- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,342,203

Nguyễn Thị Hợp: nỗi sợ hãi của một họa sỹ là sự lập lại chính mình

18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 64958)

 

 nthop_phong_ve-content

Họa sĩ Nguyễn Thị Hợp

Tiểu sử Họa Sỹ Nguyễn Thị Hợp

Tốt nghiệp trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1964. 
Triển lãm cá nhân lần đầu tiên năm 1966 ở Taipei, Taiwan. 
Từ 1968, tham dự và triển lãm đều đặn với nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, Sài Gòn. 
Từ 1979, triển lãm ở Bonn, Stuttgart, Munich và nhiều thành phố khác ở Đức. 
Từ 1982, triển lãm hằng năm tại Paris. 
Sang Mỹ năm 1985, đã bày tranh tại Orange Coast College, đại học UCLA, đại học Minnesota, CSU Long Beach, Pacific Asia Museum, L.A. Artcore, dự triển lãm lưu động "An Ocean Apart" qua một số bảo tàng viện trong nước Mỹ do Viện Smithsonian tổ chức, và tham dự hằng năm các triển lãm chung tại Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông ở Little Saigon. Mới đây dự triển lãm "On Being Human" do Picture Art Foundation tổ chức tại Cal State Dominguez Hills. 
Đặc biệt chuyên về tranh lụa. Đã minh họa nhiều sách xuất bản ở Việt Nam, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Pháp, Đức, Anh và Hoa Kỳ. 
Có hai tác phẩm trong sưu tập của Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Hà Nội.

 tranhnthop-content

Hội họa đánh tiếng với Nguyễn Thị Hợp trước hay chính Nguyễn Thị Hợp đã phải lòng hội họa ngay từ cái liếc nhìn đầu tiên?

Đúng ra thì tôi có thích vẽ từ nhỏ. Thời đó trong lớp các nữ sinh được chọn giữa hai môn vẽ và nữ công gia chánh thì tôi luôn luôn chọn môn vẽ thay vì môn sau như đa số các bạn gái khác. Tôi thích vẽ và vẽ liên miên đầy các tập vở chứ không chỉ chờ đến giờ học vẽ (môn vẽ vẫn là môn có ít giờ nhất trong toàn bộ chương trình giáo khoa). Tôi vẽ lung tung, thích gì vẽ nấy, bắt chước những minh họa trong sách báo, bắt chước các truyện tranh (thích nhất là tranh vẽ của Mạnh Quỳnh), nhiều khi là những sterotypes như Lý Toét, Xã Xệ, Zorro, Tarzan, cô tiên trong các truyện cổ tích…

Xong trung học không hiểu sao tôi lại muốn xin vào trường mỹ thuật và điều này quả thật là hoàn toàn ngoài ý muốn của gia đình! Cuối cùng tôi cũng may mắn được sự đồng ý của cha tôi (cha tôi còn đưa tôi vào gặp họa sĩ Lê Văn Đệ lúc đó là Giám Đốc Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật và được trả lời tường tận về ngành học “vẽ” này) với điều kiện sau bốn năm chuyên môn, tôi sẽ phải học thêm một năm sư phạm mỹ thuật để ít ra bảo đảm nghề dạy hội họa sau khi ra trường.

Khi vào trường mỹ thuật, tôi và các bạn cùng khóa may mắn được Thầy Lê Văn Đệ hướng dẫn những môn chính: vẽ khỏa thân, tranh sơn dầu, tranh lụa. Hồi còn ở lớp dự bị thì chỉ được vẽ người mẫu bằng bút chì đen. Lên năm thứ nhất thì bắt đầu dùng chì than. Năm thứ hai được tập vẽ màu nước. Rồi lên năm thứ ba được tập vẽ sơn dầu, lụa và sơn mài. Cả ba thể loại tôi đều thích, và vẽ thử nhiều lần, nhưng cuối cùng tôi chọn vẽ tranh lụa, và lúc ấy tôi mới thực sự tìm ra kỹ thuật và đường lối phù hợp với mình, bắt đầu thấy thích thú tự tìm cho mình một bút pháp riêng và hăng say sáng tác từ đó.

 nth_changtraiviet-content

Cảm tình ảnh hưởng đến chúng ta một cách vô thức, âm thầm, nhưng khá mãnh liệt. Có hoặc không có sự hiện diện của tình yêu lớn – Nguyễn Đồng – tranh Nguyễn Thị Hợp sẽ mang những khác biệt, tích cực và tiêu cực, nào về đề tài, màu sắc và cung bậc thấu cảm?

Tôi và anh Đồng gặp nhau khi cùng làm việc cho chương trình truyền hình giáo dục, lúc đó có tên gọi là Ủy Ban Vô Tuyến Truyền Hình Giáo Dục, mà lúc bắt đầu chỉ có một chương trình hằng tuần thôi, đó là chương trình “Đố Vui Để Học”. Chúng tôi chia sẻ nhiều sở thích về mỹ thuật đã đành, mà còn trong nhiều loại hình nghệ thuật khác nữa, đặc biệt chúng tôi cùng thích nghe âm nhạc cổ điển tây phương cũng như ca nhạc truyền thống dân gian Việt Nam. Chúng tôi trở thành vợ chồng vào năm 1968, ít lâu sau biến cố Mậu Thân. Vì sống chung nên khi làm việc đương nhiên có cơ hội trao đổi ý kiến qua lại, có thể phê bình lẫn nhau, và có những bức vẽ chỉ có tính cách minh họa hay trang trí thì chúng tôi cùng vẽ chung. Những tác phẩm vẽ chung này tự nhiên có một bút pháp khác, không mang sắc thái riêng biệt của Nguyễn Thị Hợp hay của Nguyễn Đồng. Có thể có nhiều điểm chung giữa chúng tôi trong quan niệm sống, trong cách nghĩ, trong nguồn cảm hứng… nhưng về đề tài, bút pháp, kỹ thuật, sự tìm tòi… thì bắt buộc mỗi họa sĩ phải rất riêng biệt. Bút pháp trong hội họa, giống như tuồng chữ viết của mỗi người, sinh ra là như thế, có thể tập luyện cho nhuần nhuyễn tinh vi hơn, nhưng khó có thể thay đổi vì những yếu tố khác.

 nth_thuykieu-content

Bằng cách nào đó, những phác họa khỏa thân trong tranh Nguyễn Thị Hợp chuyển tải đậm nét Á Đông truyền thống mà không hề là những biểu tượng dung tục? Đây có phải là chất tố đặc trưng của một nghệ sỹ tinh tế: khả năng cảm nhận mức độ cân bằng giữa khai phá nét mới và gìn giữ nét cổ?

Khỏa thân, cũng như một thí dụ khác – tĩnh vật, là một đề tài quen thuộc trong hội họa. Khi mình vẽ tranh gọi là “khỏa thân”, hay “tĩnh vật”, hay “phong cảnh”, hay “bố cục”, thì phần nào trong đầu mình không coi đề tài là quan trọng, mà chỉ chú ý tới đường nét, sự phối hợp đường nét, hình thể và màu sắc. Renoir, Matisse, Maillol, Henri Moore… đã có những khai thác rất thành công hình tượng người phụ nữ tây phương. Tại sao mình không thử tìm tòi khai thác từ hình tượng người đàn bà Việt Nam? Đặt vấn đề như vậy, nhưng thật ra tôi không hề vẽ theo người mẫu. Hình tượng người đàn bà Việt Nam trong tranh tôi thật ra chỉ là một hình thức hồi niệm, một cái cớ để bắt đầu sáng tạo. Khi mình vạch một nét trên giấy, rất nhiều yếu tố đưa đẩy mình đi, từ những bài học vẽ khỏa thân ở trường, những bài tập ký họa mà Thầy Lê Văn Đệ bắt phải nộp mỗi ngày, tới bao nhiêu những tranh khỏa thân từ thời cổ điển tới hiện đại, và nhất là một cái gì sâu kín trong tâm tưởng, tất cả những yếu tố đó đưa đẩy mình đi tới một bố cục nào đó, phần nào có tính cách tưởng như là tự phát. Còn về cảm giác dung tục hoặc truyền thống mà người thưởng ngoạn cảm nhận được ở tranh tôi, tôi thật sự khó phát biểu thay cho họ.

nth_mecon-content

Phụ nữ là đề tài lớn trong tranh Nguyễn Thị Hợp, thường giữ vai trò “mẫu nghi” và đôi khi còn được “thánh hóa,” nhưng luôn luôn là sự dịu dàng, mềm mại pha lẫn nỗi yên phận, cam chịu. Họa sỹ có bao giờ cảm thấy cần thay đổi đôi chút để thích ứng với hình ảnh phụ nữ hiện đại? Sẽ có giày cao gót, tóc xoắn và váy ngắn trong tương lai không?

Hồi xưa, mẹ tôi thường theo mùa mà gọi những người đàn bà bán hàng rong vào nhà để mua hàng của họ. Mùa sen, mẹ tôi mua sen để lấy nhụy ướp trà, mùa cà cuống, mùa cốm, mùa sắn dây… Có lần tôi thấy có bà tự nhiên vạch vú cho con bú bên cạnh gánh hàng, hình tượng rất đẹp và tạo nên nhiều xúc cảm. Hình tượng người mẹ, hình tượng những người đàn bà nhà quê nằm trong những gì đã tạo ấn tượng trong tôi từ thời thơ ấu, và có lẽ cũng như ở đa số mọi người, những ấn tượng từ thời thơ ấu là luôn luôn bền lâu và khó quên nhất. Những ấn tượng này lúc nào cũng sẵn trong tiềm thức. Nhưng như đã nói trong phần trả lời câu hỏi trên đây, đó chỉ là một cái cớ để bắt đầu hay một cái gì ngấm ngầm ảnh hưởng đến nét vẽ của mình, Vì tranh của tôi không phải là tranh “tả thật”, vẽ theo sự hiện diện của người mẫu sống, mà chỉ là những hình tượng nhằm thể hiện cách nhìn của mình, quan niệm của mình về cái đẹp trong bố cục hình thể, đường nét và màu sắc.

 

Vì sao người nam có vẻ thiếu vắng trong tranh Nguyễn Thị Hợp so với hình tượng người nữ?

Thật ra tôi cũng có vẽ đàn ông, thí dụ bức Tranh lụa Chàng Trai Việt vẽ theo một truyện kể của Thầy Nhất Hạnh (Hương vị của đất, Lá Bối – A taste of Earth, Parallax Press). Tranh màu nước Kiều chia tay với Thúc Sinh, những minh họa cho cuốn Augen lachen, Lippen blühen (Thơ Hồ Xuân Hương do giáo sư Tiến Hữu dịch sang tiếng Đức, Verlag Simon & Magiera), tranh Chinh

Phụ Ngâm vẽ đặc biệt cho Đêm Chinh Phụ Ngâm của nhạc sĩ Cung Tiến…Vâng, tôi thường hay dùng hình tượng người đàn bà có lẽ chỉ là một thói quen giống như thói quen của rất nhiều họa sĩ “tiền bối”.

 

Nếu tranh Nguyễn Thị Hợp là âm nhạc chuyển thể thì đó sẽ là một bài ca dao ru êm đềm. Con-người-ngoại-nghệ-thuật của Nguyễn Thị Hợp sẽ mang âm hưởng nào?

Nếu tính tới những ấn tượng sâu xa thời thơ ấu như đã nói trên đây thì “bài ca dao êm đềm” có lẽ không sai để nói về tranh của tôi cũng như con người tôi. Cách đây khá lâu, trường Irvine Valley College có tổ chức một cuộc triển lãm cho tôi và anh Đồng, sau nhiều tuần lễ trò truyện và chọn tranh, họ đã đặt tên cho cuộc triển lãm là “Images of Peace” – “Những Hình Ảnh An Lành” – có lẽ họ cũng có cái nhìn giống như thế. Trong đời thường, dù rất hay đi dự những buổi hòa nhạc cổ điển, ballet và opera, tôi vẫn luôn luôn cảm thấy xúc động mạnh mẽ nhất với ca dao, với dân ca Bắc Ninh, ca Huế, giọng hò miền Nam…

 

Viết là vẽ một bức tranh bằng ngữ từ sắp đặt và vẽ là viết một truyện ngắn bằng độ màu tương phản. Những tác phẩm và tác giả nào là nguồn cảm hứng cho Nguyễn Thị Hợp khi viết bằng sắc màu?

Nói về những tác phẩm và tác giả văn chương mình thích thì có lẽ quá mông lung. Trong thực tế, cho tới bây giờ, tôi có lấy nguồn cảm hứng và đã vẽ một số tranh minh họa từ sách của thầy Nhất Hạnh: Đường xưa mây trắng, Hương vị của Đất, Am mây ngủ. Rồi tới Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, thơ Hồ Xuân Hương và một vài truyện cổ tích Việt Nam trong loạt sách Folk Tales From Asia vẽ cho trung tâm văn hóa Á châu thuộc UNESCO ở Tokyo.

 

Người thưởng ngoạn tranh của những thời đại trước thường đóng vai trò thụ động trước các tác phẩm hội họa. Nghệ thuật đương đại lại đòi hỏi người thưởng ngoạn phải đi cùng lộ trình sáng tạo với họa sỹ. Một ví dụ cụ thể hơn, trong cuộc triển nghệ thuật gần đây trưng bày một cuốn sổ được điêu khắc, cắt đán bằng chính tay người nghệ sỹ. Bên trong cuốn sổ là những tờ giấy trắng và người thưởng ngoạn được khuyến khích viết hoặc vẽ lên những trang giấy đó để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn. Họa sỹ Nguyễn Thị Hợp có cái nhìn thế nào với hai phương cách thưởng ngoạn có vẻ trái ngược này? Hay thật ra chúng cũng chỉ là một?

Tôi còn nhớ cách đây khoảng 30 năm, khi mới sang định cư ở Đức (lúc đó là Tây Đức) tôi và anh Đồng có đi xem triển lãm Documenta. Lúc đó chúng tôi mới dọn về Bonn, mới sau hơn một năm được nhận định cư ở Đức. Documenta là triển lãm quan trọng hàng đầu của nghệ thuật Đức và có lẽ của thế giới nữa. Suốt cuộc triển lãm này, chúng tôi đã “thấy” đủ thứ, ngoại trừ tranh, theo như thói quen của chúng ta vẫn gọi “tranh” ở phòng triển lãm. Tác phẩm của Joseph Beuys – đã mất, lúc đó thường được giới phê bình gọi là Picasso của Đức – là một đống 2,000 khối đá dàn trải ở mặt tiền. Có một họa sĩ rất nổi tiếng được mời từ Pháp sang tham dự, đã cầm theo một thùng sơn nhỏ búng mấy cái để thực hiện hai tác phẩm “lớn”: “Acrylic Trên Cửa Sổ” và “Acrylic Trên Lò Sưởi”. Chúng tôi, cũng như hầu hết người đi xem, nếu không coi catalog và bảng ghi tên tác phẩm, đều tưởng là người lau nhà đã bỏ sót! Chuyện không lạ, nếu ta đã theo dõi phong trào Dada, đã thấy chẳng hạn cái yên và cái ghi-đông xe đạp của Picasso, hay những thứ “readymade” của Duchamp… Phân tích kỹ ra thì cách thức thưởng ngoạn trong trường hợp này hay trường hợp kia có lẽ cũng chỉ là “một”, nếu mà mình “thưởng ngoạn” được. Theo tôi, một phần tùy quan niệm và sở thích của người sáng tác, nhưng phần lớn có lẽ là tùy toàn cảnh sinh hoạt văn hóa xã hội mà người đó đang sống. “Gặp thời thế” thế thì sáng tác “phải thế”… Còn nếu không phải lúc “thời thế” thì rất dễ bị coi là lập dị…

 

Nỗi sợ hãi lớn nhất của một nhà văn là sự lạm phát của chữ nghĩa theo thời gian, còn nỗi sợ hãi của một họa sĩ?

Lạm phát màu sắc chăng? Cũng dám như thế lắm, vì nhiều “màu mè” quá thì còn gì là tranh nữa! Theo tôi nỗi sợ hãi của một họa sĩ, cũng như ở các ngành hoạt động nghệ thuật khác, là sự lập lại chính mình.

 

Một bài thơ có thể chất chứa nhiều hồi ức, trải nghiệm riêng tư của tác giả. Có nhiều bí mật thấp thoáng trong tranh Nguyễn Thị Hợp không? Làm cách nào để khám phá được những bí ẩn đó?

Có lẽ tới đây, những gì đã nói trên đây đã phần nào trả lời cho câu hỏi này rồi. Tuy nhiên tôi cũng muốn chia sẽ một dự án đang thực hiện, nếu có thể cho đó là một sự bật mí. Họa sĩ Nguyễn Quỳnh dự trù viết điểm cho chúng tôi mỗi người mười bức tranh. Nay anh đã viết xong được bảy bức. Chúng tôi cũng đang chuẩn bị cho một buổi triển lãm tranh bên Đức vào năm 2013 tại một thành phố nhỏ thuộc Hamburg-Harburg. Đây là dịp sau hơn 30 năm trở lại thăm những người bạn Đức đã đón tiếp và giúp đỡ chúng tôi trong những ngày đầu nơi xứ lạ và giới thiệu cho họ những sáng tác mới của chúng tôi như một lời cảm ơn.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 14768)
Buổi nói chuyện của nhà thơ Du Tử Lê và Đặng Hiền về TẠP CHÍ HỢP LƯU trong chương trình "Du Tử Lê Và Bằng Hữu" (phần 1/2) trên đài truyền hình SBTN, vào năm 2008
17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 13808)
D ưới đây là bài “Nguyễn Hữu Hồng Minh - Nhà thơ hiện nay như con sói trụi lông...” của "Văn Chương Việt" phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh. Chúng tôi xin phép được đăng lại để gởi đến quí bạn đọc của Hợp Lưu. Xin chân thành cảm ơn “Văn Chương Việt”TCHL
16 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 13935)
D ưới đây là bài “Trần Vũ: mỗi con người trưởng thành mang trong mình một tín ngưỡng văn chương” của Da Màu phỏng vấn nhà văn Trần Vũ. Chúng tôi xin phép được đăng lại để gởi đến quí bạn đọc của Hợp Lưu. Xin chân thành cảm ơn “Da Màu.” TCHL
12 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 14769)
T ình trạng dịch thuật hiện nay ở Việt Nam đang ở mức cần phải báo động. Radio RFI đã dành nhiều chương trình cho những buổi nói chuyện với nhiều dịch giả trong và ngoài nước về vấn đề này. Sau Hoàng Hưng, Phạm Xuân Nguyên là những nhận định có phần nghiêm khắc của dịch giả Trần Thiện-Đạo đã sống ở Paris trên nửa thế kỷ. Trước 30-04-1975, Trần Thiện-Đạo cộng tác với các báoVăn, Tân Văn, Bách Khoa, Nghệ thuật... ở Sàigòn và hiện nay vẫn thường xuyên gửi bài in trên các sách báo văn học trong-ngoài nước. Ý kiến của Trần Thiện-Đạo sẽ như một liều thuốc đắng, may ra giã được một số tật cố hữu trong địa hạt dịch thuật của Việt Nam.
12 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 13845)
...Trong hoàn cảnh hiện nay, người làm văn học, trong hay ngoài nước, đặc biệt là giới trẻ, đang có cơ hội và khả năng tạo một sinh khí cho xã hội VN, giúp giảm thiểu những phá sản tinh thần đang xẩy ra. Muốn vậy, rất cần có sự đam mê, học hỏi, và lòng can đảm nói thật, viết thật. Không có nền văn học có giá trị nào được xây dựng trên sự giả dối và tránh né.
13 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 14710)
V ừa qua trên các phương tiện thông tin đại chúng xôn xao các vấn đề liên quan đến giải thưởng Nhà nước, Hồ Chí Minh… Trò chuyện về ảnh hưởng tích cực của các giải thưởng, Nhà văn Vũ Đảm – Phó tổng Biên tập Tạp chí Nhà văn có đưa ra một vài ý tưởng rất đáng quan tâm. Ý tưởng này cách đây sáu năm đã được Nhà văn Vũ Đảm nêu lên trong một bản luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ văn hóa của mình. Sau đây là cuộc phỏng vấn với nhà văn Vũ Đảm do Thủy Hướng Dương thực hiện.
26 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 71158)
T rịnh Y Thư sinh năm 1952, tại Hà Nội. Viết văn, làm thơ, dịch. Tác phẩm đã xuất bản: Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Học xuất bản, 2002; Căn phòng riêng (A Room of One’s Own), lí luận văn học của nhà văn nữ Virginia Woolf, Tri Thức xuất bản, 2009. Người đàn bà khác, tập truyện, Thế Giới xuất bản, 2010. Hiện định cư tại bang California, Hoa Kì.
18 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 21513)
Lời toà soạn: Mùa thu năm rồi, dưới sự bảo trợ của chương trình học bổng Fulbright của Hoa Kỳ,Giáo sư Tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP-HCM/Sàigòn, đã có mặt tại Hoa Kỳ để thu thập chất liệu cho dự án nghiên cứu về các nhà văn nữ Việt tại hải ngoại. Trong dịp này, chị đã có dịp tiếp xúc với nhà văn/nhà báo Trùng Dương, cũng là một thành viên Fulbright của niên khoá 1990-91, và là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất của nền văn học Miền Nam 1954-1975. Sau đây là cuộc nói chuyện giữa hai thế hệ văn học từ hai môi trường khác biệt, mà nhà văn Trùng Dương đã, với sự đồng ý của người phỏng vấn, dành cho tạp chí Hợp Lưu ...
15 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 82577)
N hạc sĩ Phạm Duy có cái nhìn xuyên suốt, không rào cản so với nhạc sĩ cùng thời. Người lắng nghe giao thoa những tiến triển nền âm nhạc Việt so với thế giới từ những năm 1930 cho đến nay.Từ cái bắt gặp đầu tiên trên bộ đồ bà ba xanh, đôi mắt sáng trên vành tai thính âm tài hoa ấy. Nhạc sĩ Phạm Duy chợt cười, nụ cười nhéo mắt luôn điểm lại con người ấy từng nốt nhạc vượt không gian thời gian. Hồn nhiên Phạm Duy cười nói: : “Tôi có hai con mắt, một con trái mắt tỉnh tảo thực tế với dòng đời. Và mắt phải luôn làm việc sáng tạo.” Cuộc phỏng vấn sau đây ghi lại một vài nét về cuộc đời nhạc sĩ Phạm Duy với thế hệ trẻ tại Việt Nam đang muốn cùng ông bày tỏ tâm sự.
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 127182)
..." n gười phê bình phải sáng suốt khảo sát tác phẩm và nhất là phải giữ khoảng cách đối với tác giả ...Cần phải nhớ rằng: Văn bản phê bình chỉ dành cho độc giả, không dành cho tác giả mà mình phê bình . Cho nên, nếu viết cho vừa lòng tác giả, đôi lúc, chỉ sản xuất ra những văn bản nịnh bợ... " (Thuỵ Khuê)