- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC

18 Tháng Mười 202612:01 SA(Xem: 1636)



NgHuuLiem- TA LA
Tác giả Tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm
Buổi ra mắt sách: “ TA LÀ -Những Khúc Mắc Siêu Hình Học”



TA LÀ — KHI CÁI TÔI ĐỨNG DẬY TRƯỚC QUYỀN LỰC

MINH HẠO – Ghi chép và phiếm luận



Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ.

TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy.

Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông?

Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.

1. TA LÀ — hay tôi có quyền được là tôi?

Con người sinh ra không tự chọn gia đình, quê hương, dân tộc hay thời đại mình sống. Ngay từ thuở nhỏ, ta đã được trao cho một hệ thống những niềm tin, những chuẩn mực và những câu trả lời có sẵn.

Ta được dạy điều gì là đúng, điều gì là sai; điều gì đáng tự hào, điều gì đáng hổ thẹn; khi nào phải nói, khi nào nên im lặng. Phần lớn những điều ấy có thể cần thiết để một xã hội tồn tại.

Nhưng vấn đề bắt đầu khi những câu trả lời có sẵn trở thành những câu trả lời duy nhất được phép tồn tại.

Một đứa trẻ lớn lên có thể học cách vâng lời trước khi biết cách suy nghĩ độc lập. Một người trưởng thành có thể thuộc lòng những khẩu hiệu về tự do mà chưa từng được thực hành quyền tự do của chính mình. Một dân tộc có thể tự hào về lịch sử hàng nghìn năm, nhưng vẫn chưa giải quyết xong câu hỏi: mỗi con người trong dân tộc ấy có quyền sống cuộc đời của mình đến đâu?

Bởi nói rằng “tôi tồn tại” là một chuyện. Được quyền suy nghĩ, lựa chọn, phản biện và chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình lại là chuyện khác.

Cái Tôi trưởng thành không nhất thiết phải lớn tiếng. Nó chỉ cần đủ can đảm để không giao toàn bộ lương tri của mình cho người khác.

2. Khi tập thể trở thành một cái bóng khổng lồ

Không có cộng đồng nào tồn tại mà không cần sự hợp tác và hy sinh của các thành viên. Gia đình cần tình thương. Xã hội cần trách nhiệm. Đất nước cần những người sẵn sàng đóng góp cho lợi ích chung.

Nhưng hy sinh chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người có quyền hiểu, cân nhắc và lựa chọn điều mình hy sinh.

Nếu một cá nhân bị buộc phải hy sinh mà không được quyền chất vấn mục tiêu, không được quyền phản đối người nhân danh mục tiêu ấy, thì ranh giới giữa trách nhiệm và phục tùng bắt đầu trở nên mờ nhạt.

Tập thể, vốn được tạo ra để phục vụ đời sống con người, có thể biến thành một thực thể trừu tượng đứng cao hơn con người. Người ta nhân danh dân tộc để yêu cầu cá nhân im lặng; nhân danh đại cuộc để trì hoãn những quyền căn bản; nhân danh sự đoàn kết để xem mọi tiếng nói khác biệt là một mối đe dọa.

Điều đáng nói là tập thể không tự mình lên tiếng. Luôn có những người đứng ra nói thay tập thể, giải thích lợi ích của tập thể và đôi khi tự nhận mình có quyền quyết định ai đang phục vụ tập thể, ai đang chống lại tập thể.

Vậy ai giám sát những người tự nhận mình là đại diện cho lợi ích chung?

Ai kiểm tra xem sự hy sinh được yêu cầu có công bằng hay không?

Và tại sao người ở dưới phải từ bỏ quyền lợi của mình trong khi người ở trên lại có thể giữ nguyên những đặc quyền của họ?

Đây là nghịch lý mà mọi xã hội đề cao tập thể nhưng thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực đều cần tự trả lời.

3. Vô ngã không có nghĩa là vô quyền

Đến đây, ta cần phân biệt một điều quan trọng.

Trong Phật giáo, vô ngã không đơn giản là xóa bỏ cá tính, phủ nhận sự tồn tại của cá nhân hay trở thành một con người không có ý chí. Vượt qua sự chấp trước vào cái Tôi không đồng nghĩa với việc trao quyền quyết định cuộc đời mình cho một người khác.

Buông bỏ lòng kiêu ngạo không phải là buông bỏ phẩm giá.

Không ích kỷ không có nghĩa là không có quyền lợi.

Không cố chấp không có nghĩa là không được phản biện.

Và sống vì người khác không có nghĩa là phải chấp nhận mọi điều người khác áp đặt lên mình.

Một người có thể không bị nô lệ bởi lòng tự tôn, nhưng vẫn kiên quyết bảo vệ quyền tự do của mình. Người ấy có thể không xem mình là trung tâm của vũ trụ, nhưng cũng không chấp nhận để bất kỳ ai tự đặt mình vào vị trí trung tâm của cuộc đời người khác.

Nếu đọc TA LÀ qua lăng kính ấy, câu chuyện về cái Tôi và vô ngã mở ra một hướng suy ngẫm đáng chú ý: làm sao vượt qua sự ích kỷ của bản ngã mà không đánh mất khả năng tự quyết định? Làm sao sống có trách nhiệm với cộng đồng mà không đánh mất tiếng nói riêng?

Đó không chỉ là một vấn đề triết học. Đó còn là bài toán của đời sống công dân.

4. Một dân tộc có thể hy sinh quá nhiều mà vẫn chưa tự do?

Tại buổi giới thiệu sách, theo lời thuật lại của người tham dự, Nguyễn Hữu Liêm đã đưa ra những nhận xét gay gắt về người Việt, về sự hy sinh cho tập thể và về tình trạng tự do của cá nhân trong lịch sử.

Những nhận xét ấy có thể gây tranh cãi, thậm chí khiến người nghe khó chịu. Nhưng thay vì vội đồng ý hay phản đối, có lẽ nên tách riêng từng vấn đề để suy xét.

Một dân tộc đã trải qua chiến tranh, mất mát và nhiều thế hệ hy sinh có quyền tự hào về sức chịu đựng của mình. Tuy nhiên, sự hy sinh trong quá khứ không thể tự động trở thành lý do để đòi hỏi những thế hệ sau phải từ bỏ quyền tự do trong hiện tại.

Lịch sử có thể giải thích vì sao một cộng đồng coi trọng sự đoàn kết. Nhưng lịch sử không nên trở thành giấy phép vô thời hạn để bất kỳ quyền lực nào đòi hỏi sự phục tùng.

Một đất nước không chỉ cần những con người biết hy sinh. Đất nước ấy còn cần những con người biết đặt câu hỏi, biết nói không khi cần thiết, biết phân biệt lợi ích công cộng với lợi ích của những người đang nắm quyền.

Bởi nếu người dân luôn được nhắc nhở về nghĩa vụ, còn quyền lực không phải chịu sự chất vấn tương xứng, thì sự hy sinh có nguy cơ trở thành một con đường một chiều.

Người dân hy sinh cho đất nước.

Nhưng ai bảo đảm quyền lực hy sinh đặc quyền cho người dân?

Đây mới là câu hỏi cần được đặt ra một cách nghiêm túc.

5. Triết học có thể trở thành một câu hỏi chính trị

Có người sẽ cho rằng đọc một cuốn sách siêu hình học theo hướng chính trị là áp đặt ý nghĩa bên ngoài lên tác phẩm. Sự thận trọng ấy có lý. Không thể chỉ từ những trang viết về bản thể, cái Tôi hay vô ngã mà khẳng định tác giả đang bí mật kêu gọi một cuộc vận động chính trị.

Cũng không thể xem việc một tác giả bị từ chối nhập cảnh là bằng chứng đầy đủ về mục đích chính trị của cuốn sách.

Nhưng điều đó không có nghĩa người đọc phải giới hạn mình trong những khái niệm trừu tượng.

Một tác phẩm có thể được đọc ở nhiều tầng nghĩa. Ý định của tác giả là một vấn đề; những câu hỏi mà tác phẩm gợi ra trong đời sống người đọc lại là một vấn đề khác.

Khi một cuốn sách đặt vấn đề về sự trưởng thành của cá nhân, về ý thức độc lập và về việc thoát khỏi những ràng buộc vô thức của đám đông, người đọc hoàn toàn có thể đặt những câu hỏi xã hội tương ứng.

Liệu con người có thực sự trưởng thành nếu chỉ biết lặp lại điều mình được dạy?

Liệu một cộng đồng có thực sự đoàn kết nếu mọi người đều phải che giấu những bất đồng?

Và liệu một xã hội có thể gọi mình là tự do nếu quyền lực được quyền định nghĩa thế nào là yêu nước, thế nào là phản bội, thế nào là một công dân tốt?

Những câu hỏi ấy không chứng minh rằng TA LÀ được viết như một bản tuyên ngôn chính trị. Chúng cho thấy triết học, khi đi vào đời sống, có thể khiến những điều tưởng như hiển nhiên phải được xem xét lại.

Đôi khi, câu hỏi nguy hiểm nhất đối với một hệ thống không phải là câu hỏi về ai đang nắm quyền, mà là câu hỏi vì sao con người phải chấp nhận để người khác suy nghĩ thay mình.

6. Tự do bắt đầu từ một con người biết mình có quyền lựa chọn

Một cá nhân tự do không phải là người muốn làm gì thì làm, bất chấp người khác. Tự do đòi hỏi trách nhiệm, sự tôn trọng quyền của người khác và khả năng chấp nhận hậu quả từ lựa chọn của mình.

Nhưng tự do cũng không thể chỉ tồn tại như một món quà do quyền lực ban phát, có thể được thu hồi bất cứ lúc nào.

Nó cần được thừa nhận như một phẩm giá của con người, được bảo vệ bằng quyền, luật pháp và những giới hạn thực chất đối với quyền lực.

Có lẽ vì thế, câu hỏi “TA LÀ” không nên dừng lại ở việc xác định bản thể của một cá nhân. Nó còn có thể dẫn ta đến câu hỏi: tôi có quyền trở thành con người mà tôi lựa chọn hay không, miễn là tôi không tước đi quyền ấy của người khác?

Một dân tộc không thể thực sự tự do nếu mỗi cá nhân chỉ được phép hy sinh cho tập thể, trong khi những người nhân danh tập thể lại không phải hy sinh bất cứ đặc quyền nào của chính mình.

Và một con người cũng không thực sự trưởng thành nếu phải từ bỏ lương tri của mình để chứng minh lòng trung thành với bất kỳ ai.

Bởi cuối cùng, câu hỏi không chỉ là “TA LÀ AI?”

Mà còn là:

Ai có quyền quyết định tôi phải là ai?

— MINH HẠO

____________________________________ 

GHI CHÚ THÊM CỦA MINH HẠO

1. Về cách đọc và cảm nhận

Bài viết này là cảm nhận và diễn giải riêng của Minh Hạo sau khi đọc TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Tiến sĩ triết học Nguyễn Hữu Liêm. Những nhận định trong bài không nhất thiết phản ánh đầy đủ, hoặc trùng khớp với, thông điệp mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc. Minh Hạo trình bày cách tiếp cận của mình như một lời mời cùng suy ngẫm, không phải lời khẳng định về chủ đích cuối cùng của tác giả.

2. Về tác phẩm 

BÌA SÁCH TA LA-NHL
Ành bìa
“ TA LÀ -Những Khúc Mắc Siêu Hình Học”

 

Bạn đọc quan tâm có thể tìm mua sách qua Nhà xuất bản Nhân Ảnh để trực tiếp tiếp cận tác phẩm và tự hình thành nhận định của mình.

TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học là một công trình triết học xoay quanh các vấn đề về bản thể, ý thức, cái Tôi, vô ngã và hành trình trở thành một cá nhân có ý thức tự chủ. Theo phần Lời nói đầu, tác giả đối thoại với nhiều nguồn tư tưởng khác nhau, từ Cựu Ước, Tân Ước và Phật giáo đến Aristotle, Hegel, Gurdjieff, Ken Wilber và Ludwig Wittgenstein.

Có thể xem đây là nỗ lực suy tư liên ngành, kết nối những câu hỏi của triết học phương Đông về bản ngã và vô ngã với những vấn đề của triết học phương Tây về bản thể, chủ thể, ý thức và sự hình thành cái Tôi. Tuy nhiên, đây là cách khái quát để định hướng người đọc; không nên hiểu rằng toàn bộ tư tưởng Đông phương hay Tây phương đều có thể quy về một hệ thống thống nhất trong cuốn sách.

Đọc TA LÀ, vì thế, không chỉ là tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Ta là ai?”, mà còn là cơ hội để mỗi người tự chất vấn về ý thức cá nhân, trách nhiệm với cộng đồng và ý nghĩa của tự do trong đời sống con người.

______________________________________  

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Sáu 20211:14 SA(Xem: 33483)
Kết thúc ba ngày hội thảo từ 11 đến 13 tháng 6 vừa qua tại Cornwall thuộc miền nam Anh Quốc, Nhóm G7 – một tổ chức gồm bẩy nước dân chủ có nền kinh tế phát triển lớn nhất là Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mỹ, Anh và Gia Nã Đại – cùng đồng ý tham gia vào một đề xướng đầy tham vọng, đó là hỗ trợ dự án giúp các quốc gia nghèo có nhu cầu phát triển xây dựng hạ tầng cơ sở trên toàn thế giới.
28 Tháng Sáu 202112:51 CH(Xem: 39473)
1957 một tạp chí có tên Bách Khoa do hai ôngHuỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh sáng lập, xuất bản mỗi tháng hai kỳ, với quan niệm là: “Diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề Chính trị, Kinh tế, Văn hoá, Xã hội.” Nguồn tài chánh ban đầu của Bách Khoa là do đóng góp của một nhóm 30 người, gồm những nhà giáo, nhà báo, chuyên viên hay công tư chức cao cấp thời bấy giờ; mỗi người góp 1.000 đồng (lương tháng hàng giám đốc lúc đó khoảng 5.000 đồng) , tổng cộng được 29.500 đồng, một số tiền phải nói là khá lớn (theo TS Phạm Đỗ Chí, thì 1 US$ = 35 VN$ và số tiền ấy tương đương với hơn 20 lạng vàng theo thời giá 1957 lúc bấy giờ).
03 Tháng Sáu 202110:29 CH(Xem: 36792)
Kịch bản tuồng "Liệu đố" (chữa bệnh ghen) có thể nói là một kịch bản văn học khá kỳ lạ. Khoác cái vỏ lụng thụng của những điển tích cổ, thơ Đường, Kinh thi..., nhưng kịch bản được viết ra từ trên một thế kỷ này tận cốt lõi lại là sự sống dân gian Việt, và điều đặc biệt nhất là chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại trong nội dung tâm lý cũng như về hình thức biểu hiện. Tôi xin mạn phép được minh chứng điều này bằng chính văn bản vở tuồng "Liệu đố" mà tôi có được trong tay nhờ các nhà nghiên cứu dịch thuật Hán Nôm của Trời Văn Bình Định (“Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ” - Nxb Sân khấu, 2011).
16 Tháng Năm 20219:48 CH(Xem: 37584)
Ngày 5/5, TAND tỉnh Hoà Bình đã tuyên án 16 năm tù cho chị Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư. Trước đó, người con trai khác của chị, Trịnh Bá Phương bị công an chuyển từ trại giam vào viện tâm thần. Sự đàn áp khắc nghiệt của lãnh đạo ĐCS đối với gia đình chị, vô tình lại giúp tôi cảm nhận được cái “sức sống mãnh liệt” của những nông dân này. Và như Ls Đặng Đình Mạnh, tôi cũng rơi nước mắt khi đọc những chia sẻ của anh:"Chứng kiến sự đanh thép, bất khuất ... của họ tại tòa, mất tự chủ, tôi chảy nước mắt vì xấu hổ".
15 Tháng Năm 20214:04 CH(Xem: 40298)
"Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ." (NTV)
26 Tháng Tư 20215:05 CH(Xem: 40529)
Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư. {Bây giờ} Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.
17 Tháng Tư 202112:36 SA(Xem: 35030)
Trong cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, của Trần Mai Hạnh (đăng nhiều kỳ trên tuần báo Văn Nghệ từ số 12 ra ngày 18.3.2000), tác giả tưởng tượng ra cuộc đối thoại như sau giữa Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 và viên Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà nẵng: “An Phran-xít xộc vào giữa lúc Trưởng đang hối thúc đám tay chân thân tín tiêu hủy tài liệu. Thấy An Phran-xít, Trưởng không trịnh trọng bước tới bắt tay như mọi khi mà chỉ cất tiếng chào: - Xin chào Ngài Tổng lãnh sự! Tôi tưởng Ngài đã ra đi. - Sân bay hỗn loạn. Không một máy bay nào lên xuống được. Người của tôi đi chưa hết. Không một ai giúp tôi. Tôi phải can thiệp và tụi lính của ngài đã xông vào hành hung tôi.
15 Tháng Tư 202112:16 SA(Xem: 36146)
Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» ..., tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào.
29 Tháng Ba 202111:52 CH(Xem: 38153)
JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962 Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.
25 Tháng Ba 202110:32 CH(Xem: 34755)
Cách đây hơn hai chục năm, tôi có được xem một bộ phim tài liệu nghệ thuật (nhựa màu 3 cuốn) về chân dung nhạc sĩ Văn Cao, và có một tình tiết khiến tôi bị ám ảnh mãi - không phải vì sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mà bởi sự thiếu "sang trọng" rất phản cảm của nó: những người làm phim đã buộc nhạc sĩ ngồi bên cây đàn piano, giơ cả hai khuỷu tay đập mạnh vào phím đàn như một người mất trí, hoặc căm hận ai đó, và không chỉ một lần! Người nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng tôn trọng phương tiện nghệ thuật của mình, trong thực tế không ai làm như vậy!