- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI

19 Tháng Mười 202610:24 CH(Xem: 925)




Phat Giáo

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI

Tác giả : Trần Kiêm Đoàn

 






Một trường hợp tham khảo (Case study).



Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?

Tôi xin nhận tấm lòng của đạo hữu và xem hai chữ “trưởng lão” như một lời nhắc nhở. Trong Phật giáo, tuổi tác có thể làm nên bậc trưởng thượng, nhưng đạo hạnh, công phu tu học và những đóng góp cho đạo pháp mới làm nên uy đức của một bậc trưởng lão. Là một Phật tử già 81 tuổi, đã về hưu và còn đang tiếp tục học Phật như tôi, được bạn đạo thương gọi như thế là một niềm vui, nhưng cũng khiến mình phải dè dặt hơn mỗi khi phát biểu.

Nhân lời mời góp ý về đề tài “Chấn hưng Phật giáo thời hiện đại”, một đề tài quá to lớn và nhiêu khê để gói gọn trong những đề tài tham luận với một giới hạn nào đó của tài liệu và hội thảo. Là một Phật tử về già sống xa xứ, tôi chỉ muốn được “cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương” đơn giản mà sâu lắng như “cúi đầu nhớ mạ”!

Nhưng đã được hỏi thì phải thưa, nên tôi chỉ muốn chia sẻ đôi điều từ những gì mình đã được học, được thấy và được trải nghiệm trong một giới hạn khiêm tốn nhất. Đặc biệt, sáng nay có duyên lành được dự cuộc cúng dường trai tăng với sự tham dự của quý ni sư Thiền phái Trúc Lâm tại Elk Grove, Sacramento. Đạo tình khởi duyên đã gợi lên trong tôi nhiều suy nghĩ về sự tiếp nối của Phật giáo Việt Nam trên đất Mỹ.

Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội.

Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới.

Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Thiền phái Trúc Lâm gắn liền với Phật hoàng Trần Nhân Tông và hai vị Tổ kế tiếp là Pháp Loa, Huyền Quang. Trải qua nhiều thế kỷ thăng trầm, di sản thiền học ấy được Hòa thượng Thanh Từ nghiên cứu, khôi phục và phát triển thành một hệ thống tu học có tổ chức, có chương trình đào tạo và có sự tiếp nối trong lẫn ngoài nước.

Sinh năm 1924, đến năm 2026, Hòa thượng đã bước sang tuổi 103 theo cách tính tuổi truyền thống, một tuổi thọ hiếm có. Người Phật tử Việt Nam, đặc biệt là môn đồ thuộc Thiền phái Trúc Lâm, vẫn cung kính hướng về Ôn như một bóng cây đại thụ giữa rừng thiền.

Tôi dùng tiếng “Ôn” theo cách xưng hô thân kính của người Huế đối với các bậc cao tăng trưởng thượng. Tiếng gọi ấy vừa có sự tôn kính, vừa mang một tình cảm gần gũi khó diễn đạt hết bằng những danh xưng trang trọng.

Nhưng điều làm nên uy đức của Ôn Thanh Từ không phải chỉ là tuổi thọ ngoài một trăm năm, mà chính là cả một đời bền bỉ tu hành, nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo tăng ni.

Điều đáng quý nơi Hòa thượng là khả năng biến một chí nguyện thành công việc lâu dài. Ôn không chỉ giảng về thiền mà còn xây dựng những môi trường để người học thực hành thiền. Không chỉ nghiên cứu kinh luận mà còn chuyển tải giáo lý bằng tiếng Việt gần gũi, sáng rõ, giúp người học tiếp cận đạo Phật qua những vấn đề thiết thực của đời sống.

Từ Thiền viện Chơn Không tại Vũng Tàu năm 1970, Thường Chiếu tại Đồng Nai năm 1974, đến Trúc Lâm Phụng Hoàng tại Đà Lạt năm 1993, cùng nhiều thiền viện khác, một hệ thống tu học dần dần hình thành và phát triển.

Điều đáng chú ý là các thiền viện ấy không chỉ là những cơ sở thờ tự hay những công trình kiến trúc tôn giáo. Chúng còn là môi trường giáo dục, đào tạo và thực hành, nơi các thế hệ tăng ni được chuẩn bị để tiếp tục đảm đương Phật sự.

Ở hải ngoại, Thiền viện Đại Đăng tại Bonsall, California, được Hòa thượng sang làm lễ khánh thành năm 2001.

Những cơ sở như Đạo Viên tại Quebec, Canada, và Diệu Nhân tại vùng Sacramento, California, cũng góp phần đưa sinh hoạt thiền học Việt Nam đến với cộng đồng Phật tử xa quê.

Tôi nghĩ đây là một khía cạnh đáng được quan tâm khi bàn đến công cuộc chấn hưng Phật giáo thời hiện đại.

Một tôn giáo có thể xây dựng nhiều chùa viện, quy tụ đông đảo tín đồ, tổ chức những đại lễ trang nghiêm, nhưng sức sống lâu dài vẫn tùy thuộc vào phẩm chất tu học và khả năng đào tạo những thế hệ kế thừa.

Chùa có thể được xây dựng trong vài năm, nhưng một vị tăng hay ni có đủ giới hạnh, học vấn và năng lực hướng dẫn quần chúng phải được đào luyện qua nhiều năm tháng.

Trong thành quả chung của Thiền phái Trúc Lâm, tôi đặc biệt muốn nhắc đến những đóng góp của Ni giới.

Sáng nay, tại Elk Grove - Sacramento, tôi có dịp tiếp cận và vấn an chư Ni từ trong nước cũng như ngoài nước mà từ lâu tôi vẫn dành nhiều sự kính trọng; trong đó, quý ni sư Như Đức, Thuần Bạch và Thuần Tuệ là những hình ảnh tiêu biểu cho tầm học Phật của tôi qua ngôn giáo và thân giáo từ hàng xuất gia.

Ba vị có những sở trường và công việc khác nhau, nhưng cùng cho thấy một nét đẹp đáng quý của sự tiếp nối: người được đào tạo không chỉ trưởng thành trong đời sống tu học của chính mình mà còn trở thành người hướng dẫn, giáo dục và phục vụ những thế hệ đến sau.

Ni trưởng Thích nữ Như Đức, trụ trì Thiền viện Viên Chiếu, là một gương mặt tiêu biểu về năng lực lãnh đạo và giáo dục Ni chúng. Công việc điều hành một thiền viện, đào tạo người tu và tham gia giảng dạy tại nhiều đạo tràng đòi hỏi không chỉ kiến thức Phật học mà còn cần bản lĩnh, sự kiên nhẫn và khả năng tổ chức.

Tác phẩm Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam của Ni trưởng còn cho thấy một sự quan tâm đáng quý đối với lịch sử và những đóng góp của các thế hệ Ni giới. Bởi lịch sử Phật giáo Việt Nam không chỉ được làm nên bởi những bậc cao tăng nổi tiếng mà còn có biết bao vị Ni trưởng, Ni sư âm thầm tu học, giáo dục và phục vụ đạo pháp.

Ni sư Thuần Bạch lại có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực biên soạn và dịch thuật Phật học. Những tác phẩm như Sống hiện tiền, Tu trong tịnh, tu trong động cùng các công trình chuyển dịch và biên khảo đã góp phần cung cấp tài liệu cho người học Phật.

Tôi đặc biệt quý trọng công việc âm thầm của những người dành nhiều năm tháng cho sách vở. Một bài thuyết pháp có thể làm người nghe xúc động trong một buổi giảng, nhưng một cuốn sách được biên soạn cẩn trọng có thể tiếp tục đối thoại với người đọc qua nhiều thế hệ.

Ni sư Thuần Tuệ, trụ trì thiền viện Diệu Nhân (Dieu Nhan Meditation Center) tại California, lại gây ấn tượng với tôi qua khả năng thuyết pháp sáng rõ, mạch lạc và gần gũi. Trong cách trình bày của Ni sư, tôi nhận ra sự chuẩn bị cẩn trọng của một nhà giáo truyền thống, biết dẫn dắt người nghe từ vấn đề căn bản đến những ý nghĩa sâu xa hơn.

Đặc biệt, khả năng sử dụng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh của Ni sư là một ưu điểm rất cần thiết trong môi trường Phật giáo hải ngoại. Công việc chuyển dịch kinh sách và tài liệu Phật học sang tiếng Anh, trong đó có Keys to Buddhism của Hòa thượng Thanh Từ, góp phần mở rộng cánh cửa để người đọc ngoài cộng đồng Việt Nam có thể tiếp cận truyền thống thiền học này.

Nhìn quý Ni sư trong một cuộc gặp gỡ với hàng Phật tử tuổi trẻ giữa vùng đất Sacramento, tôi chợt nghĩ đến con đường mà Phật giáo Việt Nam đã đi qua.

Từ những ngôi chùa làng quê, những trường Phật học ở Huế, Sài Gòn và các tỉnh thành Việt Nam, đạo Phật theo bước chân người Việt đến nhiều miền đất mới. Nhưng nếu chỉ mang theo hình thức lễ nghi, chùa chiền và những tập tục quen thuộc thì chưa đủ. Điều cần thiết hơn là mang theo tinh thần học hỏi, thực hành và khả năng thích ứng với đời sống của các thế hệ tương lai.

Tôi đã sống trên đất Mỹ hơn bốn mươi năm. Qua thời gian ấy, tôi nhận ra rằng sự tồn tại của một truyền thống văn hóa hay tôn giáo nơi xứ người không chỉ tùy thuộc vào lòng thương nhớ quê hương của thế hệ di dân đầu tiên.

Thế hệ ấy rồi sẽ già đi. Con cháu lớn lên trong một môi trường ngôn ngữ và văn hóa khác. Nếu giáo pháp không thể được truyền đạt bằng ngôn ngữ mà thế hệ trẻ hiểu được, bằng những phương pháp giáo dục thích hợp với đời sống của họ, thì sinh hoạt tôn giáo rất dễ thu hẹp dần trong phạm vi của những người cùng thế hệ.

Bởi vậy, việc đào tạo những vị tăng ni có khả năng sử dụng nhiều ngôn ngữ, hiểu biết văn hóa Đông Tây và có năng lực hướng dẫn tu học là một thành quả đáng được trân trọng.

Từ câu chuyện ấy, tôi lại nghĩ đến một thử thách mới đang xuất hiện trước Phật giáo Việt Nam: trí tuệ nhân tạo, hay Artificial Intelligence - AI.

Chỉ trong một thời gian ngắn, AI đã tạo nên những thay đổi đáng kể trong nhiều lĩnh vực sinh hoạt xã hội, kể cả tôn giáo.

Từ mùa Phật Đản, An Cư đến Vu Lan năm 2026, chúng ta có thể nhận thấy sự hiện diện ngày càng rõ rệt của AI trong báo chí Phật giáo, dịch thuật kinh sách, biên soạn bài giảng, minh họa giáo lý, tổ chức diễn đàn và truyền thông hoằng pháp.

Ngày nay, một người có thể dùng AI để tìm hiểu một thuật ngữ Phật học, đối chiếu các bản dịch kinh, chuẩn bị tài liệu thuyết trình, thậm chí tạo ra một bài pháp với ngôn ngữ trôi chảy và hình thức trình bày rất thuyết phục.

Nhưng ở đây lại xuất hiện một vấn đề căn bản.

AI có thể tổng hợp kiến thức về thiền, nhưng AI có thực sự hành thiền không? AI có thể giải thích về lòng từ bi, nhưng AI có kinh nghiệm sống của một người thực hành hạnh từ bi hay không? AI có thể trình bày giáo lý Tánh Không bằng hàng nghìn cách khác nhau, nhưng sự diễn đạt ấy không đồng nghĩa với trí tuệ chứng nghiệm của một hành giả.

Đó là những câu hỏi mà người học Phật thời hiện đại không thể xem nhẹ.

Theo tôi, điều đáng quan ngại không phải là sự xuất hiện của AI, mà là khả năng con người nhầm lẫn giữa phương tiện truyền đạt và nội dung tu chứng.

Phật giáo vốn có truyền thống khế lý và khế cơ. Khế lý là không xa rời những nguyên lý căn bản của giáo pháp; khế cơ là biết vận dụng phương pháp thích hợp với căn cơ, trình độ và hoàn cảnh của người tiếp nhận.

AI có thể trở thành một phương tiện hữu ích cho tinh thần khế cơ. Nhưng nếu thiếu sự hướng dẫn của trí tuệ và giới hạnh, phương tiện ấy cũng có thể đưa người học vào một thế giới thông tin phong phú mà thiếu khả năng phân biệt đúng sai, chân giả.

Một bài giảng được AI soạn thảo có thể rất hay về ngôn từ nhưng chưa chắc phản ánh kinh nghiệm tu học của người đứng giảng. Một bản dịch kinh có thể trôi chảy nhưng vẫn chứa những sai lệch về thuật ngữ và giáo nghĩa. Một hình ảnh hay giọng nói được tạo ra bằng công nghệ có thể gây xúc động mạnh nhưng không vì thế mà trở thành chứng cứ của sự thật.

Vì vậy, chấn hưng Phật giáo trong thời đại AI, theo tôi, không phải là quay lưng với công nghệ, cũng không phải chạy theo công nghệ bằng mọi giá.

Điều quan trọng là biết sử dụng phương tiện mới mà vẫn giữ được phẩm chất căn bản của người học đạo: giới hạnh, trí tuệ, lòng từ bi và tinh thần tự mình thực hành.

Từ góc nhìn ấy, công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm của Hòa thượng Thanh Từ là một kinh nghiệm đáng tham khảo.

Ở đó, việc xây dựng cơ sở đi cùng với đào tạo nhân sự. Việc nghiên cứu kinh luận đi cùng với thực hành. Việc mở rộng sinh hoạt Phật giáo không nhất thiết làm mất đi đời sống thanh tịnh của thiền môn.

Dĩ nhiên, bất cứ tổ chức nào có đông người tham gia cũng khó tránh khỏi những khác biệt về khả năng, phẩm chất và cách hành xử. Trong sinh hoạt tôn giáo cũng có khi vàng thau lẫn lộn. Nhưng qua thời gian tu học, thử thách và gạn lọc, vàng vẫn là vàng và thau vẫn là thau.

Điều đáng quan tâm là làm sao để chùa viện luôn là nơi mở rộng cửa đón người đến học đạo, thay vì dần dần trở thành những cơ sở khép kín, nặng về tổ chức, sở hữu hay quyền điều hành.

Một ngôi chùa có thể lớn về kiến trúc nhưng nhỏ về khả năng giáo hóa. Ngược lại, một đạo tràng khiêm tốn vẫn có thể tạo nên ảnh hưởng sâu xa nếu có những người thầy tận tụy và những người học trò thực sự trưởng thành.

Phật giáo Việt Nam ngày nay có nhiều truyền thống, tông phái, tổ chức và phương thức sinh hoạt khác nhau. Sự đa dạng ấy là một thực tế lịch sử, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề về sự hòa hợp, đào tạo nhân sự và định hướng hoằng pháp.

Tôi không nghĩ rằng chấn hưng có nghĩa là làm cho tất cả trở nên đồng nhất. Điều cần thiết hơn là tìm được những giá trị chung để cùng nhau phụng sự đạo pháp, trong khi vẫn tôn trọng những nét riêng của từng truyền thống tu học.

Nhìn lại hình ảnh Ôn Thanh Từ ở tuổi ngoài một trăm, cùng những thế hệ tăng ni đang tiếp nối công việc của Ôn, tôi thấy ở đó một bài học giản dị mà sâu sắc.

Một đời người dù dài đến trăm năm rồi cũng đi qua. Một công trình kiến trúc dù đồ sộ đến đâu cũng chịu sự chi phối của thời gian. Nhưng một phương pháp tu học được truyền trao đúng đắn, một thế hệ môn đồ được đào tạo có phẩm chất, một cuốn sách có giá trị và một tấm gương đạo hạnh có thể tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều thế hệ về sau.

Có lẽ đó mới là ý nghĩa lâu dài của hai chữ chấn hưng.

Từ lời gọi thân thiện “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ” của đạo hữu Như Hiền đến hôm qua được vấn an chư Ni phái Thiền Tông Việt Nam trong và ngoài nước tại buổi cúng dường trai ni tại Sacramento, tôi nhận ra rằng câu chuyện chấn hưng Phật giáo không phải chỉ là chuyện của những bậc cao tăng hay những tổ chức giáo hội.

Đó còn là câu chuyện của mỗi người học Phật, xuất gia cũng như tại gia, trong khả năng và hoàn cảnh riêng của mình.

Ở tuổi tám mươi, tôi chỉ còn vui thú vườn tược front - backyard quanh nhà. Nhưng vẫn còn niềm vui được học hỏi, được gặp những người bạn đạo, được đọc một trang kinh hay và đôi khi góp một lời nhận xét từ những điều mình đã trải nghiệm.

Nếu hai chữ “trưởng lão” có mang một ý nghĩa nào đó đối với tôi, thì có lẽ đó không phải là sự xác nhận mình đã học đủ, hiểu đủ, mà chỉ là lời nhắc rằng tuổi đời càng cao, người học đạo càng cần biết khiêm cung trước những điều mình chưa hiểu hết.

Và trong một thời đại mà trí tuệ nhân tạo có thể trả lời gần như tức khắc hàng nghìn câu hỏi, tôi vẫn nghĩ rằng có một điều con người cần tự mình thực hiện: sống với những điều mình đã học và chuyển hóa chính mình.

Bởi cuối cùng, chấn hưng Phật giáo không chỉ là làm mới hình thức sinh hoạt của đạo Phật, mà còn là làm sáng lại tinh thần giác ngộ trong đời sống con người.

Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

Sacramento tháng 10 năm 2026

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 202411:57 CH(Xem: 36393)
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Một trùng hợp thật ngẫu nhiên khi tạp chí văn học nghệ thuật Ngôn Ngữ phát hành vào tháng 2-2024 cũng vào dịp Tết Giáp Thìn 2024 ra số đặc biệt giới thiệu Bác sĩ / Nhà văn / Nhà hoạt động môi sinh Ngô Thế Vinh. Năm Rồng, giới thiệu người kết nghĩa với Cửu Long, tưởng không còn gì thích hợp hơn.
07 Tháng Hai 20243:34 SA(Xem: 33356)
Khi tìm đọc văn học chiến tranh (giai đoạn 1954-1975) tôi bắt gặp rất nhiều lần lời giới thiệu ngắn tên tuổi, và các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ. Kể từ đó, tôi luôn tìm Nguyên Vũ để đọc, song dường như không có tác phẩm nào của ông được đưa lên các trạng mạng, hay các thư viện điện tử. Hôm rồi, thật may mắn, đang nghiền ngẫm về cố nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tình cờ tôi bắt gặp: Mây Trên Đỉnh Núi, truyện dài gồm 20 chương của Nguyên Vũ. Đây có lẽ là truyện dài đầu tay, và ít được nhắc đến của ông. Cũng định thử một vài trang, rồi lúc nào đó sẽ đọc tiếp, nhưng bập vào tôi không thể dứt ra được, và đọc một mạch ngay nơi làm việc. Sự hấp dẫn, sinh động ấy, không hẳn bởi chỉ nội dung, mà còn do bố cục, nghệ thuật đan xen những tình tiết câu chuyện...
07 Tháng Hai 20242:19 SA(Xem: 31520)
Bài này, “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, được phát triển, bổ sung và mở rộng từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.
07 Tháng Hai 20241:35 SA(Xem: 28481)
Người ta thường chỉ nói về thơ Thanh Tâm Tuyền ở cái thời tuổi trẻ của ông, và gần như không có ai nói kỹ (hoặc tương đối kỹ) về tập “Thơ Ở Đâu Xa”, kết tinh bởi những bài thơ thời sau này của Thanh Tâm Tuyền, đặc biệt là thời ông đã đi qua những hào quang của tuổi trẻ mình, và cũng là thời mà ông đang đi vào, đang đi qua những hiện thực sống động nhất, theo một nghĩa nào đó, của thân phận con người, nói chung, và thân phận thi sĩ, nói riêng, của chính ông. Cũng có ý kiến cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền, trong giai đoạn này, chỉ là thơ thời khổ nạn, tù đầy, không có mấy điều đáng bàn. Ý kiến đó có lẽ nên được xét lại. Con người thi sĩ, đặc biệt những con người thi sĩ với chiều sâu và kích thước như của Thanh Tâm Tuyền, có thể tự thể hiện phong cách độc đáo của mình, tự khám phá hoặc đổi mới mình, trong tứ, trong từ, trong hình ảnh, suy tư mình, trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, tiết nhịp, điệu thức, thể loại… trong bất kỳ hoàn cảnh hiện sinh nào của họ.
25 Tháng Mười Hai 202310:41 CH(Xem: 30857)
Hàng năm vào dịp cuối năm, người Kitô hữu đón mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần, mặc lấy thân xác con người để chuộc tội nhân loại, tội tổ tông đã lưu truyền từ Adam - thuỷ tổ loài người theo dân Do Thái - lúc còn ở địa đàng đã ăn phải trái cấm của Thiên Chúa do Eve dụ dỗ.
22 Tháng Mười Hai 202312:10 CH(Xem: 32838)
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối, Tìm Quê hương trên vết máu giữa đồng hoang: Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi, Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
07 Tháng Mười Một 20236:34 SA(Xem: 29093)
“…câu chuyện giáo sĩ Alexandre de Rhodes là câu chuyện cũ đã hơn 300 năm trước. Ông không sáng chế ra chuyện đánh vần tiếng Việt ra mẫu tự Bồ. Tôi nghĩ ông là một giáo sĩ tận tụy với nghiệp vụ truyền giáo, chỉ có điều kiến thức quá giới hạn của ông về văn hóa tôn giáo và con người Việt Nam làm tôi bực mình, và thèm khát một ngày mà những bất cập như vậy không còn sót lại nơi một giáo sĩ dù với đức tin nào. Tuy nhiên, phê phán nặng nề một giáo sĩ 300 năm trước là điều không nên, khi mà các giáo sĩ nói chung bấy giờ một phần vì giới hạn kiến thức, không có truyền thống kính trọng văn hóa địa phương. Nhưng ta tự nguyện tự lãnh một cái ơn tày đình với những giáo sĩ như De Rhodes cũng là chuyện không căn cứ. Có lẽ thỉnh thỏang ta nên đọc lại Phép Giảng Tám Ngày của ông ta để có một viễn cận phải chăng với câu chuyện.” (Mai Kim Ngọc).
01 Tháng Mười Một 202312:55 SA(Xem: 31995)
Hun Sen đã chính thức chuyển quyền cho con từ ngày 22/8/2023. Tuy Hun Manet là Thủ tướng mới nhưng Hun Sen vẫn có một ảnh hưởng gần như tuyệt đối từ phía sau hậu trường. Hun Sen viết trên trang Facebook – “Đây chưa phải là kết thúc. Tôi còn tiếp tục phục vụ ở những cương vị khác ít nhất cũng tới năm 2033” (tức là mười năm nữa, lúc đó Hun Sen 81 tuổi). Tìm hiểu về giới lãnh đạo bao gồm hai thế hệ Cha và Con của chính trường Cam Bốt hiện nay và ít ra trong 10 năm tới thiết nghĩ là điều rất cần thiết.
16 Tháng Mười 20234:16 CH(Xem: 31449)
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng.(1) [trích Thông Báo của Cambodia gửi Ủy Ban Thư Ký Sông Mekong]
07 Tháng Mười 202311:06 CH(Xem: 31040)
...Mai Ninh, Trần Vũ, Lê thị Thấm Vân vẫn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đã qua. Trần Diệu Hằng với Vũ điệu của loài công, Mưa đất lạ và Chôm chôm yêu dấu vẫn là những tập truyện ngắn liên quan cuộc sống người tỵ nạn, đến tâm tình từ góc độ một người tỵ nạn. Lê thị Huệ với Bụi Hồng, Kỷ niệm với Mỵ Anh và Rồng rắn vẫn là những soi chiếu vào tâm tình những cảnh đời của nếp sống di dân qua hình ảnh cô sinh viên thuở trước và bây giờ. Nhưng người ta vẫn nhận ra đề tài về tính dục vẫn là nét trổi bật trong các truyện của các nhà văn kể trên (trừ Trần Diệu Hằng). Thứ văn chương với đề tài có xu hướng trổi bật về tính dục đã mở đầu như một thứ cách mạng tình dục trong tiểu thuyết. Trước đây thì cũng có Tuý Hồng, Lệ Hằng, Thụy Vũ... cũng đậm mà chưa đặc, chưa đủ mặn. Ai là người đánh trống, cầm cờ về đề tài này? Có thể là Trần Vũ, Trân Sa hay Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Trường An và nhất là Lê thị Thấm Vân. Truyện sẽ không viết, sẽ không đọc, nếu không có trai gái.