- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm - CUỘC LỮ ĐI TÌM BẢN THỂ CON NGƯỜI

19 Tháng Mười 20269:55 CH(Xem: 1000)


BÌA SÁCH TA LA-NHL

Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm

- CUỘC LỮ ĐI TÌM BẢN THỂ CON NGƯỜI

 

Lê Thọ Bình (Hà Nội)

 

Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.

 

TỪ “TA LÀ” ĐẾN “TA LÀ”: MỘT NGHỊCH LÝ BẢN THỂ

 

Có những câu hỏi càng tưởng đơn giản càng khó trả lời. “Tôi là ai?” là một câu hỏi như thế. Nó có thể được đặt ra bởi một đứa trẻ, một người đang khủng hoảng, một triết gia hay một người đứng trước cái chết. Nhưng đằng sau câu hỏi về căn cước cá nhân là một vấn đề lớn hơn nhiều: cái gì làm cho một hữu thể có thể nói “Tôi là”?

 

“TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học”, xuất bản năm 2026, song ngữ Việt- Anh, dài hơn 380 trang, là một nỗ lực của Nguyễn Hữu Liêm nhằm đi thẳng vào câu hỏi ấy. Tác phẩm được xây dựng như một “phác thảo” về hành trình Ra đi và Trở về của Chân Tâm, trong đó “TA LÀ” không chỉ là đại từ nhân xưng mà trở thành một mệnh đề bản thể luận.

 

Điểm đáng chú ý nằm ngay ở cách viết hoa: TA LÀ khác với “ta là”. Nếu “ta là” chỉ một cá nhân cụ thể, tôi là người này, anh là người kia, thì “TA LÀ” trong tư tưởng của Nguyễn Hữu Liêm chỉ một nền tảng hữu thể sâu hơn cái tôi kinh nghiệm. Từ TA LÀ ấy, “Ta Là” cá thể xuất hiện, bước vào thế giới của thân xác, cảm xúc, tri thức, lịch sử và căn cước.

 

Nói cách khác, tác giả đặt ra một nghịch lý: con người chỉ có thể trở thành chính mình bằng cách tách mình ra khỏi cái toàn thể nguyên sơ; nhưng càng trở thành một cá thể độc lập, con người càng cảm nhận sự thiếu vắng nguồn cội và phát sinh nhu cầu trở về.

 

Đây chính là “khúc mắc” căn bản của cuốn sách.

 

Nếu Descartes khởi đi từ “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”, Nguyễn Hữu Liêm dường như muốn đi xa hơn: trước cả cái “tôi tư duy” đã có một cái “LÀ”- một nền tảng để cái tôi có thể xuất hiện. Câu hỏi không còn chỉ là tôi có tồn tại hay không, mà là tồn tại trên nền tảng nào và tồn tại để trở thành cái gì?

 

Ở đây, “TA LÀ” trở thành điểm giao nhau giữa bản thể luận và hiện sinh học. Con người không đơn giản “có mặt” trong thế giới; con người phải trở thành chính mình.

“CUỘC LỮ” CỦA HỮU THỂ: RA ĐI ĐỂ TRỞ VỀ

 

Một trong những hình ảnh trung tâm của tác phẩm là Cuộc Lữ - hành trình của Hữu thể từ căn nhà nguyên thủy, đi vào thế giới, phân hóa thành cá thể rồi tìm đường trở về.

Cấu trúc này khiến “TA LÀ” có dáng dấp của một huyền thoại sáng thế, nhưng đồng thời cũng là một mô hình triết học. Nguyễn Hữu Liêm lấy cảm hứng từ Cựu Ước và Tân Ước, đồng thời đưa vào đó những lớp tư tưởng từ Phật giáo, Aristotle, Hegel, Gurdjieff và Ken Wilber. Hình thức trình bày bằng những khối mệnh đề ngắn cũng gợi nhớ Tractatus Logico-Philosophicus của Wittgenstein.

 

Tuy nhiên, đây không phải một cuộc “trở về” theo nghĩa quay ngược thời gian về nơi đã xuất phát. Trở về ở đây chỉ có ý nghĩa sau khi con người đã đi qua kinh nghiệm của thế gian.

 

Đó là một điểm rất đáng chú ý.

 

Con người không thể đạt tới tự do bằng cách phủ nhận thân xác, cảm xúc, lịch sử hay xã hội. Trái lại, chính việc dấn thân vào những giới hạn ấy mới làm phát sinh khả năng tự ý thức. Cá thể phải đi qua những thử thách của tồn tại để biến “tiềm năng của LÀ” thành một “hiện thực của tự-ngã”.

 

Vì thế, triết học của Nguyễn Hữu Liêm không phải là lời kêu gọi chạy trốn thế giới để tìm bản thể. Nó gần với một quan niệm siêu việt thông qua hiện hữu: phải sống, phải trải nghiệm, phải chịu đựng, phải lựa chọn và phải trưởng thành thì mới có khả năng nhận ra mình.

 

Ở đây có thể nhận thấy bóng dáng Hegel: tinh thần không đạt tới chính mình bằng trạng thái đứng yên, mà bằng một quá trình tự-phân hóa, tha hóa, đối lập và vượt bỏ. Nhưng Nguyễn Hữu Liêm không dừng ở biện chứng lịch sử kiểu Hegel. Ông đưa quá trình ấy vào một chiều kích hiện sinh và siêu hình, trong đó sự trưởng thành của cá thể đồng thời là một hành trình trở về với căn nguyên hữu thể.

 

“Ra đi để trở về”, vì thế, không chỉ là một hình ảnh đẹp. Nó là cấu trúc biện chứng của tồn tại.

 

TỪ VÔ CƠ ĐẾN CÕI NGƯỜI: TRIẾT HỌC CỦA TỰ-Ý THỨC

 

Một đóng góp đáng chú ý khác của “TA LÀ” là cách tác giả hình dung quá trình tiến hóa của hữu thể qua các tầng tồn tại.

 

Trong lời nói đầu, Nguyễn Hữu Liêm mô tả hành trình từ “Cõi Vô Cơ” qua thực vật, động vật rồi đến con người. Ở mỗi tầng, “Ta Là” lại có thêm một năng lực mới: từ khả năng sinh tồn, tái sản xuất ở thế giới thực vật đến cảm giác và vận động ở động vật, rồi cuối cùng là lý tính và tự-ý thức ở con người.

 

Điều này cho thấy tác giả không quan niệm con người chỉ như một sinh vật sinh học cao cấp hơn. Bước ngoặt quyết định của con người là khả năng tự nhận thức về chính mình.

 

Con vật sống. Con người biết mình đang sống.

 

Con vật phản ứng với thế giới. Con người có thể đặt câu hỏi về chính phản ứng của mình.

 

Con vật tồn tại trong thế giới. Con người có thể biến chính sự tồn tại thành một vấn đề.

Từ đó, “TA LÀ” đặt ra một quan niệm quan trọng: làm người là một nhiệm vụ chứ không phải một trạng thái hoàn tất.

 

Con người được sinh ra như một cá thể nhưng chưa chắc đã trở thành một cá thể đúng nghĩa. Cá nhân tính, theo cách Nguyễn Hữu Liêm triển khai, phải được hoàn thành bằng quá trình individuation- cá thể hóa. “Hãy là chính mình” vì vậy không phải một khẩu hiệu tâm lý học về tự tin, mà là một mệnh lệnh bản thể luận.

 

Đây cũng là nơi tư tưởng của Nguyễn Hữu Liêm có thể đối thoại với nhiều dòng triết học hiện đại: từ hiện sinh luận của Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger đến tâm lý học chiều sâu của Jung.

 

Nhưng ông đồng thời muốn vượt qua cái tôi cá nhân thuần túy. Nếu chỉ dừng ở “hãy là chính mình”, triết học sẽ dễ rơi vào chủ nghĩa cá nhân. “TA LÀ” lại đặt cá thể trong một hành trình rộng hơn: cá thể phải được hình thành để cuối cùng nhận ra nền tảng hữu thể mà từ đó mình xuất hiện.

 

Do đó, cá thể hóa không đồng nghĩa với cô lập. Trở thành chính mình là điều kiện để con người có thể trở về với cái nền tảng lớn hơn chính mình.

 

MỘT THỬ NGHIỆM SIÊU HÌNH HỌC ĐÁNG TRANH LUẬN

 

Giá trị lớn nhất của “TA LÀ” có lẽ không nằm ở chỗ cuốn sách đưa ra một hệ thống triết học đã khép kín. Trái lại, sức hấp dẫn của nó nằm ở việc tác giả cố tình đưa người đọc vào vùng chưa có câu trả lời cuối cùng.

 

Ngay nhan đề tiếng Anh "Metaphysical Aporias" đã chỉ ra điều ấy. Aporia trong truyền thống triết học là tình trạng bế tắc của tư duy khi một vấn đề không thể được giải quyết bằng một câu trả lời đơn tuyến. Cuốn sách vì vậy không phải một giáo trình siêu hình học, càng không phải một hệ thống mệnh đề có thể dễ dàng kiểm chứng như một lý thuyết khoa học.

 

Nó giống một cuộc đối thoại giữa những truyền thống tư tưởng khác nhau.

 

Đáng chú ý là cách tác giả đặt tư tưởng phương Tây cạnh kinh nghiệm phương Đông. Nếu triết học phương Tây thường bắt đầu từ câu hỏi về chủ thể, hữu thể, lý tính và ý thức, thì truyền thống Phật giáo lại đặt vấn đề về chính cái “ngã”. “TA LÀ” vì vậy đứng trước một căng thẳng rất sâu: nếu phải hoàn thành cái tôi, liệu cuối cùng có phải vượt qua cái tôi?

 

Đây là một trong những nghịch lý quan trọng nhất của tác phẩm.

 

Con người cần xây dựng tự-ngã để trở thành một cá thể có trách nhiệm; nhưng nếu đồng nhất tuyệt đối với tự-ngã, con người lại bị giam cầm trong chính cái tôi ấy.

 

Từ góc nhìn này, “Trở về Chân Tâm” không thể hiểu đơn giản là trở lại một bản ngã lớn hơn. Nó phải là một sự chuyển hóa trong cách con người quan hệ với chính mình và với hữu thể.

 

Đó cũng là điểm khiến tác phẩm trở nên khó đọc.

 

Nguyễn Hữu Liêm chủ ý sử dụng một ngôn ngữ mang tính mệnh đề, biểu tượng và có phần “sấm ngôn”, thay vì diễn giải tuần tự như một công trình triết học nhập môn. Chính phần giới thiệu sách cũng thừa nhận rằng những trang đầu “rất khó đọc, khó hiểu”, bởi người đọc phải vượt qua một “chướng ngại tri thức và ý chí” trước khi đi vào chân trời tư tưởng mà tác giả muốn mở ra.

 

Nhưng chính ở đây cũng cần có một cái nhìn phê bình.

 

Khi đưa các khái niệm như Being, Chân Tâm, TA LÀ, Tự-Ngã, Tự-Ý-thức, Tiềm năng và Hiện thực vào cùng một cấu trúc, tác giả tạo ra một không gian tư tưởng giàu sức gợi nhưng đồng thời có nguy cơ làm mờ ranh giới giữa lập luận triết học, biểu tượng tôn giáo và trực giác tâm linh.

 

Đây là thách thức mà tác phẩm cần được đọc một cách tỉnh táo. Một trực giác siêu hình có thể rất sâu sắc nhưng chưa tự động trở thành một luận chứng triết học. Giá trị của “TA LÀ” vì vậy không nên đo bằng việc nó có đưa ra được một “đáp án cuối cùng” hay không, mà bằng khả năng buộc người đọc kiểm nghiệm lại những tiền giả định của chính mình về cái tôi, ý thức và tồn tại.

 

Ở điểm này, cuốn sách có một ý nghĩa đáng kể đối với đời sống triết học Việt Nam đương đại. Nó cho thấy siêu hình học, vốn thường bị xem là lãnh địa xa xôi của những hệ thống kinh điển, vẫn có thể được đặt lại từ một kinh nghiệm trí tuệ Việt Nam, bằng một tiếng nói Việt Nam, trong cuộc đối thoại với cả phương Đông lẫn phương Tây.

Nguyễn Hữu Liêm đã chọn một câu hỏi cổ xưa nhưng không bao giờ cũ: Ta là gì trong cái đang là?

 

Và câu trả lời của ông, nếu có thể gọi là câu trả lời, không nằm ở một khái niệm cuối cùng. Nó nằm trong chính cuộc hành trình: từ TA LÀ đến Ta Là; từ vô thức đến ý thức; từ cá nhân tính đến cá thể tính; từ phân ly đến khả năng trở về.

Có lẽ vì thế, “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” đáng được đọc không phải như một cuốn sách để “biết thêm một học thuyết”, mà như một lời mời bước vào một cuộc chất vấn chính mình.

 

Bởi sau cùng, câu hỏi triết học sâu sắc nhất không phải là “Thế giới là gì?”, mà có thể là câu hỏi khó hơn nhiều:

 

Ai đang hỏi câu hỏi ấy, và cái “TA” đang nói “LÀ” ấy thực sự là gì?

 

LTB (HN 10/9/2026)

 

 

NGUỒN THAM KHẢO:

 

  1.    Nguyễn Hữu Liêm, "TA LÀ- Những khúc mắc siêu hình học", NXB Tổng hợp TP.HCM & Trustbooks, 2026.

 

  1. Trần Đình Thắng, “Siêu hình học hiện sinh trong đối thoại với triết học phân tích”, trong TA LÀ- Những khúc mắc siêu hình học, NXB Tổng hợp TP.HCM & Trustbooks, 2026.

 

     3. Nguyễn Viết Sáng, “Sách mới: TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của giáo sư Nguyễn Hữu Liêm có gì hay?”, Văn Việt, 13/4/2026.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 202411:57 CH(Xem: 36393)
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Một trùng hợp thật ngẫu nhiên khi tạp chí văn học nghệ thuật Ngôn Ngữ phát hành vào tháng 2-2024 cũng vào dịp Tết Giáp Thìn 2024 ra số đặc biệt giới thiệu Bác sĩ / Nhà văn / Nhà hoạt động môi sinh Ngô Thế Vinh. Năm Rồng, giới thiệu người kết nghĩa với Cửu Long, tưởng không còn gì thích hợp hơn.
07 Tháng Hai 20243:34 SA(Xem: 33356)
Khi tìm đọc văn học chiến tranh (giai đoạn 1954-1975) tôi bắt gặp rất nhiều lần lời giới thiệu ngắn tên tuổi, và các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ. Kể từ đó, tôi luôn tìm Nguyên Vũ để đọc, song dường như không có tác phẩm nào của ông được đưa lên các trạng mạng, hay các thư viện điện tử. Hôm rồi, thật may mắn, đang nghiền ngẫm về cố nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tình cờ tôi bắt gặp: Mây Trên Đỉnh Núi, truyện dài gồm 20 chương của Nguyên Vũ. Đây có lẽ là truyện dài đầu tay, và ít được nhắc đến của ông. Cũng định thử một vài trang, rồi lúc nào đó sẽ đọc tiếp, nhưng bập vào tôi không thể dứt ra được, và đọc một mạch ngay nơi làm việc. Sự hấp dẫn, sinh động ấy, không hẳn bởi chỉ nội dung, mà còn do bố cục, nghệ thuật đan xen những tình tiết câu chuyện...
07 Tháng Hai 20242:19 SA(Xem: 31520)
Bài này, “Cái Tôi kỳ việt và Âm bản Thành phố/Tình yêu trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền”, được phát triển, bổ sung và mở rộng từ bài viết gốc năm 1986, với tựa “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, theo tinh thần tựa đề “L’Homme, cet Inconnu” (1935) (Con Người, kẻ Xa Lạ ấy) của Alexis Carrel (Nobel 1912). Một vài chủ đề đã được đưa vào, hay tô đậm, qua một cái nhìn hồi cố và tái thẩm, để làm đầy đặn và làm rõ hơn các đường nét về thơ Thanh Tâm Tuyền, vốn, trong bản gốc nguyên thuỷ, đã được vạch ra nhưng chưa được khai thác kỹ.
07 Tháng Hai 20241:35 SA(Xem: 28481)
Người ta thường chỉ nói về thơ Thanh Tâm Tuyền ở cái thời tuổi trẻ của ông, và gần như không có ai nói kỹ (hoặc tương đối kỹ) về tập “Thơ Ở Đâu Xa”, kết tinh bởi những bài thơ thời sau này của Thanh Tâm Tuyền, đặc biệt là thời ông đã đi qua những hào quang của tuổi trẻ mình, và cũng là thời mà ông đang đi vào, đang đi qua những hiện thực sống động nhất, theo một nghĩa nào đó, của thân phận con người, nói chung, và thân phận thi sĩ, nói riêng, của chính ông. Cũng có ý kiến cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền, trong giai đoạn này, chỉ là thơ thời khổ nạn, tù đầy, không có mấy điều đáng bàn. Ý kiến đó có lẽ nên được xét lại. Con người thi sĩ, đặc biệt những con người thi sĩ với chiều sâu và kích thước như của Thanh Tâm Tuyền, có thể tự thể hiện phong cách độc đáo của mình, tự khám phá hoặc đổi mới mình, trong tứ, trong từ, trong hình ảnh, suy tư mình, trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, tiết nhịp, điệu thức, thể loại… trong bất kỳ hoàn cảnh hiện sinh nào của họ.
25 Tháng Mười Hai 202310:41 CH(Xem: 30857)
Hàng năm vào dịp cuối năm, người Kitô hữu đón mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần, mặc lấy thân xác con người để chuộc tội nhân loại, tội tổ tông đã lưu truyền từ Adam - thuỷ tổ loài người theo dân Do Thái - lúc còn ở địa đàng đã ăn phải trái cấm của Thiên Chúa do Eve dụ dỗ.
22 Tháng Mười Hai 202312:10 CH(Xem: 32838)
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối, Tìm Quê hương trên vết máu giữa đồng hoang: Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi, Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
07 Tháng Mười Một 20236:34 SA(Xem: 29093)
“…câu chuyện giáo sĩ Alexandre de Rhodes là câu chuyện cũ đã hơn 300 năm trước. Ông không sáng chế ra chuyện đánh vần tiếng Việt ra mẫu tự Bồ. Tôi nghĩ ông là một giáo sĩ tận tụy với nghiệp vụ truyền giáo, chỉ có điều kiến thức quá giới hạn của ông về văn hóa tôn giáo và con người Việt Nam làm tôi bực mình, và thèm khát một ngày mà những bất cập như vậy không còn sót lại nơi một giáo sĩ dù với đức tin nào. Tuy nhiên, phê phán nặng nề một giáo sĩ 300 năm trước là điều không nên, khi mà các giáo sĩ nói chung bấy giờ một phần vì giới hạn kiến thức, không có truyền thống kính trọng văn hóa địa phương. Nhưng ta tự nguyện tự lãnh một cái ơn tày đình với những giáo sĩ như De Rhodes cũng là chuyện không căn cứ. Có lẽ thỉnh thỏang ta nên đọc lại Phép Giảng Tám Ngày của ông ta để có một viễn cận phải chăng với câu chuyện.” (Mai Kim Ngọc).
01 Tháng Mười Một 202312:55 SA(Xem: 31995)
Hun Sen đã chính thức chuyển quyền cho con từ ngày 22/8/2023. Tuy Hun Manet là Thủ tướng mới nhưng Hun Sen vẫn có một ảnh hưởng gần như tuyệt đối từ phía sau hậu trường. Hun Sen viết trên trang Facebook – “Đây chưa phải là kết thúc. Tôi còn tiếp tục phục vụ ở những cương vị khác ít nhất cũng tới năm 2033” (tức là mười năm nữa, lúc đó Hun Sen 81 tuổi). Tìm hiểu về giới lãnh đạo bao gồm hai thế hệ Cha và Con của chính trường Cam Bốt hiện nay và ít ra trong 10 năm tới thiết nghĩ là điều rất cần thiết.
16 Tháng Mười 20234:16 CH(Xem: 31449)
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng.(1) [trích Thông Báo của Cambodia gửi Ủy Ban Thư Ký Sông Mekong]
07 Tháng Mười 202311:06 CH(Xem: 31040)
...Mai Ninh, Trần Vũ, Lê thị Thấm Vân vẫn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đã qua. Trần Diệu Hằng với Vũ điệu của loài công, Mưa đất lạ và Chôm chôm yêu dấu vẫn là những tập truyện ngắn liên quan cuộc sống người tỵ nạn, đến tâm tình từ góc độ một người tỵ nạn. Lê thị Huệ với Bụi Hồng, Kỷ niệm với Mỵ Anh và Rồng rắn vẫn là những soi chiếu vào tâm tình những cảnh đời của nếp sống di dân qua hình ảnh cô sinh viên thuở trước và bây giờ. Nhưng người ta vẫn nhận ra đề tài về tính dục vẫn là nét trổi bật trong các truyện của các nhà văn kể trên (trừ Trần Diệu Hằng). Thứ văn chương với đề tài có xu hướng trổi bật về tính dục đã mở đầu như một thứ cách mạng tình dục trong tiểu thuyết. Trước đây thì cũng có Tuý Hồng, Lệ Hằng, Thụy Vũ... cũng đậm mà chưa đặc, chưa đủ mặn. Ai là người đánh trống, cầm cờ về đề tài này? Có thể là Trần Vũ, Trân Sa hay Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Trường An và nhất là Lê thị Thấm Vân. Truyện sẽ không viết, sẽ không đọc, nếu không có trai gái.