- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Viễn Kiến Môi Sinh Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Từ “Nóc Nhà Thế Giới” tới thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026

10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 3291)

Viễn Kiến Môi Sinh Của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Từ “Nóc Nhà Thế Giới” 

tới thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026

 

NGÔ THẾ VINH 

 

Nepal–Tây Tạng 2026 -H1

 

MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG


Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html

 

*

Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?

Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.

 

Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái


Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.

Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.

Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.

Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreat, sự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole...  chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.

Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.

Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.

Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ. 

 

Tây Tạng: “Tháp Nước Châu Á”


Cao nguyên Tây Tạng cùng hệ thống Hindu Kush–Himalaya thường được nhìn như một “Tháp Nước Châu Á / Water Tower of Asia.” Đây là vùng băng tuyết lớn nhất bên ngoài hai địa cực, nên cũng thường được gọi là “Cực Thứ Ba / Third Pole.”

Từ vùng núi cao này phát nguyên hoặc được nuôi dưỡng bởi băng tuyết nhiều hệ thống sông ngòi.

 

 Nepal–Tây Tạng 2026 -H2

Hình 2: Những con sông lớn Châu Á bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng

 

Bởi vậy, một biến đổi xảy ra ở độ cao 5.000 hay 6.000 mét không nhất thiết kết thúc ở đó.

Một phân tử nước tan ra từ băng tuyết Himalaya có thể bắt đầu một hành trình rất dài, qua núi cao, thung lũng, biên giới quốc gia, những hồ chứa và đập thủy điện, rồi cuối cùng trở thành một phần của dòng sông nuôi sống những đồng bằng đông dân cách nơi nó khởi nguồn hàng ngàn cây số.

Đó chính là ý nghĩa sinh thái sâu xa của khái niệm phụ thuộc lẫn nhau / interdependence.

 

Ngày 26 tháng 8 năm 2026: khi cả một sườn núi chuyển động


Thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026 đem lại một minh họa kinh hoàng cho tính mong manh của hệ sinh thái ấy.

Những phân tích ban đầu từ ảnh vệ tinh cho thấy một khối khổng lồ gồm đá, băng và trầm tích từ vùng núi cao đã sụp xuống thung lũng. Theo các nhà khoa học được Reuters tham khảo, phần dưới của một glacier ở độ cao khoảng 5.200 mét đã rơi xuống đáy thung lũng thấp hơn khoảng 1.200 mét, kéo theo một khối lượng rất lớn đá, băng, bùn và nước.

Điều đặc biệt đáng chú ý là tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghĩ tới một trận động đất. Nhưng Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho rằng tín hiệu ấy có thể chính là năng lượng do khối đá và băng khổng lồ sụp xuống tạo ra, chứ không phải một trận động đất thông thường gây nên vụ sạt lở.

Một khi khối vật chất ấy lao xuống, thảm họa không còn giới hạn tại nơi sông băng / glacier bị phá vỡ.

Nước, đá, bùn và băng tràn vào hệ thống Bhote Koshi–Trishuli. Có nơi mực nước phía hạ lưu được báo cáo tăng tới khoảng 9 mét chỉ trong vòng 30 phút.

Đó là tốc độ của một tai biến gần như không cho cộng đồng phía dưới thời gian phản ứng.

Đến ngày 7/9/2026, Reuters ghi nhận ít nhất 1.380 người thiệt mạng và hơn 5.500 người còn mất tích tại Nepal và Tây Tạng; hàng trăm công nhân tại các dự án thủy điện nằm trong số những người chưa tìm thấy.

Nhưng phía sau những con số tử vong ấy còn có một câu hỏi lớn hơn:

Điều gì đang xảy ra với Himalaya?

 

Không thể quy mọi thảm họa đơn giản cho biến đổi khí hậu


Ở đây cần một thái độ khoa học thận trọng.

Không thể chỉ vì một thảm họa xảy ra giữa thời đại hâm nóng toàn cầu / global warming mà lập tức kết luận rằng climate change là nguyên nhân duy nhất.

Các nhà địa chất đang tiếp tục nghiên cứu chuỗi diễn biến của tai biến ngày 26/8. Một phân tích cho rằng một vụ sạt lở đá khổng lồ có thể đã cuốn theo sông băng / glacier; nguồn gốc của lượng nước cực lớn trong dòng bùn đá / debris flow vẫn còn những điểm chưa được giải thích hoàn toàn. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng ở độ cao này, sự tan vỡ của tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / permafrost, có thể làm giảm độ ổn định của sườn núi, nhưng việc quy kết một biến cố cụ thể cho khí hậu cần thêm nghiên cứu.

Sự thận trọng ấy rất cần thiết.  Nhưng cũng không thể bỏ qua một bức tranh lớn hơn đã ngày càng rõ.

Các sông băng / glacier Himalaya đang mất băng nhanh chóng. Reuters dẫn dữ liệu Liên Hiệp Quốc cho biết các núi phủ tuyết Nepal đã mất gần một phần ba lượng băng trong hơn ba thập niên, và tốc độ tan sông băng / glacier trong thập niên gần đây nhanh hơn đáng kể so với thập niên trước đó.

Khi nhiệt độ tăng, không chỉ sông băng / glacier thu nhỏ. Tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / Permafrost tan vỡ. Sườn núi mất ổn định. Hồ băng hình thành và lớn dần. Những con đập thiên nhiên bằng băng và trầm tích băng hà / moraine trở nên mong manh. Các trận Mưa lớn có thể tác động lên một địa hình vốn đã bất ổn.

Những nguy cơ trước kia nằm riêng rẽ bắt đầu chồng lên nhau. Và khi chúng hội tụ, một tai biến địa phương có thể trở thành một thảm họa dây chuyền / cascade disaster.

 

Một nghịch lý của phát triển: thủy điện cũng chắn trên đường đi của lũ


Thảm họa Nepal còn phơi bày một nghịch lý khác. Các con sông Himalaya có tiềm năng thủy điện khổng lồ. Những quốc gia nghèo miền núi cần điện năng, đường sá và phát triển kinh tế. Nhưng chính các công trình ấy lại thường được xây trong những thung lũng hẹp, nơi dòng nước bị tập trung và cũng chính là hành lang của lũ quét, dòng bùn đá / debris flow và lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood.

Trong thảm họa 2026 vừa qua, nhiều dự án thủy điện bị ảnh hưởng nặng; hàng trăm công nhân mất tích hoặc bị kẹt trong các đường hầm.

Bởi vậy, câu hỏi không thể giản lược thành “phát triển hay không phát triển.” Câu hỏi đúng hơn phải là: Phát triển ở đâu, phát triển tới mức nào, và cái giá sinh thái mà các thế hệ sau phải trả là bao nhiêu?

Đó cũng chính là điều Đạt Lai Lạt Ma đã đặt ra từ cuối thập niên 1980 khi ông không phủ nhận nhu cầu phát triển kinh tế, nhưng nhấn mạnh rằng việc thác tài nguyên phải được điều tiết để không phá hủy hệ sinh thái, và phát triển phải mang tính khai thác bền vững.

 

Nepal–Tây Tạng 2026 -H3

Hình 3: Bahrabise Bazar, Nepal trước và sau trận lũ ngày 26 tháng 8, 2026 do sông băng lở giết chết hàng ngàn người, với hàng ngàn người khác còn mất tích. (Ảnh Wikimedia Commons) 

 

 

Những dòng sông không mang sổ thông hành


Đây có lẽ là phần hiện đại nhất trong viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Biên giới quốc gia được con người vẽ trên bản đồ. Đường phân thủy thì do địa hình vẽ.

Một sông băng / glacier không biết mình thuộc Trung Quốc hay Nepal. Một hồ băng không biết phía dưới nó là Tibet, Nepal, India hay Bhutan. Và khi một con đập thiên nhiên vỡ, dòng lũ không dừng lại ở trạm biên phòng để xuất trình sổ thông hành.

Thảm họa Nepal–Tây Tạng năm 2026 vì vậy không chỉ là một thảm họa của Nepal hay Tây Tạng. Nó là một cảnh báo / wake-up call cho toàn vùng Hindu Kush–Himalaya và những quốc gia hạ nguồn.

Ngày nay hàng tỷ con người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hệ thống sông bắt nguồn hay được nuôi dưỡng từ vùng cao nguyên này. Trong một thế giới khí hậu đang thay đổi, an ninh nguồn nước cũng trở thành an ninh xuyên biên giới.

 

Và từ Himalaya nhìn xuống Mekong và ĐBSCL 


Đối với Việt Nam, bài học ấy không hề xa vời. Mekong cũng bắt nguồn từ vùng cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc rồi Myanmar, Lào, Thái Lan, Cam Bốt trước khi tới Đồng bằng Sông Cửu Long và chảy ra Biển Đông.

Dĩ nhiên, không thể vạch một đường nhân quả trực tiếp từ thảm họa Nepal tới Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai hệ thống địa lý khác nhau, với cơ chế thủy văn khác nhau. Nhưng chúng thuộc cùng một bức tranh sinh thái lớn của châu Á.

Ở thượng nguồn là băng tuyết, khí hậu và những biến động của “Cực Thứ Ba / Third Pole”. Ở trung lưu là những hồ chứa khổng lồ của chuỗi đập thủy điện dòng chính ở Vân Nam Trung Quốc và Lào và sự điều tiết nguồn nước ngày càng lớn do tham vọng của con người. Xa hơn về phía nam là Biển Hồ Tonlé Sap với nhịp đập lũ / flood pulse theo mùa vốn quyết định sức sống của Biển Hồ. Và cuối dòng là Đồng bằng Sông Cửu Long, một đồng bằng thấp đang đồng thời chịu áp lực của thiếu phù sa, sụt lún, xâm nhập mặn và nước biển dâng.

Tất cả không phải một chuỗi nhân quả đơn giản. Nhưng. tất cả nhắc chúng ta về cùng một nguyên tắc:  Không một đoạn sông nào thực sự đứng riêng lẻ một mình.

 

Một lời cảnh báo từ gần bốn thập niên trước


Trong Diễn từ Nobel Hòa Bình năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một hành tinh nhỏ bé, nhân loại phải học cách sống hòa bình với nhau và với thiên nhiên. Theo ông, đó “không chỉ là một giấc mơ mà là một điều cần thiết.”

Ngày ấy, lời nói ấy có thể được nghe như tiếng nói của một nhà lãnh đạo tinh thần. Sau những gì đang xảy ra với các sông băng / glacier Himalaya, người ta có thể đọc lại nó như một lời cảnh báo sinh thái.

Và sau ngày 26 tháng 8 năm 2026, câu nói ấy có thêm một hình ảnh cụ thể: một khối núi và sông băng / glacier từ độ cao hơn 5.000 mét sụp xuống, biến thành một dòng thác băng, đá, bùn và nước lao xuyên qua những thung lũng, xóa đi những công trình con người tưởng là kiên cố, để lại phía sau hàng ngàn sinh mạng mất tích.

Đó chính là ý nghĩa sâu xa của cụm từ tương thuộc / interdependence, có nghĩa là phụ thuộc lẫn nhau. Con người và thiên nhiên; Thượng nguồn và hạ nguồn; Một quốc gia và những quốc gia láng giềng; và thế hệ hôm nay và những thế hệ chưa ra đời: tất cả đều tương thuộc.

Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì thế không phải là lời tiên tri rằng một ngày nào đó Nepal sẽ có một trận đại hồng thủy. Giá trị của nó sâu xa hơn thế: ông đã sớm nhìn thấy rằng sự an toàn của con người trên “Nóc Nhà Thế Giới” và sự toàn vẹn của môi trường thiên nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề sống còn.

Thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026 mới đây đã biến nguyên lý ấy từ một suy tưởng đạo lý thành một thực tại địa-vật lý đầy tang tóc.

Và đối với Việt Nam, chúng ta ở cuối nguồn sông Mekong, khoảng cách hơn 4500 km theo dòng chảy, Cao nguyên Tây Tạng tưởng như một thế giới xa xôi; nhưng băng tuyết tan trên “Nóc Nhà Thế Giới” ấy và số phận của ĐBSCL lại nằm trong cùng một hệ thống thủy văn Mekong. Những gì xảy ra trên “Nóc Nhà Châu Á” không bao giờ chỉ ở lại trên "ngọn đỉnh trời Himalaya” ấy. 

 

NGÔ THẾ VINH 

California 09.2026

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Ba 201910:26 CH(Xem: 51587)
Hơn hai trăm năm trước, trong một cuộc “Bắc hành”, đại thi hào Nguyễn Du đã viết tới tám bài thơ chữ Hán về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên. Trong “tòa lâu đài” thơ chữ Hán Nguyễn Du (Mai Quốc Liên), có một mảng thơ rất quan trọng là nói về các danh nhân văn hóa - lịch sử, đặc biệt là về các bậc thầy văn chương Trung Hoa. Tám bài thơ nói trên mà chúng tôi sẽ khảo sát có trữ lượng suy tưởng - cảm xúc cực kỳ phong phú, sâu sắc, cho thấy cả trái tim lớn của đại thi hào nước Việt dành cho một nhà thơ-nhà ái quốc vĩ đại của Trung Hoa cổ xưa, đồng thời thể hiện bút pháp siêu việt của Nguyễn Du trong khả năng khám phá chiều sâu tâm hồn bản thân lẫn đối tượng miêu tả, trong sự sáng tạo về nghệ thuật ngôn từ của một nhà văn-nghệ sĩ Việt Nam kiệt xuất thời Trung đại.
05 Tháng Ba 20198:59 CH(Xem: 50725)
Huế là xứ thơ. Có lẽ do các yếu tố lịch sử, phong cảnh và nếp sống, vùng đất sông Hương núi Ngự là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ – cả nổi tiếng lẫn khét tiếng. Nếu kể hết tên, chắc chắn sẽ thiếu sót. Bài này chỉ viết lơn tơn – không phải với mục đích phê bình văn học hoặc tài liệu giáo khoa gì ráo – về hai tác giả mà cuộc đời và sự nghiệp có những liên hệ oái oăm về thân tộc và chỗ đứng của họ trên văn đàn và trong lòng độc giả.
24 Tháng Giêng 201911:51 CH(Xem: 48469)
Lâu nay, trong tiếng gào khóc của người dân oan khắp ba miền đất nước, hoà trong nước mắt bao giờ cũng có những kể lể, trách mắng, đầy phẫn uất với tiếng “nó”: nó đến kìa; nó rình rập; nó ác lắm;… hay chúng nó tàn nhẫn lắm!
03 Tháng Giêng 201911:15 CH(Xem: 58458)
Chữ Nghiệp mang sắc thái đạo Phật đó được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học phân tích khá kỹ lưỡng, xoay quanh thuyết Thiên mệnh hay Định mệnh, thuyết Nghiệp báo - Nhân quả chủ yếu để nói về thân phận nhân vật nàng Kiều. Nhưng thiết nghĩ, hai câu thơ ấy, đầu tiên phải vận dụng ngay cho chính tác giả của nó. Cái Nghiệp đó, đối với Nguyễn Du, từ thời trai trẻ, đã được ông coi như “án phong lưu” mà ông phải tự nguyện mang tới suốt đời! (Phong vận kỳ oan ngã tự cư)(2). Nghiệp gì vậy? Có điều gì hệ trọng và thống thiết buộc Nguyễn Du phải bật lên lời tự vấn về giá trị sự tồn tại của ông trong cõi đời phù du này khiến nhiều thế hệ người Việt Nam phải xúc động và gắng tìm hiểu nguyên do: Trước khi chết còn lo mãi chuyện nghìn năm (Thiên tuế trường ưu vị tử tiền. Mộ xuân mạn hứng) - Không biết hơn ba trăm năm sau, Thiên hạ ai là người khóc Tố Như? (Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Độc tiểu thanh ký).
14 Tháng Mười Hai 201810:00 CH(Xem: 55360)
Này nhé, lấy cảm hứng, phỏng theo, hay gì gì đó mà không ghi nguồn thì tức là cầm nhầm bài thơ, dù có biện hộ thế nào đi nữa cũng nói lên "đạo đức và tư cách " của cái việc cầm nhầm. Tài năng như khói, danh vọng như mây, nếu không muốn thiên hạ biết thì đừng có làm như cố tình quên.
12 Tháng Mười Hai 20188:24 CH(Xem: 52687)
Hình như vào thời điểm đến tuổi "Thất Thập Cổ Lai Hy" nhạc sĩ Phú Quang trí nhớ có "vấn đề". Nhất là những ca khúc của ông phổ từ thơ của các thi sĩ. Trong đêm nhạc được tổ chức ở Nhà Hát Lớn Hà Nội vào ngày 26-27/12/2018. (Đêm Nhạc Phú Quang "Trong Miền Ký Ức"), ông đã nhắc đến những trận Bom B52 đã làm cho ngôi nhà cha mẹ của ông đổ sập...ở trong LỜI TỰA bài viết quảng cáo cho show ca nhạc của ông. Nhưng theo danh sách các nhạc khúc của ông, tôi không nghe bài nào có tiếng bom B52 cả...
06 Tháng Mười Hai 201810:26 CH(Xem: 50304)
Người Việt ta xưng hô ai đó là “ông” để bày tỏ lòng kính trọng, và gọi bằng “thằng” những kẻ hèn hạ đáng khinh. Lịch sử ta chép rằng một trong những truyền thống của người Việt cổ là tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng, thũ lĩnh. Người VN trọng cái khí phách, cái đảm lược của một tướng lĩnh trước gian nan, kính cái đức hy sinh, thờ người dám xả thân vì nước; bởi thế cho nên lại càng thêm khinh ghét những kẻ nhu nhược, luồn cúi, làm tay sai cho giặc. Thời Pháp thuộc cha ông ta có câu vè để răn con cháu: " Việt Gian có lũ thằng Tường / Thằng Lộc thằng Tấn thằng Phương một bầy"
16 Tháng Mười Một 20187:55 CH(Xem: 56129)
Tôi không nghĩ rằng giới nhạc sĩ VN lại coi thường giới làm thơ, đến độ dùng thơ của người ta để tạo thành ca khúc, xong vất tên của người ta ra và không thèm ghi tên tác giả thơ vào tác phẩm. Vì hành động đó là hành động đốn mạt của kẻ vô sỉ, hành động ăn cắp tim óc của người khác.
11 Tháng Mười 20189:26 CH(Xem: 49292)
Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phiên họp bất thường ngày 8.10.2018 đã biểu quyết 100% thông qua dự án đầu tư xây dựng Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch tại Khu đô thị Thủ Thiêm, nguồn kinh phí 1.500 tỷ từ ngân sách nhà nước. Quyết định này đã làm dấy lên nhiều phản ứng của người dân thông qua mạng xã hội và những ý kiến trên báo chí (1) xoay quanh hai vấn đề: 1. Thủ Thiêm là khu vực đang “nóng” do những sai phạm về đất đai của chính quyền thành phố gần 20 năm qua; 2. Sự cần thiết của công trình văn hóa này so với nhu cầu bức thiết về những công trình dân sinh khác như bệnh viện, đường xá...
02 Tháng Mười 20188:19 CH(Xem: 51737)
Hơn 40 năm sau 1975, như một chuỗi sai lầm từ hệ thống, nhà nước CSVN đã thiết lập vội vã nhiều dự án trọng điểm rất tốn kém với tham vọng nhằm "cải tạo" ĐBSCL, đa phần là can thiệp thô bạo gây tác hại trên hệ sinh thái mong manh của cả một vùng châu thổ. Do tính cục bộ, thiếu sót trong Đánh giá Tác động Môi trường Chiến lược [SEA / Strategic Environment Assessment] của toàn ĐBSCL, chỉ với những "nghiên cứu mệnh danh là khoa học" nhưng theo phong cách: làm nhanh ăn nhanh; chủ yếu bị chi phối bởi các nhóm lợi ích các chủ đầu tư, rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra đánh bạc, bất chấp ý kiến của họ, đồng thời trấn áp các phản biện và gạt bỏ mọi khuyến cáo của các chuyên gia kinh nghiệm có thẩm quyền.