- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

DI SẢN VÔ THỪA NHẬN

11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 2206)

DO GOM VN

    Đồ Gốm Việt Nam



DI SẢN VÔ THỪA NHẬN

                                                           Nguyễn Công Khanh    


Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ!

Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.

Một điều phải minh định đầu tiên là những món đồ gốm được trưng bày trong cuộc triển lãm này hoàn toàn do sự đóng góp của các nhà sưu tầm người Mỹ tại địa phương và các nơi khác trên đất Mỹ. Như thế chứng tỏ rằng đồ gốm Việt Nam đã có một sự lưu ý đặc biệt trong giới sưu tầm quốc tế. 

Người phụ trách là ông John Stevenson, ông vừa là curator của cuộc triển lãm vừa là Quyền Giám Đốc của ngành Mỹ thuật Trung Hoa tại viện bảo tàng. Ông đã bỏ ra nhiều năm để nghiên cứu tại chỗ về đồ gốm Việt Nam. Trong năm 1997, nhà xuất bản Art Media Resources đã ấn hành cuốn sách về đồ gốm Việt Nam gồm 400 trang của ông và ông John Guy. Đó là một công trình nghiên cứu hoàn hảo nhất về đồ gốm Việt nam từ trước đến nay. Cũng trong dịp này ông John Guy, một trong những người có thẩm quyền nhất về đồ sứ Đông Nam Á, cũng là curator sưu tầm về cổ vật Ấn độ và Đông Nam Á tại Viện Bảo tàng Victoria and Albert Museum tại Luân đôn đã đến Viện Bảo tàng Seattle nói chuyện về Vietnamese Ceramics:Cultural Identity & Trade, Recent Discoveries. Ông John Guy cũng là người đặc biệt nghiên cứu về văn minh Hoà Bình và trống đồng Việt Nam. Bài nghiên cứu này của ông đã đăng trên tạp chí National Geographic nhiều năm trước.

Đây là một cuộc triển lãm đồ gốm Việt Nam đầu tiên tại Hoa Kỳ. Số lượng tuy khiêm tốn với 52 đồ gốm cổ trải dài từ thế kỷ thứ hai cho tới thế kỷ thứ mười sáu, vào khoảng sau thời Giao Chỉ cho tới cuối đời Nhà Lê. Phòng triển lãm này nằm  trong tòa bảo tàng Á châu, một toà nhà lớn như các viện bảo tàng trên thế giới, tường và sàn đều lát đá cẩm thạch, tọa lạc trong công viên Volunteer Park, nhìn xuống vịnh Puget Sound của thành phố. Tòa nhà này gồm nhiều khu trưng bày thường trực các cổ vật văn hoá khác của Á châu như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ và một số nhỏ của Thái Lan, Tây Tạng và Khmer. Người thưởng ngoạn sau khi xem tất cả các cổ vật trong khu Á châu, đều đồng ý với tên của cuộc triển lãm, đồ gốm Việt nam có những nét đặc thù và truyền thống riêng biệt, khác với các đồ gốm của các xứ Á châu.

Tuy nhiên không ai phủ nhận, vì Việt Nam nằm kế cận Trung Hoa và lại chịu đô hộ hơn một ngàn năm, với chính sách cố tình đồng hoá, Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề của nền văn minh và các sản phẩm nghệ thuật của họ. Dĩ nhiên đồ gốm Việt Nam đã mang nhiều tính chất của đồ gốm Trung Hoa. Nhưng những nhà nghiên cứu về ngành này đều cho rằng, những người làm đồ gốm Việt Nam đã không dập theo những khuôn mẫu đầu tiên của Trung Hoa. Họ đã phối hợp những tính cách nguyên thủy đó với những đặc thù của họ. Nhờ loại đất sét tuyệt hảo cuả vùng châu thổ sông Hồng, Bắc việt, loại đất sét mầu trắng xám, mịn và tinh tuyền để tạo nên những đồ gốm tinh xảo nhất trong vùng. Người làm đồ gốm Việt Nam đã xử dụng những phương cách mới và thu thập những đường nét từ các nền văn hoá khác như Khmer, Chàm và Ấn Độ. Do đó, những nét trang trí, dùng màu sắc, tráng men, những phương pháp sản xuất và ngay cả đường hướng sáng tạo đã khác hẳn với các đồ gốm của Trung Hoa.

Thường thường, những sản phẩm nghệ thuật cổ Việt Nam khó có thể tồn giữ được lâu. Những loại làm bằng gỗ, giấy, và vải đã không chịu nổi khí hậu nóng và ẩm thấp. Những công trình kiến trúc như thành quách, lâu đài, lăng tẩm, đền chuà, miếu cổ không còn lại là bao vì đã bị tàn phá bởi bao nhiêu cuộc ngoại xâm từ phương Bắc, bởi bao nhiêu cuộc chính biến mà triều đại nào cũng muốn tận hủy những tàn tích của triều đại cũ. Riêng chỉ còn có đồ gốm là có thể còn nguyên vẹn vì đã được chôn giấu do sự cố ý hay vô tình. Đến nay, cùng với văn chương và âm nhạc là những môn nghệ thuật không tạo hình được lưu truyền lại, đồ gốm đã thể hiện là những biểu tượng quan trọng nhất còn sót lại của di sản văn hoá Việt nam.

Khi nhìn lại những đồ gốm cổ Việt Nam được trưng bày trong bảo tàng, những chiếc ấm, chén trà, chiếc bình, bát hương, đèn dầu và những triện đóng dấu v.v. được chế tạo ra với đầy tính chất nghệ thuật, tinh xảo và chuyên nghiệp vững vàng, sẽ không có ai ngạc nhiên về lời phát biểu cuả một nhà sử học người Pháp Victor Goloubew năm 1931. Sau khi đã chứng kiến sự khám phá thấy các đồ gốm cổ tại vùng Thanh hoá, ông tiên đoán: “Tỉnh Thanh Hoá sẽ trở thành miền đất hứa cho các nhà sưu tầm đồ cổ. Rồi đây, chúng ta sẽ quen gọi đồ gốm Thanh Hóa như thường gọi đồ gốm đời Thanh hay đời Minh Chắc rằng chẳng bao lâu sẽ có những bình, những bát sứ cổ Việt nam trong các viện bảo tàng khắp Âu châu và châu Mỹ”.

Viễn tượng của Goloubew đã không thành hình được. Những tàn phá do các cuộc thay đổi các triều đại và các cuộc chiến tranh triền miên, nối tiếp nhau đã gây nên bao nhiêu trở ngại và sự thiếu lưu tâm tới nghệ thuật cũng như tới đồ gốm Việt nam. Các học giả và các nhà sưu tầm đã sao lãng, không đặt trọng tâm để nghiên cứu. Nếu có, họ thường coi đây như những món sản phẩm lạ của tỉnh nhỏ, và chỉ là một phản ảnh mờ nhạt của đồ gốm Trung hoa.

Đồ gốm Việt Nam phát triển mạnh mẽ sau khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán, chấm dứt một ngàn năm đô hộ của Trung Hoa, năm 936. Trải qua các triều đại hưng thịnh Lý, Trần, Lê, một mặt thâu nhận thêm các nền văn hoá mới trên đường Nam tiến cuả Chàm và Khmer, nhất là về điêu khắc và âm nhạc. Một mặt, muốn thoát khỏi ảnh hưởng trầm trọng của văn hoá Trung hoa, Việt Nam đã phối hợp những nghệ thuật cũ và mới để tạo thành những sản phẩm nghệ thuật có những đặc thù riêng biệt, nhất là về đồ gốm. Nhiều đồ gốm đã được các thương thuyền ngoại quốc mua đem xuất cảng. Sau này người ta đã tìm thấy phần lớn trong các xứ Hồi giáo, vì các đĩa bát lớn cuả đồ gốm Việt Nam rất thích hợp cho chế độ ẩm thực ăn chung và dâng lễ trong tục thờ cúng của họ. Một số cũng đã được mang đến Châu Âu.

Hiện nay, một số các viện bảo tàng tại Á châu, Trung Đông, Úc châu và Âu châu có tàng trữ đồ gốm Việt Nam. Sau chiến tranh, một số đã được đào thấy trên miền Bắc và đồng thời cũng khám phá được các trong các thương thuyền bị đắm trong nhiều thế kỷ trước tại duyên hải Việt nam và gần đây nhất tại biển Phi luật tân, mà người ta cho biết có chuyên chở nhiều đồ gốm cổ Việt Nam.

Theo sự nhận xét cuả những nhà sưu tầm thì những nhà làm đồ gốm Trung hoa, họ là những người hoàn thiện theo cái chuẩn đích kỹ thuật rõ rệt của họ. Men sứ xanh của họ là thứ tuyệt hảo nhất thế giới, những nét trang trí trang nghiêm của họ xoay quanh những tích cổ, những cảnh Phước Lộc Thọ, Thất Hiền, Bát Tiên Quá Hải, hay những con vật linh thiêng như long, ly, quy, phượng vv... gần như không thay đổi mà lúc nào cũng thấy ngày một toàn hảo hơn. Không ai muốn vượt thoát ra ngoài cái khung đó mà từ hàng ngàn đời họ vẫn cho là tuyệt đích. Riêng người làm đồ gốm Việt Nam, với kỹ năng đặc biệt và ưa chuộng sự phóng khoáng trong các nét vẽ trang trí, không như những người thợ đồ gốm ở các xứ khác thường theo khuôn mẫu không mấy thay đổi. Trên đồ gốm Việt Nam, ta thường thấy những nét tự do, như hình một con cá, họ không vẽ như tranh truyền thần mà chỉ cần một số đường nét biểu hiện. Có lẽ, chính vì thế mà những nhà sưu tầm, nhất là những nhà sưu tầm Tây phương rất thích thú đi tìm những nét đặc thù, phóng khoáng của đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua chắc họ cũng đang thấy nhàm về những cách trang trí quá khuôn mẫu và trang nghiêm trên các đồ sứ cổ khác.    
                 

Trong những ngày họp về triển lãm tại Seattle Art Museum, tôi có cơ hội được đọc thêm một số sách về đồ gốm tại thư viện của viện bảo tàng và cũng nhờ người quản thủ thư viện sốt sắng tìm kiếm và tập trung riêng tại một chỗ để giúp tôi có thể  dùng trong nhiều ngày tới. Những sách này phần lớn đều được nhà xuất bản Oxford University Press ấn hành. Thật không ngờ, trong những số sách đó, đồ gốm Việt Nam đã được đặt vào một đia vị quan trọng. Có những cuốn dành riêng cho đồ gốm Việt Nam, còn lại được đặt chung với các nước Đông Nam Á khác. Tuy vậy số trang và hình ảnh đồ gốm Việt Nam trong những cuốn này có một số lượng đáng kể, được coi như một trong những nước dẫn đầu trong vùng.

* Cuốn Vietnamese Ceramics của hội Southeast Asian Ceramic Society, Oxford University Press xuất bản, 180 trang in hình 235 đồ gốm cổ Việt nam từ thế kỷ thứ 6 tới thế ký thứ 17. Trình bày rất mỹ thuật. Cuốn này được in ra nhân dịp cuộc triển lãm về đồ gốm Việt Nam tại Singapore, tháng Sáu năm 1982.

* Cuốn Vietnamese and Chinese Ceramic used in the Japanese Tea Ceremony, của hai tác gỉa người Nhật Hiromu Honda và Noriki Shimazu, do Oxford University Press xuất bản năm 1993. Trong cuốn này có in hình 126 đồ gốm Việt Nam. Điều đáng nói ở đây là người Nhật đã đặt đồ gốm Việt Nam ngang với Trung hoa trong trà đạo của họ.

* Cuốn South-East Asian Ceramics: Thai, Vietnam and Khmer - From the Collection of The Art Gallery of South Australia, tác giả Dick Richards, do Oxford University Press xuất bản năm 1995, 196 trang có in hình 63 đồ sứ Việt nam.

* Cuốn The Ceramics of Southeast Asia - Their Dating and Identification, tác giả Roxanna M. Brown do Oxford University Press và Oxford in Asia Studies in Ceramics xuất bản lần đầu năm 1977, tái bản lần thứ hai năm 1988, có in hình 204 đồ sứ Việt nam từ đời Hán.

* Cuốn SouthEast Asia Ceramics do The Asia Society xuất bản năm 1976 nhân dịp cuộc triển lãm tại Asia House Gallery, Singapore, in hình 55 đồ gốm Việt nam.

* Cuốn Ceramics Art of Southeast Asia, tác giả William Willetts do Southeast Asian Ceramics Society xuất bản năm 1971, nhân dịp cuộc triển lãm lần đầu của hội. Sách này được tái bản lần thứ ba năm 1976. Trong cuốn này Việt nam được phân loại là Group 2: Anamese Wares, có in hình 126 đồ sứ Việt nam.

* Cuốn Oriental Ceramics Discovered in the Philippines, tác giả Leandro and Cecilia Lossin, do The Charles E. Tuttle Company, Inc. xuất bản năm 1967, có in hình một vài đồ sứ Việt nam, dưới danh hiệu là Anamese được tìm thấy ở Phi Luật Tân.

* Cuốn Ceramique Ancienne de L’Asie, bằng Pháp ngữ của tác giả Fujiu Koyama, do Office du Livre- Fribourg (Suisse), xuất bản năm 1959. Sách khổ lớn, trình bày và in rất mỹ thuật, có in 3 hình đồ sứ Việt nam.

* Đặc biệt nhất là cuốn Vietnamese Ceramics: A Separate Tradition như đã giới thiệu phiá trên, hai tác giả John Stevenson và John Guy, do Art Media Resources xuất bản năm 1997.  Sách khổ lớn, dày 400 trang in hình hơn 500 đồ gốm từ thế kỷ thứ IV trước Kỷ Nguyên, rất mỹ thuật và gồm 12 bài nghiên cứu quan trọng cuả các chuyên gia có kèm theo hình ảnh dẫn chứng liên quan đến di sản đồ gốm Việt Nam. 

Trên đây là những sách được viết bằng Anh và Pháp ngữ được liệt kê để giới thiệu với những ai muốn nghiên cứu thêm về đồ gốm Việt nam. Ngoài ra còn một số các cuốn khác về đồ gốm Á châu hay Đông Nam Á đều có đề cập ít nhiều đến các cổ vật này. 

Tôi cũng cố đi tìm đọc một số sách của các tác giả Việt nam viết về đồ gốm:

*  Tại Việt nam, có cuốn Gốm Bát Tràng, Thế Kỷ XIV-XIX - Bat Trang Ceramics 14th-19th Centuries, các tác giả Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc do nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội ấn hành song ngữ Việt Anh, năm 1995. Sách dày 210 trang, in hình mầu 260 đồ gốm, khá mỹ thuật, có sự bảo trợ của một hai cơ quan ngoại quốc. Sách trình bầy khoa học có tính cách đặc biệt khảo cổ, như những phương pháp quốc tế. Nhiều đồ gốm trong sách này được sưu tầm tại các đền chùa, rất công phu, trên đó có minh văn nên có thể tìm biết được niên hiệu, tác giả của đồ gốm và người cúng dường chùa.

Tại miền Nam, không ai có thể quên được những sách của cụ Vương Hồng Sển, cụ là Giám đốc Nha Khảo Cổ, được xuất bản trước năm 1975. Cuốn nào cũng dày hàng mấy trăm trang.Trong mười cuốn thì có bảy cuốn nói về đồ gốm, nhưng tiếc rằng cụ đã không có cơ hội nghiên cứu tại chỗ về đồ gốm Việt Nam, nên hầu hết cụ đều viết lại các câu chuyện hay dịch theo các sách nghiên cứu của người Pháp về đồ gốm Trung hoa, riêng về Việt nam chỉ có tính cách phụ mà thôi.

Hai cuốn, cụ dịch lại từ Pháp ngữ. Cuốn  Khảo về đồ sứ cổ Trung hoa (Les poteries et porcelaines chinoises) của bà Daisy Lion-Goldsmidt. Và cuốn Cảnh-Đức-Trấn đào lục của Stanislas Julien ấn hành năm 1856. Trong cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, thỉnh thoảng cụ cao hứng thêm vào những giai thoại ngắn về đồ gốm Việt Nam. Ngoài ra cụ dành hai chương ngắn cuối cùng, chương IX Đồ gốm Bát Tràng và chương X Tổng lược về mỹ thuật Việt Nam, cụ tóm lược một số tài liệu cuả Viện Viễn Đông Bác Cổ về đồ gốm và mỹ thuật Việt Nam, có nhiều điểm khá quan trọng. Có một đoạn, xin trích để dẫn chứng kinh nghiệm cá nhân của cụ với đồ gốm Việt Nam: “Ấy, trước đây tôi có đến một cặp bình Bát Tràng kiểu rồng nổi y hệt như vầy. Một trong những bình này được mang về Nhật vào cuối thế kỷ thứ 16. Nhưng vì quan niệm lầm lạc và vì tánh khinh thường, tôi dại quá chưa thấy nét đặc sắc của loại nước nhà tôi, loại “Anamese ceramics” mà các nước ngày nay đua nhau tìm kiếm, mình có sẵn một cặp mà bán rẻ mạt, lại còn mừng dứt được của nợ, thiệt là ngu quá đỗi ngu”.

“Mình trách mình cũng oan, tôi tưởng không phải một mình tôi là không biết giá trị đồ gốm Bát tràng. Nhiều tay chơi cổ ngoạn lão luyện hơn tôi rất nhiều, mà hỏi thăm lại, không ai để dành loại đồ gốm này được lâu trong nhà”. (Khảo về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa, trang 432-

Đáng buồn nhất là hiện nay một số cổ vật đang bị đánh cắp và cố tình lén lút đưa ra khỏi Việt Nam. Không biết số đồ cổ đáng kẻ̉ do cụ tàng trữ không đã biến đi nơi nào

Cụ Vương Hồng Sển còn viết năm cuốn nữa về đồ sứ cổ như các cuốn Thú Chơi Cổ Ngoạn, cuốn Cuốn Sổ Tay Của Một Người Chơi Cổ Ngoạn, cuốn Khảo Về Đồ Sứ Men Lam Huế hay Thú Chơi Ấm Chén, cụ cho biết đây là món nghề ruột cuả cụ. Cuốn Hơn Nưả Đời Hư, hồi ký cuả một người suýt hư đời vì đồ cổ. Cuốn sau cùng là Một Bộ Môn Sưu Tập Trong Hai Năm, bổ túc cho cuốn Thú Chơi Ấm Chén. Hy vọng rằng ngoài những câu chuyện về thú chơi đồ cổ của cụ, người đọc sẽ được biết thêm về những công trình nghiên cứu, sưu tầm về đồ gốm Việt nam như một khoa khảo cổ.

Nhân có cuộc triển lãm, tôi mang một vài cuốn sách mượn được của thư viện đến để trình bày về đồ gốm Việt Nam cho buổi họp bạn. Tới đoạn tôi cho họ biết, một cuốn sách dày 400 trang với  đầy đủ hình ảnh về đồ gốm Việt Nam, do ông John Stevenson sưu tầm sắp được xuất bản, thì một người bạn đã không dằn được nỗi bất bình phải phát biểu, tại sao một người ngoại quốc họ có thể viết được một cuốn sách dày đến thế, mà gần như suốt một đời mình không hay biết gì đến những đồ gốm  từ ngàn xưa của tiền nhân để lại cho đất nước. Mọi người lúc nào cũng cố đi tìm và đem khoe những chiếc bình cổ, bát sứ đời Thanh, đời Khang Hy. Tôi nhớ lại sự hối tiếc và tự giận mình cuả cụ Vương Hồng Sển khi đem bán đôi bình Bát Tràng, mà sau này cố tìm để mua lại mà không được. Chính tôi, tôi cũng có cùng cảm nghĩ như người bạn, khi bắt đầu tham dự vào cuộc triển lãm. Tôi lại nghĩ thêm rằng, nếu có một người Việt nào viết ra, chưa chắc đã được mọi người lưu ý, quý trọng, tốt hơn hết là để người ngoài họ viết và họ chỉ cho mình biết những di sản vô thừa nhận đó.

Chúng ta đã bị ảnh hưởng của các nền văn hoá bị trị nhiều khi đến độ bị nhiễm độc. Tàn tích một trăm năm nô lệ của người Pháp gần như đã gột rửa được, một ngàn năm đô hộ cuả người Tàu vẫn còn nặng nề, tuy đã có bao nhiêu nỗ lực Việt nam hoá. Thuở nhỏ, chúng ta thường được răn dậy, không được dùng giấy có in chữ Nho vào việc gói hàng hay nhơ bẩn, vì đó là chữ cuả thánh hiền để thờ. Còn chữ Nôm thì bị gọi là nôm na mách qué, và chữ Quốc ngữ thì bị gọi là chữ xích chó vì nó lằng ngoằng dính vào với nhau. Đến nay, ấn tượng trên, khiến tôi và một số người vẫn còn cảm thấy e dè khi thấy chữ Nho.

Tôi quay lại phòng triển lãm nhiều lần, có lúc đứng trầm ngâm trước những cổ vật, trước những di sản cuả tiền nhân để lại từ hàng ngàn năm trước. Những bình, những bát gốm trong lồng kính, luân lạc đến đây, đã được làm nên từ những thớ đất tinh tuyền cuả vùng châu thổ sông Hồng mà thuở ấu thời, tôi đã bao lần bơi lội trong dòng nước phù sa huyền thoại đó. Tôi tin là mỗi cổ vật có một đời sống riêng và một linh hồn. Có những lúc tôi cầm lại chiếc bát sứ cổ, miệng viền bạc trên bàn thờ gia tiên của gia đình và nhớ lại buổi chiều cuối cùng ở Việt nam năm 1975. Trong lúc hốt hoảng cố tìm đường thoát, khi ngang qua bàn thờ đã vơ vội ba chiếc bát cổ thường dùng để đựng cơm dâng cúng. Những chiếc bát này là những chiếc còn sót lại trong một số bát đĩa mẹ tôi đem theo từ Bắc vào Nam khi đất nước chia đôi năm 1954, không biết trước đó cụ mua từ năm nào. Chiếc tàu của hạm đội vượt biển năm đó, hỏng một máy và không bánh lái, hàng ngàn người chơi vơi giữa biển như một đám ma trơi. Không còn một thứ gì để đựng phần cơm, phần nước được chia mang về cho mấy đứa con, đành phải mang mấy chiếc bát cổ ra dùng. Hai chiếc đã vỡ, một chiếc còn lại trên bàn thờ như một di sản. Nó cũng đã từng theo người mẹ đã mất, qua những thời hưng thịnh, cỗ bàn giỗ tết cuả miền đất xa xưa. Nó cũng đã nổi trôi, dâu biển theo dòng lịch sử trầm luân cuả đất nước gần thế kỷ qua. Hi vọng những đứa con ngày nào trên biển đã cùng chia sẻ từng hạt cơm, miếng nước sẽ tiếp nhận mang theo, không như những cổ vật cô hồn trong lồng kính kia đã bị chối bỏ đời sống và linh hồn truyền kỳ gắn chặt với tiền nhân.    

 

            

THƯ MỤC THAM KHẢO:

Anh Ng:

1-    Vietnamese Ceramic:  A Separate Tradition, John Stevenson và John Guy, Nhà xuất bản Art Media Resources 1997             

2-     South-East Asian Ceramics:  Thai, Vietnam, and Khmer - From he Collection of The Art Gallery of South Australia, Dick Richards, Nhà xuất bản Oxford University Press 1995

3-    Vietnamese and Chinese Ceramic used in the Japanese Tea Ceremony, Hiromu Honda và Noriki Shimazu, Nhá xuất bản Oxford University Press1993

4-    Vietnamese Ceramic, Southeast Asian Ceramic Society, Nhà xuất bản Oxford University Press, 1982

5-    The Ceramic of South-East Asia - Their Dating and Identification, Roxanna M. Brown, Nhà xuất bản Oxford University Press, 1977

6-    SouthEast Asia Ceramics, The Asia Society, 1976

7-    Ceramic Art of SouthEast Asia, William Willetts, Nhà xuất bản SouthEast Asia Ceramics Society, 1971

8-    Oriental Ceramics Discovered in the Philippines, Leandro và Cecilia Lossin, Nhà xuất bản Charles E. Tuttle Company, Inc., 1967

Pháp Ng

9-    Ceramique Ancienne de l Asie, Fujiu Koyama, Nhà xuất bản Office du Livre-Fribourg (Suisse), 1959

Việt-Anh Ng:

10-                         Gốm Bát Tràng, Thế Kỷ XIV-XIX - Bat Trang Ceramics 14th - 19th Centuries, Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, và Nguyễn Quang Ngọc, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà-nộI, 1995

 

Sau đây là những tác phẩm cuả cụ Vương Hồng Sển (Chi tiết về năm và nhà xuất bản những sách này, xin    xem phần giới thiệu trong tác phẩm mới phát hành của cụ Hơn Nửa Đời Hư):

11-                         Khảo về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa bản dịch cuốn Les Poteries et Porcelaines chinoises của     bà Daisy Lion-Goldsmidt (đã tái bản tại hải ngoại)

12-                         Cảnh Đức Trấn Đào Lục của Stanislas Julien (đã tái bản tại hải ngoại)

13-                         Thú Chơi Cổ ngoạn, 1971-Cuốn Sổ Tay Của Một Người Chơi Cổ Ngoạn, 1971

14-                         Khảo Về Đồ Sứ Men Huế hay Thú Chơi Ấm Chén (chưa xuất bản)

15-                         Một Bộ Môn Sưu Tập Trong Hai Năm bổ túc cho Thú Chơi Ấm Chén (chưa xuất bản)

16-                        Hơn Nửa Đời Hư (đã xuất bản tại hải ngoại)

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 175)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 146)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1662)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 4071)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 4179)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 4827)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 4416)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 6848)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 7215)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 7680)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm