- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

PHÊ BÌNH VĂN HỌC - MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA NHỮNG TÂM HỒN

23 Tháng Chín 202611:16 CH(Xem: 2325)
HTBHa
Nhà văn Hoàng Thị Bích Hà



*Tôi từng bị quạu, khi hỏi về tiểu sử của một tác giả. Đó là một trong những tình huống đã gặp khi bước vào cái nghiệp khó nhằn này. Âu cũng vì đam mê, hay vì trời đày, tôi cũng chẳng biết nữa!(HTBH)

 

 

PHÊ BÌNH VĂN HỌC - MỘT CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA NHỮNG TÂM HỒN

 Hoàng Thị Bích Hà

Và tôi bỗng tìm thấy một tiếng nói đồng điệu với vị tiền bối cách xa hơn nửa thế kỷ.

 

Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết. Nhưng càng bước vào địa hạt này, tôi càng nhận ra một điều: phê bình văn học vốn là một miền đất khô khan, nặng về lý thuyết, nơi những khái niệm hàn lâm đôi khi khiến người đọc đứng ngoài cánh cửa tác phẩm.

Có lẽ vì thế, ngay từ những bước đầu tiên, tôi đã tự đặt cho mình một câu hỏi: Liệu có thể viết phê bình mà không làm mất đi hơi ấm của đời sống? Và tôi nghĩ là có.

Với tôi, phê bình, hay nói gần gũi hơn là nhận định tác phẩm, không chỉ là mổ xẻ câu chữ bằng những công thức lạnh lùng, càng không phải là cuộc trình diễn của những thuật ngữ. Phê bình văn học trước hết phải là một hành trình đi tìm con người phía sau tác phẩm. Đằng sau một câu thơ buồn có thể là một cuộc đời nhiều mất mát. Đằng sau một trang văn gai góc có thể là một tâm hồn từng chịu nhiều va đập. Và đôi khi, muốn hiểu một tác phẩm, ta cần biết người viết đã sống như thế nào, đã yêu thương, đau khổ, hy vọng và đi qua những biến cố gì.

Bởi vậy, trong những bài viết của mình, tôi thường cố gắng đưa chất đời vào trang phê bình.

 

Tôi quan tâm đến tiểu sử của tác giả, đến quê hương, gia đình, môi trường sống, những mối quan hệ, những biến động lịch sử và cả hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Không phải để biến một bài phê bình thành một bản tiểu sử, mà bởi tôi tin rằng văn chương bao giờ cũng có một mạch nguồn từ đời sống.

 

Hiểu được mạch nguồn ấy, đôi khi ta sẽ hiểu sâu hơn vì sao một hình ảnh xuất hiện, vì sao một nỗi buồn trở đi trở lại, vì sao một câu chữ tưởng như bình thường lại mang sức ám ảnh đến vậy.

 

Tôi thường nghĩ: muốn hiểu một giọt nước mắt trong thơ, trước hết phải biết người viết đã từng khóc vì điều gì.

 

Tất nhiên, hoàn cảnh sáng tác không thể thay thế cho việc phân tích tác phẩm. Một tác phẩm hay không chỉ vì cuộc đời tác giả có nhiều biến động. Văn chương còn là nghệ thuật của ngôn từ, của cấu trúc, hình tượng, nhịp điệu, giọng điệu và những sáng tạo riêng của người cầm bút. Vì thế, với tôi, hoàn cảnh sống và tác phẩm phải soi chiếu lẫn nhau. Đời sống giúp mở cánh cửa bước vào tác phẩm; còn tác phẩm giúp ta nhìn lại đời sống bằng một chiều sâu khác.

 

Có lẽ vì quan niệm ấy nên tôi thường không muốn bắt đầu bài viết bằng những định nghĩa nặng về lý thuyết. Tôi thích mở đầu bằng một câu chuyện, một kỷ niệm, một hình ảnh đời thường, đôi khi chỉ là một thoáng tâm tình. Từ cái gần gũi ấy, tôi dẫn người đọc từng bước đi vào khám phá tác phẩm.

 

Tôi muốn người đọc có cảm giác mình đang cùng tôi trò chuyện hơn là đang nghe một bài nhận định phê bình văn học. Rồi từ câu chuyện ấy, cánh cửa văn chương dần mở ra. Ta gặp tác giả trong thế giới riêng của họ: lắng nghe những rung động, những day dứt, những niềm vui và nỗi đau được gửi vào từng câu chữ. Từ đó, việc phân tích nội dung, nghệ thuật, hình tượng, ngôn ngữ hay thông điệp nhân sinh không còn là những thao tác tách rời mà trở thành một dòng chảy tự nhiên.

Tôi gọi đó là sự mềm hóa lý thuyết. Tri thức và nền tảng luận điểm là bắt buộc, nhưng chỉ thực sự chạm đến người đọc khi được chuyển hóa bằng thứ ngôn ngữ biết rung động. Phê bình, sau cùng, không phải đứng bên ngoài để phán xét, mà là bước vào thế giới của tác giả để lắng nghe và sẻ chia.

 

Một nhận định dù đúng đến đâu mà chỉ khiến người đọc cảm thấy xa cách thì vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của phê bình. Tôi muốn những điều dẫu có chút hàn lâm khi đi qua trang viết của mình sẽ trở nên mềm hơn, gần hơn, dễ đọc hơn, nhưng không vì thế mà thiếu đi chiều sâu.

 

VÀ RỒI TÔI GẶP TRẦN THANH MẠI

 

Khi nghiên cứu về nhà văn, nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại (1908-1965), tôi như tìm thấy một tri âm cách biệt hơn nửa thế kỷ. Ở ông, tôi không chỉ gặp một nhà nghiên cứu đi trước, mà bắt gặp một cách nhìn văn chương thân thuộc đến kỳ lạ, nơi phê bình là cuộc đối thoại ấm áp giữa tri thức và cảm xúc, giữa văn bản và đời sống.

 

Điều ấy đến với tôi khá ngẫu nhiên. Tôi không hề biết trước rằng khi đi sâu nghiên cứu Trần Thanh Mại, mình lại bắt gặp ở ông những điều mà bản thân cũng đang âm thầm theo đuổi trong cách viết. Càng đọc, càng tìm hiểu, tôi càng thấy khoảng cách thời gian: gần sáu mươi năm bỗng trở nên rất ngắn. Tôi có cảm giác mình đang ngồi lại với một người tiền bối, đọc những trang viết của ông, lặng lẽ trò chuyện và tìm thấy ở đó những điều mình cũng đang trăn trở. Đó là một cảm giác rất khó gọi tên. Có lẽ trong văn chương, sự đồng điệu không nhất thiết phải đến từ cùng thời đại. Một người có thể sống trước ta hàng chục năm, thậm chí hàng thế kỷ, nhưng nếu giữa hai tâm hồn có một sự đồng điệu, họ vẫn có thể trở thành tri âm.

 

Ông đến với tác phẩm không chỉ bằng con mắt của một người khảo cứu mà còn bằng sự nhạy cảm của một người hiểu đời, hiểu người. Những trang viết của ông khiến tôi nhận ra rằng phê bình hoàn toàn có thể là một cuộc đối thoại giữa tri thức và cảm xúc, giữa văn bản và cuộc đời.

 

Vì thế, tôi càng tin rằng phê bình văn học không phải là đứng bên ngoài tác phẩm để phán xét tác phẩm. Phê bình là bước vào thế giới của người viết, cố gắng hiểu họ, rồi từ sự thấu hiểu ấy mà nhận định.

 

Tôi muốn người đọc sau khi đọc một bài phê bình không chỉ biết thêm một tác phẩm hay một tác giả, mà còn cảm thấy mình vừa gặp một con người. Có thể đó là một con người đã sống cách chúng ta rất xa, nhưng những vui buồn, khát vọng, cô đơn và tình yêu của họ vẫn có thể chạm đến chúng ta hôm nay.

 

Tôi không nghĩ mình đã tìm ra một phương pháp phê bình hoàn chỉnh. Tôi chỉ đang đi tìm một cách viết phù hợp với mình: có kiến văn nhưng không lạnh lùng, có lý luận nhưng không nặng nề, có phân tích nhưng không đánh mất cảm xúc, có học thuật nhưng vẫn giữ được hơi thở của đời sống.

 

Bởi sau cùng, văn chương được sinh ra từ con người và trở về với con người.

Còn phê bình, nếu may mắn, có thể trở thành chiếc cầu nối giữa hai phía ấy. Một phía là người đã viết. Một phía là người hôm nay đang đọc. Và ở giữa hai bờ thời gian, người viết phê bình chỉ là kẻ lữ hành lặng lẽ, nhưng trong tim luôn giữ hơi ấm của sự đồng cảm. Để khi đọc một câu thơ, ta không chỉ hỏi: “Nó hay ở đâu?” Mà còn muốn biết: Vì sao một con người lại viết ra được những câu chữ ấy?

Có lẽ, từ câu hỏi đó, hành trình đi vào thế giới văn chương mới thực sự bắt đầu.

Dù phải mò mẫm vất vả, dù đánh đổi nhiều thứ, tôi vẫn yêu công việc mình đang làm!

 

 

Saigon, ngày 18/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tư 201512:22 SA(Xem: 60514)
Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn. Câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại nhưng liệu có còn chính xác với tình thế hiện tại của đất nước ? Ngày nay, kinh tế tụt hậu, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng lên đỉnh cao, đạo đức xã hội xuống cấp...
22 Tháng Ba 20153:31 SA(Xem: 57511)
Nguyễn Xuân Hoàng trong số báo Văn đặc biệt về TTT, đã viết: "Thanh Tâm Tuyền như ngọn cờ đầu của thơ tự do Việt Nam, người làm mới thi ca Việt Nam." (2) Đặng Tiến khi viết bài tưởng niệm Thanh Tâm Tuyền đã bày tỏ ít nhiều tiếc rẻ là "lối thơ Thanh Tâm Tuyền không có người thừa kế."
18 Tháng Hai 20159:45 SA(Xem: 69059)
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.
02 Tháng Mười Một 20141:53 SA(Xem: 71292)
Hồ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này, làm trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình.
10 Tháng Mười 20141:45 SA(Xem: 73060)
Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia” . Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc “cái đa đa”.
20 Tháng Chín 20145:29 SA(Xem: 59906)
Trong số 26 con đập dòng chính Sông Mekong, thì Noạ Trát Độ / Nuozhadu 5,850 MW trên Vân Nam là con đập lớn nhất, và Don Sahong 260 MW là con đập nhỏ và quan trọng nhất thuộc địa phận Nam Lào (không kể tới Thakho Diversion, cũng của Lào, 50 MW được bảo trở bởi CNR & EDL). Bài viết là một phân tích về hai thái cực của sự huỷ hoại: từ con đập lớn nhất tới con đập nhỏ nhất trên toàn hệ sinh thái Sông Mekong.
08 Tháng Chín 201412:00 SA(Xem: 67059)
Khiếm khuyết lớn của dân tộc Việt là đã say mê khía cạnh chính trị của chiến tranh mà lãng quên khía cạnh thuần học thuật, quân sự của chiến tranh. Clausewitz nổi tiếng với mệnh đề thường xuyên được trích dẫn: "Chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị." Nhưng Clausewitz không viết duy nhất một mệnh đề này, mà soạn thảo tám tổng tập Cẩm nang Chiến tranh mà cho đến phút này vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt, ngay cả tóm lược .
27 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 65762)
Tôi ít thấy ai yêu thơ như Mai Thảo. Thuộc rất nhiều thơ, đặc biệt thơ tiền chiến và thơ những năm đầu kháng chiến, Mai Thảo có thể nói chuyện về thơ miên man từ giờ này sang giờ khác, từ ngày này sang ngày khác. Dường như chỉ khi nói chuyện về thơ, Mai Thảo mới hoạt bát, sôi nổi, say sưa, gửi hết hồn mình trong từng tiếng trầm tiếng bổng. Ly rượu trên tay, đầu lắc lư, mắt lim dim, Mai Thảo nói về thơ với giọng vừa xúc động như khi người ta kể lại một mối tình đầu, vừa thành kính như một con chiên kể về cuộc đời của Người Cứu Thế. Với Mai Thảo, thơ là cái gì thiêng liêng, rất đỗi thiêng liêng, như một tôn giáo. Với Mai Thảo, thơ, "chỉ thơ, mới là ngôn ngữ, là tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương"
18 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 57304)
...toàn cảnh các quốc gia trong lưu vực Sông Mekong từ Trung Quốc xuống tới Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam cho dù mang những tên gọi khác nhau nhưng đó vẫn là những đất nước chưa có dân chủ, vẫn là những “xã hội hình tháp – social pyramid” nói theo ngôn từ của nhà xã hội học Miến Kyaw Nyein, với đỉnh tháp là thiểu số thống trị và dưới đáy vẫn là đa số những người dân nghèo khổ bị khai thác và bóc lột.
14 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 65413)
K hác với quân đội của các đế quốc, quân đội Việt Nam đã luôn phải xây dựng sức mạnh trên chính lòng ái quốc của dân tộc mình. Ngay cả khi Đại Nam đạt đến sức mạnh của một đế quốc Đông Dương, quân đội Đại Nam chưa biết vận dụng sức lực của các sắc tộc Chàm, Ai Lao hay Thủy Chân Lạp. Sức mạnh của quân đội Việt Nam là sức mạnh của sự đoàn kết, chết để giữ đất và chết để mở đất, của sắc tộc Kinh. Mạc Cửu ở Hà Tiên là một biệt lệ.