhất hai tuần lễ mới có thư trả lời. Những cánh thư gửi từ Louisiana đi California, đi Texas, đi Florida, đi Canada, đi đến những địa chỉ mới của lũ trẻ đã quen nhau ngắn ngủi trong trại tị nạn. Tôi biết tên cha mẹ từng đứa, và từ đó tìm ra địa chỉ chúng nó qua tờ thông tin liên lạc hội cựu thuyền nhân, dày vài trang đánh máy được đóng gáy bằng ghim bấm. Những lá thư gửi đi cái thì được hồi âm, cái thì biệt tích, được viết giữa tâm trạng cô lập, giữa mùa đông đầu tiên trên xứ sở mới, học hết bộ English for Today vẫn chưa qua mùa đông, giữa những đêm thâu nước Mỹ im lìm không có tiếng người gọi nhau, chửi thề, ngoài xóm, không có tiếng súng như tiếng pháo sau giờ giới nghiêm, không có giọng ca cải lương éo le của anh hàng xóm điên trên sân thượng nhà bên cạnh, không ánh hỏa châu. Một màn đêm im lìm gần đến mức mất trí. Khi một trong những đứa bạn viết và kể rằng đêm đêm nó thấy bóng trắng của một con ma hiền đến nói chuyện bằng cái ngôn ngữ nó chưa hiểu, tôi viết lại rằng nó đã mất trí thật. Ngày ấy, gia đình tôi không có điện thoại, không có cả máy truyền hình, thì chỉ còn lại những thư từ. Ngày ấy, bưu phí chỉ có mười xu một con tem. Hai tuần lễ cho một chuyến đi về của thư trong nội địa không có gì lâu lắc, so với những thư từ liên lạc về Việt Nam. Thư của bố tôi từ Việt Nam phải chuyển sang Pháp hoặc sang Canada, đến lúc vào đến Mỹ thì cũng đã qua sáu tháng, và ngược lại. Thư chúc Giáng Sinh đầu tiên gửi về có lẽ bố tôi nhận vào mùa hè, kể về Giáng Sinh hơn bao giờ hết được nuôi dưỡng bởi đức tin, dù rằng những trả lời của đức tin thường mở ra thêm nhiều câu hỏi khác. Tất cả đòi hỏi thời gian, chúng tôi chỉ còn có thể chấp nhận thời gian nên nó không còn là một thách đố.

Vấn đề của tôi là tôi không thoát khỏi nỗi cô lập của mình một cách dễ dàng. Viết thư là một cách giải tỏa cô lập, nhưng cũng qua những cánh thư tôi nhìn thấy sự chậm tiến của mình trên con đường hội nhập. Một đứa bạn khác viết kể về gia đình nó gia nhập hội thánh Tin Lành tại California, sau nhiều tháng chịu ảnh hưởng truyền giáo của họ. Được báo trước ngày sinh nhật của bạn, tôi gửi cho nó chiếc vòng đeo tay bạc, lủng lẳng mười mảnh bạc vuông tí hon, mỗi bảng khắc một điều răn. Chiếc vòng của ai đó đã cho tôi vẫn còn nguyên trong hộp của nó, dù chẳng là gì nhưng tôi cũng mất thì giờ bỏ vào đó nhiều suy nghĩ, vì chẳng có gì khác để cho. Bạn tôi viết trả lời, nó thích món quà lắm, tìm mua cho nó cái nữa. Tôi đọc và hiểu ra giòng chữ, và sau đó không còn thư nó cho tôi.

Khi đứa con gái lớn của tôi nhận thiệp mời sinh nhật bạn nó gửi, tôi nhìn thấy tôi mấy mươi năm nào, mặt mũi sáng rỡ cầm phong bì có nét chữ bạn mình, viết tên mình không sai một chữ đánh vần. Nét chữ non nớt trên «lá thư thật» làm tràn nỗi sung sướng của một đứa trẻ, nó chạy biến vào nhà tắm, đóng cửa, và ngồi trú trong đó đọc thư bạn dù chúng nó vừa gặp nhau vào ban sáng ở lớp học. Hạnh phúc căn bản không hề thay đổi.

Lá thư như thiệp mời vào một vòng thân ái, con tôi sẽ không lạc lõng như tôi thuở nào.

Trong những năm từ mười ba đến mười tám, hộp thư của tôi chứa đựng những cánh thư đã được gửi thẳng từ quê hương, và các hiệu sách Việt Nam. Chỉ ngần ấy thôi cũng là thú vị. Bao nhiêu mùa hè dài như bất tận, tưởng chừng thời gian không thể đi tới, chỉ có tôi và tôi, lâu lâu lác đác những buổi họp mặt sinh hoạt thiếu niên Công Giáo của cộng đồng không hấp dẫn, «năm xưa trên cây xoài, làng Fatima xa xôi...» Cho nên thật là sung sướng khi tôi mở thùng thư để lôi ra bọc vàng bưu điện ôm kín những tiểu thuyết Mai Thảo, Duyên Anh, Túy Hồng, Từ Kế Tường, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Kim Dung, và cả Quỳnh Dao. Đọc để nối dài nỗi nhớ. Đọc để nuôi dưỡng tưởng tượng, và giấc mơ ngây thơ làm nhà văn. Giấc mơ lớn ra ngoài tuổi mười tám đưa đến một hành động táo bạo là gửi truyện ngắn đầu tay cho Mai Thảo, gửi đi và không trông chờ một hồi âm, cho đến một ngày nọ tôi nhận được thư viết tay của nhà văn, viết rằng truyện ngắn sẽ được đăng trên Văn, kèm theo mấy lời khích lệ.

Chỉ ngần ấy thôi cũng là hạnh phúc, một câu trả lời hỗ trợ cho sự mạo hiểm của tôi là đúng hướng.

Tôi liên lạc nhiều nhất với Thomas Mays vào những năm đầu đại học, đặc biệt là khi anh bỏ học để nhập ngũ. Tommy Mays tôi biết ngày còn tiểu học, và chúng tôi chung lớp từ năm đệ thất, khi tôi chọn lớp mù mờ chọn lầm phải một lớp dạy xây cất dành cho nam sinh. Tommy và tôi ở cùng một nhóm, một hôm đóng đinh tôi lỡ tay đập xuống tay Tommy một búa. Tommy từ đệ thất đến đệ nhất chỉ có cao vọt lên mà dáng người không thay đổi. Gầy gò, lưng còm, tóc quăn, hình dáng của một tên dork theo kiểu nói bây giờ. Tommy ít nói, nhưng nói thì được nghe, cho nên dù trông cù lần hắn không bao giờ bị trêu ghẹo. Tommy hình như không có bố, ở với mẹ, trong niên giám điện thoại tôi thấy tên là Goldie Mays ở đường Wyoming, khu phố sạch sẽ có những ngôi nhà xinh xắn gần nhà thờ thánh Leo. Năm đệ nhị, lớp mười một, Tommy duy nhất lái xe hơi mới tinh đi học, chiếc Sunbird màu nâu bảo thủ như cách phục sức bảo thủ cỡ Richie Cunningham của Happy Days. Vòng bạn bè là đám lực sĩ đẹp trai của trường, Tommy với dáng dấp khẳng khiu chỉ xách máy chụp hình chạy theo những trận banh cà na bách chiến bách bại của trường. Nó có vẻ bực mình khi tôi bảo nó đang phí thì giờ vô ích.

Đệ nhị, đệ nhất chúng tôi gặp nhau nhiều hơn ở những lớp dự bị đại học. Lớp sử học đông nam sinh Mỹ rường cột của tổ quốc, nhưng thầy sử học Henry Vautreaux lại ưu chuộng tôi hơn. Hai năm liền thầy chọn tôi, miễn thi tuyển, đại diện trường đi dự thi giải sử học toàn tiểu bang, và tôi đã không phụ lòng tin tưởng của thầy. Cuối năm, một trong những điều kiện của thầy là học trò phải viết sưu tầm về một biến cố lịch sử. Tommy viết về những trận đánh lớn của chiến tranh Việt Nam, cho phóng lớn bản đồ Việt Nam lên bảng, nói thông thạo về những trận Khe Sanh, Huế, Quảng Trị, Bình Long, An Lộc, Quốc Lộ Một, Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi đã xúc động và xấu hổ, khi rèn luyện để hơn người về sử của người tôi đã quên mất những gì là của mình. Tommy đã học không để ganh đua, mà đã tìm hiểu cặn kẽ để thỏa mãn thắc mắc của mình.

Học chung đại học được một năm, Tommy bỏ dở, bảo muốn đi xa, nhưng tôi nghĩ anh bị rối tinh thần, đứng ở chặng đường đổ về muôn nẻo, không biết phải theo đâu. Anh vào hải quân và đồn đóng tại Nhật. Gần một năm trời thư từ cho tôi tại Nhật, bức thư cuối cùng vào tháng Mười Một anh hẹn sẽ về. Hẹn gặp lại vào tháng Giêng, anh viết. See you in January. Nhưng chúng tôi không hề gặp lại nhau, vì tôi đã rời thành phố, không để lại địa chỉ mới. Bỏ viết thư như cai nghiện. Một ngày kéo sang vài ngày, rồi đi đến tuần, đến tháng rồi cả bao nhiêu năm. Độ hai năm sau trở về thành phố cũ, tôi lật niên giám điện thoại và thấy tên Tommy đi đôi với tên phụ nữ Nhật. Thomas J. and Yoshiko Mays. Tôi vẫn mang trong lòng một thắc mắc vu vơ, gặp nhau vào tháng Giêng để làm gì nhỉ. Tommy sẽ kể tôi nghe về tình yêu bên Nhật Bản? Yoshiko có giỏi Anh ngữ đủ để hiểu những câu châm biếm rắc rối của Tommy chăng? Yoshiko là phụ nữ ngoan hiền? Tôi có thật hy vọng không, mà để làm gì khi mười mấy năm lớn lên với nhau, khi sau gần cả năm xa nhau mà vẫn giữ liên lạc, Tommy chưa hề nói gì có mang tình ý cả? Nhưng nếu không thân, sao lại thư từ , còn nếu thân sao Tommy không hề nói gì về Yoshiko cả? Tommy đã không thật như tôi đã không thật, vì chính tôi cũng chưa hề nói về việc mình sẽ đi xa.

Mười mấy năm sau, lại về ngang phố xưa, tôi lại quen tay mở niên giám điện thoại, nhưng tên bà Goldie Mays đã không còn, cùng với sự vắng tên của nhiều bậc phụ huynh ngày trước. Tên Thomas and Yoshiko Mays thì vẫn còn, bền bỉ, địa chỉ là vùng phát triển mới. Mười mấy năm rồi, mừng cho anh. Yoshiko bao nhiêu tuổi, Tommy có bao nhiêu con nhỏ và chúng học ở đâu. Những câu hỏi cho một cuộc gặp gỡ trong tưởng tượng, tôi sẽ ngồi xuống và nói chuyện thật dài với anh vì dĩ vãng cũng dài.

Tôi tìm ra địa chỉ liên mạng của Tommy trên trang website của trường. Giờ đây, không cần phải cắm cúi viết thư rồi chờ đợi nhiều ngày như trước, tôi có thể qua một nút bấm mà bắt lại liên lạc cũ. Trong lòng mang nhiều cản trở, tôi tự trách mình quá quan trọng hóa mình.

Trở về câu chuyện lúc ban đầu hộp thư mang toàn những tin buồn, một hôm, cùng với những tin buồn từ những chủ nợ, tôi nhận được thiệp hồng không mang tên người gửi, nhưng nhìn nét chữ tôi biết đây là thiệp cưới của người bạn trai cũ. Mở thiệp, tôi đọc giòng chữ quen thuộc ngắn gọn, cuối cùng thì anh cũng có vợ... như ai. Tôi cười một mình. Tưởng tượng khi nói như ai anh sẽ vếch cằm lên trời. Như ai là như ai. Tôi buồn vì lại sắp sửa tốn tiền mừng. Tôi sẽ... e-mail cho anh vì tình nghĩa cũ, chỉ để dặn vài điều dựa trên kinh nghiệm. Nhớ làm dĩa nhạc CD kỷ niệm, có hình cô dâu chú rể dắt nhau đi trên bờ biển. Trong CD nhớ thu âm bài thơ do mình sáng tác và cũng do mình phổ nhạc. Nhớ cố gắng điều khiển chương trình cưới bằng song ngữ cho người Mỹ họ hiểu, hiểu họ hàng ông bà chú bác hai họ, đây là chị dâu của em rể cô dâu. Muốn hên, nhớ cho khách ngồi đúng hướng, ăn đúng giờ, về đúng khắc. Nhớ đúng giờ lành hẵng động phòng, và lúc làm thì nên coi hướng.

Tối hôm ấy ngủ, tôi có mơ thấy hai đứa đi uống cà phê như ngày nào, và trong không khí yên lành tôi ngồi và đọc lại cho anh thư tình ngày xưa đã viết. Trong không khí yên lành, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Vui vì được thấy anh, một niềm vui thanh thản, đầy đủ, nhẹ nhàng vượt cao hơn hai chữ như ai. Buồn vì rồi sẽ chẳng được thấy anh nữa. Tỉnh giấc, tôi nhận ra ngay thực tế, và mừng vì đấy chẳng qua là mơ thôi.

Phạm Thị Ngọc
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 53089)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.
13 Tháng Chín 20189:07 CH(Xem: 48327)
Sáng nay vừa ra khỏi ngân hàng, tôi ghé vào siêu thị mua tấm thiệp sinh nhật cho ba chồng. Dòng chữ được giác bạc ngoài tấm thiệp đề "For a great Dad..." đầy yêu thương, trân trọng. Vừa lúc đó tôi nhận được điện thoại từ chị gái. Linh cảm bất ổn vì lúc đó đã 10 giờ tối ở VN. Giọng chị hớt hãi "Yến ơi, Ba đi rồi...". Trên tay tôi vẫn cầm tấm thiệp. Vài giây trước đó khi đứng chọn tấm thiệp vừa ý nhất, tôi chợt nghĩ "Vì sao mình chưa bao giờ có được may mắn tặng cho ba mình tấm thiệp nào có nội dung như vậy. Vì sao ba mình không là một người great Dad như bao nhiêu người vẫn tự hào tặng thiệp cho ba họ trong ngày sinh nhật như chồng mình vẫn làm mỗi năm?".
24 Tháng Tám 20187:38 CH(Xem: 52604)
Tôi khởi viết những trang Nhật Ký Cuối Đời này, từ đầu năm 2016, sau ngày mẹ tôi từ trần tại Los Angeles, CA, ngày 27/11 Ất Mùi, tức Thứ Tư, 6/1/2016. Mẹ sinh ngày 7/3 Mậu Ngọ [7/4/1918], tại Phụng Viện thượng, Bình Giang, Hải Dương, thọ 99 tuổi ta. Cha tôi, sinh ngày 27/3 Mậu Ngọ [27/4/1918], mất sớm, ngày 8/3 Kỷ Mùi [4/4/1979], khi mới 62 tuổi, ở Sài Gòn. Khi gia đình ly tán—tôi lưu vong ra hải ngoại, anh trai tôi bị đưa ra bắc “cải tạo”—thuật ngữ tuyên truyền xảo quyệt của những người tự nhận Cộng Sản, dù chẳng hiểu Cộng Sản là gì, và trên thực chẩt, chỉ vẹt nhái theo Trung Cộng, vì Karl Marx và Friedrich Engels không hề nói đến góp chung tài sản, mà chỉ hoang tưởng ngợi ca một xã hội nguyên thủy công hữu [communism].
17 Tháng Bảy 20182:02 CH(Xem: 49357)
Có thể nói Luật Đặc Khu và cuộc trấn áp ngày 17/6 đã biến những người dân VN bình thường trở thành những nhà hoạt động. Và đó là khởi đầu một “cuộc chiến” mới. Trong cuộc chiến này, nhà cầm quyền Hà Nội sẽ phải đương đầu với một sức mạnh mà họ thầm hiểu rằng với nó; quân đội, súng ống, xe tăng,… hỏa lực dù mạnh thế nào cũng chỉ là bùn đất!
23 Tháng Năm 20182:17 SA(Xem: 50472)
Thuở ấy, ông Nghè Tân (Bắc Kỳ Thanh Tra Đại thần, Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân) nhân một hôm đi ngang cánh đồng Phủ Bình Giang thấy một người đàn bà đang mếu máo, nhớn nhác tìm kiếm một vật gì. Gặng hỏi thì được biết người đàn bà này góa chồng, có một con trâu mới chết, bà đã đóng 2 quan tiền cho lý trưởng làm đơn, đóng triện để lên trình quan phủ. Vội vàng làm sao bà đánh rơi mất tờ đơn. Nay đường về làng thì xa, trong cái ruột tượng xác xơ kia chỉ còn 6 quan tiền để lễ quan phủ và nha lại lấy đâu ra tiền để nhờ người viết đơn!
16 Tháng Năm 20181:22 SA(Xem: 57084)
Tôi rời Hà Nội vào Nam rất sớm. Năm 1951 tôi đã theo bố tôi và người chị cả vào định cư ở Sài Gòn trong khi mẹ tôi và các anh chị tôi vẫn còn ở Hà Nội cho đến ngày di cư. Vào Nam ba bố con tôi ở chung với gia đình người bác ở đầu đường Hồng Thập Tự gần sở thú Sài Gòn. Thời gian chúng tôi ở đó tôi thường theo các anh họ tôi đạp xe đi tắm ở hồ bơi mà hồi đó chúng tôi gọi là "đi pít-xin". Hồ bơi ở xa lắm, mãi tuốt trong Chợ Lớn. Tôi nhớ là để tới hồ bơi chúng tôi phải dắt xe đi ngang một con đường sắt, rồi lại phải băng qua một bãi đất trống rất rộng mấp mô đầy những mồ mả.
07 Tháng Năm 20184:58 CH(Xem: 52389)
Một sợi dây dừa nối hai sinh linh tật nguyền để tạo thành một sinh thể thống nhất, mang tính bù đắp, tối ưu của thích nghi nhưng không thoát khỏi vẻ dị hình, sự mất định hướng đến vụng về của một phần cơ thể mù lòa được kéo lê phía sau. Nhìn họ di chuyển như hình ảnh một con sâu đo, bị chiếp dép quằn nát khúc giữa, ngúc ngắt vô vọng nhưng trong đó là cả hai thân phận con người và tự thân, chừng như họ cũng đang quằn quại với nỗi đau mưu sinh. _ Lại cho chú thương phế binh kia năm chục đi con! Là một người suốt đời sống với cái chợ, má tôi thường nói với tôi khi nhìn thấy hai con người thống khổ ấy. Tôi cầm tờ giấy bạc, chạy tới, bỏ vào cái cà mèn và đáp lại, luôn là một tiếng “Cám ơn” nhẹ nhàng, của những con người có tâm hồn thật tử tế. ... "
30 Tháng Tư 20189:14 CH(Xem: 47971)
Trung Quốc đang khống chế không chỉ Biển Đông mà còn trên toàn Lưu Vực Sông Mekong, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, giới cầm quyền VN thì lệ thuộc về chính trị vào Trung Quốc và do đó hoàn toàn bị động. Cho dù Việt Nam thỉnh thoảng có lên tiếng phản đối yếu ớt nhưng thực tế không có chiến lược gì cụ thể và hầu như không làm được gì để bảo vệ sự sống còn của hơn 17 triệu cư dân ĐBSCL và cũng là vựa lúa của cả nước. Đó là một sự thật.
31 Tháng Ba 20181:21 SA(Xem: 56751)
Đúng 14G40, tàu chuyển bánh. Chúng tôi nô nức nhìn sang hai bên đường, quan sát cảnh vật. Sài Gòn vẫn đỏ rực màu cờ và biểu ngữ, dấu tích của những cuộc “diễu hành” và “diễu binh” mừng “đại thắng mùa Xuân 1975,” “giải phóng miền Nam” từ Bắc chí Nam suốt một tháng qua—với chi phí khá lớn, hẳn có thể sử dụng một cách tốt đẹp hơn cho các kế hoạch an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, với tiêu chuẩn phân chia giàu nghèo 150,000 đồng mỗi tháng. Nhưng những chính quyền chuyên chính—hay, “dân chủ tập trung,” nếu muốn—thường dành cho ngành tuyên truyền ngân khoản lớn...
25 Tháng Ba 201812:47 SA(Xem: 55554)
Thời gian trôi nhanh, trên nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn không quên kỷ niệm cuộc “hành quân”đầu tiên trong đời binh nghiệp tại làng 13Bis. Hình ảnh những thi hài dù được thu lượm về hay còn nằm phơi mình dưới nắng mưa ngoài trận địa, hoặc được chôn vùi một cách đơn sơ trong rừng sâu khiến tôi tự hỏi tất cả những hy sinh của họ đã được đền bù xứng đáng chưa? Đem thể xác yếu như “cây sậy” của họ thách thức bom đạn, để phục vụ một lý tưởng nào quá xa xôi và mơ hồ, liệu có tàn nhẫn không? Những danh hiệu, những mỹ từ, những truy phong, truy tặng v.v có đủ để đánh đổi mạng sống của họ hay chăng? Dù gì đi nữa, một điều chắc chắn là thân xác những người đã hy sinh ấy nay đã thành “cát bụi”…Và không biết ba mươi năm chiến tranh Việt Nam 1945-1975 mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh “phúc đức”, có bao nhiêu triệu người dân Việt trở thành cát bụi ?