- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Bộ sưu tập các nhân vật văn hóa miền Nam Việt Nam trong nước và tại hải ngoại

18 Tháng Hai 202510:37 CH(Xem: 20520)

BỘ SƯU TẬP

CÁC NHÂN VẬT VĂN HÓA MIỀN NAM VIỆT NAM

TRONG NƯỚC VÀ TẠI HẢI NGOẠI

 

TS Eric Henry

Rising Asia là một tạp chí học thuật đa ngành, ra 3 số mỗi năm, hoạt động từ 2021, chủ bút là TS Harish C. Mehta, hiện giảng dạy tại Đại Học Toronto, có trụ sở tại Bengal Ấn Độ. Tạp chí là nguồn tài nguyên để nghiên cứu, và giảng dạy về các vấn đề xã hội Châu Á. Mỗi tập của tạp chí đều có các bài bình luận giải thích về mọi khía cạnh của lịch sử, kinh tế, ngoại giao, văn học, y tế, khoa học, quân sự và văn hóa Châu Á.

 

NGON NGU 35
Số báo Rising Asia [05.2025]- Giới thiệu ở trang bìa NGÔN NGỮ.



Số báo Rising Asia này [05.2025] dành riêng cho một loạt chân dung văn học của các nhà văn, nghệ sĩ và nhạc sĩ Việt Nam. Đây là bản dịch tác phẩm của Bác sĩ Ngô Thế Vinh, một bác sĩ và là một nhà văn sung mãn.

Giống như hầu hết những người mà ông viết về trong các nghiên cứu trích đoạn này, Bác sĩ Vinh đã trở nên nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam vào thời kỳ Nam Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975). Khi còn là một thanh niên ở Sài Gòn vào những năm 1960, ông bắt đầu kết hợp văn học với y học, chủ bút một tạp chí và viết tiểu thuyết trong khi vẫn đang học trường y. Vào những năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường y, ông gia nhập  Biệt Cách Nhảy Dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và phục vụ với tư cách là Bác sĩ Mũ Xanh trong Chiến tranh Việt Nam. Sau chiến tranh, ông bị giam giữ trong các trại cải tạo lao động cộng sản trong hơn ba năm (1975 – 1978). Năm 1983, ông đến Hoa Kỳ, nơi ông trở thành một bác sĩ trong khi vẫn tiếp tục viết. Hiện ông đang sống ở Nam California, nơi ông là bác sĩ điều trị và giảng huấn tại một bệnh viện VA ở Nam California.

Các tác phẩm của Bác sĩ Vinh bao gồm năm tiểu thuyết, một cuốn sách do ông biên tập có chứa các danh mục của một số tác giả về những ngày cuối cùng của Sài Gòn trước khi bị quân Bắc Việt cưỡng chiếm và một hồi ký về một chuyến đi của ông dọc theo toàn bộ chiều dài của Sông Mekong-Cửu Long, mục đích là để ghi lại thiệt hại do các dự án Đập thuỷ điện lớn của Trung Quốc gây ra cho con sông. Một số tác phẩm trước đó đã giành được giải thưởng và có bản dịch tiếng Anh.

Bắt đầu từ khoảng năm 2015, Bác sĩ Vinh bắt đầu viết loạt nghiên cứu chân dung và nghệ thuật mà từ đó các mục trong số này của Rising Asia được chọn và cho đến nay đã có ba mươi chín bài viết. Các nghiên cứu này bao gồm nhiều yếu tố khác nhau: ký ức, giai thoại, mô tả về môi trường vật chất và xã hội, các phần trích từ thư từ, thơ và các bài báo trích đoạn và tường thuật bằng văn xuôi. Vì tác giả vừa là bác sĩ vừa là nhà văn, ông thường thảo luận về các vấn đề y khoa mà đối tượng của mình gặp phải và cách họ đối phó với bệnh tật như một phương tiện bổ sung để bộc lộ tính cách. Không có hai nghiên cứu nào trong số này giống hệt nhau về hình thức. Một điều gắn kết chúng lại với nhau là tác giả là bạn thân của những người mà ông viết về họ. Rõ ràng là Bác sĩ Vinh không viết về những người mà ông không có mối quan hệ cá nhân, nhưng điều này không phải là một hạn chế, vì ông là bạn của hầu như tất cả mọi người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học ở Nam Việt Nam.

Những người mà ông miêu tả đã trưởng thành ở miền Nam trong giai đoạn 1954 đến 1975. Ở miền Nam, đây là giai đoạn tự do nghệ thuật chưa từng có được trước đây và không bao giờ có lại được trong bất kỳ xã hội Việt Nam nào sau đó. Võ Phiến (1925 - 2015), nhà tiểu luận, tiểu thuyết gia và sử gia văn học, đã mô tả nền văn học phát sinh dưới thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như sau: “Ở Miền Nam Việt Nam thời 1954-75, giữa hoàn cảnh chiến tranh, đã phát triển một nền văn nghệ khác hẳn. Trên sách báo tha hồ nở rộ những nụ cười sảng khoái, công kích điều sai chuyện quấy, đùa riễu những phần tử xấu xa. Phần tử ấy không thuộc hạng Lý Toét Xã Xệ. Không hề có nhân vật nào thấp bé như thế bị bêu riếu trong thời kỳ này. Nạn nhân là từ hạng những tay cầm đầu một tỉnh cho đến các vị cầm đầu cả nước. Tiếng cười cợt ngang nhiên, hể hả, râm ran khắp cùng trên mặt sách báo...

Mặt khác, mọi quan niệm nhân sinh, mọi tín ngưỡng, hay có dở có, cao thâm có mà ngông cuồng gàn dở cũng có nữa, tha hồ được tìm hiểu, trình bày, quảng bá. 

Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.”

Chế độ tiếp quản vào năm 1975 đã tìm cách xóa bỏ di sản này bằng cách hình sự hóa nó và phá hủy vật lý mọi tàn tích mà họ có thể thu thập được. Một ghi nhận kỳ thú là các bộ sưu tập về văn học Việt Nam trong giai đoạn này không phải ở Việt Nam mà ở một số thư viện đại học Hoa Kỳ. Có vẻ như bộ sưu tập văn học Việt Nam hoàn chỉnh nhất được sáng tác dưới thời Cộng hòa miền Nam nằm trong thư viện của Đại học Cornell. Ví dụ, thư viện này có tất cả bốn mươi hai cuốn sách mà tiểu thuyết gia Mai Thảo đã xuất bản trước năm 1975 và có tất cả các tác phẩm trước năm 1975 của Ngô Thế Vinh.

Các nghệ sĩ được mô tả trong các nghiên cứu của Bác sĩ Vinh có nhiều loại và tính khí khác nhau, nhưng hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, đều được ban tặng ong mến mộ đối với những lý tưởng nghệ thuật và xã hội cao cả. Hầu hết trong số họ đã phải chịu nhiều năm tù đày khắc nghiệt trong các trại “cải tạo lao động” của cộng sản sau khi Sài Gòn sụp đổ, và một số, sau khi bị giam cầm, đã liều mạng trốn thoát khỏi Việt Nam trên những chiếc thuyền quá tải, không đủ điều kiện đi biển, sau đó họ sống nhiều tháng trong các trại tị nạn Đông Nam Á và cuối cùng đa số họ đã đến Hoa Kỳ với tư cách là người tị nạn, nơi họ dần xây dựng lại cuộc sống của mình. Hầu hết những người đã xuất bản tác phẩm ở Việt Nam trước năm 1975 vẫn tiếp tục sáng tác nghệ thuật tại Hoa Kỳ.

Chỉ một số ít đối tượng của Bác sĩ Vinh chọn ở lại hay trở về Việt Nam thay vì mạo hiểm vượt biển để tìm kiếm tự do. Mỗi người trong số họ đều phải trả giá cho quyết định ở lại của mình bằng cách chịu vô số hạn chế trong hoạt động của họ. Hai trong số những đối tượng của Bác sĩ Vinh, nhạc sĩ Phạm Duy và họa sĩ Tạ Tỵ, đã chọn, một cách ngoại lệ, trở về Việt Nam khi đã về già, sau nhiều năm lưu vong. Điều này có thể xảy ra vì, vào thời điểm họ trở về, chính phủ Việt Nam đã nới lỏng một số biện pháp kiểm soát và lệnh cấm trước đây.

Dưới đây là chân dung của Bác sĩ Vinh viết về mười một nhân vật: Mai Thảo, một nhà văn, biên tập viên và nhà thơ, Nhật Tiến, một tiểu thuyết gia và nhà viết kịch, Nghiêu Đề, một nghệ sĩ thị giác và họa sĩ minh họa sách, Cao Xuân Huy, một người viết hồi ký chiến tranh, Trần Mộng Tú, một nhà thơ và nhà báo, Dương Nghiễm Mậu, một nhà văn ở lại Việt Nam sau năm 1975, Phạm Duy, một nhạc sĩ, người viết hồi ký và nhà nghiên cứu âm nhạc, Võ Phiến, một nhà văn và sử gia văn học, Đinh Cường, một nghệ sĩ thị giác, nhà thơ và sử gia nghệ thuật, Thanh Tâm Tuyền, một nhà thơ và nhà văn theo chủ nghĩa phá bỏ thần tượng, và Phạm Hoàng Hộ, nhà thực vật học và họa sĩ minh họa. Những nhân vật này đã có nhiều tương tác với nhau, và mỗi người đều có cách riêng để đối mặt với chiến tranh, áp bức, lưu vong và hiện đại.

Những nghiên cứu này có thể được coi là chân dung của một nền văn minh mới chớm nở, mặc dù bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng không hề bị dập tắt bởi những sự kiện bi thảm xảy ra trên đất Việt Nam vào những năm 60 và 70.

Ngoài những mục được trình bày ở đây, Bác sĩ Vinh đã viết hai mươi ba mục khác, bao gồm các nghiên cứu về Mặc Đỗ (1917 - 2015), nhà văn hư cấu và dịch giả, Như Phong (1923 - 2001), nhà báo, tiểu thuyết gia và nhà phân tích chính trị, Linh Bảo (1926 - 2024; nữ) tiểu thuyết gia và nhà văn truyện ngắn, Nguyễn Đình Toàn (1936 - 2023), nhà văn hư cấu, nhà thơ, nhạc sĩ và người dẫn chương trình phát thanh dành riêng cho âm nhạc, Nguyễn-Xuân Hoàng (1940 - 2014), nhà văn hư cấu, nhà tiểu luận và biên tập viên, Hoàng Ngọc Biên (1938 - 2019), nghệ sĩ, họa sĩ, nhà thơ, tiểu thuyết gia và dịch giả, Nguyên Khai (sinh 1940), họa sĩ và nhà điêu khắc, Phùng Nguyễn (1950 - 2015), nhà văn hư cấu, nhà tiểu luận và blogger), Phạm Biểu Tâm, (1913 - 1999), bác sĩ, bác sĩ phẫu thuật, nhà giáo dục, Nguyễn Tường Bách (1916 - 2013), bác sĩ và nhà sử học, và vợ Hứa Bảo Liên (mất 2008), người viết hồi ký, Hoàng Tiến Bảo (1920 - 2008), bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật, Tạ Tỵ (1921 - 2004), nghệ sĩ thị giác và nhà viết hồi ký, Trần Ngọc Ninh (sinh 1923), bác sĩ phẫu thuật, nhà giáo dục, Lê Ngộ Châu (1927 - 1998), biên tập viên và tác giả, Nguyễn Văn Trung (1930 - 2022 ), nhà tiểu luận, nhà phê bình và nhà sử học trí thức, Dohamide (1934 - 2021), nhà sử học Chăm, nhà điêu khắc Lê Ngọc Huệ (sn.1936), Nghiễm Sỹ Tuấn (1937 – 1968), quân y và dịch giả, Đoàn Văn Bá (1937 - 2020), sĩ quan QLVNCH và tác giả Trần Hoài Thư (1942 - 2024), tác giả, biên tập viên và nhà nghiên cứu, Phan Nhật Nam (sn. 1943) tiểu thuyết gia và sử gia chiến tranh, John Steinbeck (1902 - 1968), tiểu thuyết gia nổi tiếng người Mỹ từng là phóng viên chiến trường tại Việt Nam, và cuối cùng là một nghiên cứu, không phải về một con người, mà là về một khu phố: "Phố Sách", một khu vực ngay cạnh bưu điện trung tâm Sài Gòn, nơi chỉ có các hiệu sách, mỗi hiệu là một cửa hàng của một nhà xuất bản.

 

 

TS ERIC HENRY

Chapel Hill, NC 12.2024

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Tám 201910:10 CH(Xem: 46614)
Khi cuộc đấu tranh giành quyền con người đang xảy ra tại Hồng Kông, khi những tinh hoa của phong trào dân chủ ở xứ sở này đang làm cả thế giới ngưỡng phục, khi hầu hết người VN cũng đang hướng về cuộc đấu trí ngoạn mục của người dân Hồng Kông với tất cả lòng ngưỡng mộ, tôi muốn nhắc với chúng ta về một người con gái của đất nước mình. Ngày hôm nay, ở Trà Vinh có một mái nhà nho nhỏ đang ấm lên vì được đón cô trở về.
16 Tháng Bảy 201911:23 CH(Xem: 47250)
Lần đầu được đọc tập ký hoàn chỉnh của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một tác giả người Việt hải ngoại, tự nhiên trong đầu tôi nảy ra sự so sánh với hàng ngàn vạn bài ký “mậu dịch” của hơn tám trăm tờ báo dưới sự chăn dắt của Ban Tuyên giáo Trung ương. Hóa ra, đó toàn là những sản phẩm đồng phục được chế tác bởi những tác giả, qua sự đào luyện của hệ thống trường ốc, trong đó, cá tính đã được mài nhẵn, tư tưởng được kiểm soát chặt chẽ, mọi phản biện xã hội đều bị giới hạn trong phạm vi cho phép, vì thế, cái gọi là ký ấy chỉ là những văn bản véo von ca ngợi, tự sướng của những cây bút thủ dâm chính trị, tự huyễn hoặc mình. Loại báo chí ấy chẳng những không có lợi, mà trái lại, rất có hại, bởi nó thực chất là dối trá, lừa phỉnh nhân quần.
12 Tháng Sáu 20196:05 CH(Xem: 47990)
Bài thơ chữ Hán Điệp tử thư trung (Con bướm chết trong sách) được xếp ở sát cuối phần Làm quan ở Bắc hà (1802-1804), trong Thanh Hiên thi tập.(1) Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất, và kỳ lạ bậc nhất của Tố Như, khi ông chưa tới tuổi “tam thập nhi lập.” Hay và kỳ lạ, song xưa nay nó mới chỉ được điểm qua, chưa hề được phân tích bình giải một cách thấu đáo. (Trong khi, bài Độc Tiểu Thanh ký xếp liền sau đó lại được khai thác khá kỹ trong hàng chục bài viết - ở các bậc phổ thông, đại học và nhiều diễn đàn văn chương). Có lẽ, bởi tính chất kỳ lạ và trừu tượng đến khó hiểu của nó?
15 Tháng Năm 20195:35 CH(Xem: 51721)
Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.
14 Tháng Năm 20199:20 CH(Xem: 48788)
Bài thơ: “Cúng Dường” của thiền sư, thi sĩ Tuệ Sĩ đã được nhiều giảng sư, luận sư, triết gia chuyển dịch, tất cả đều dịch rất sát, rất hay, nhưng trên ý nghĩa của mặt chữ, đã khiến dư luận cảm thương, tội nghiệp khi đọc thi phẩm này, mà theo tôi, sự giải thích sát nghĩa như vậy đã ngược lại hoàn toàn tính hùng vĩ và đại bi tâm của nhân cách tác giả và thi phẩm.
13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 51500)
Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.
24 Tháng Tư 201911:02 CH(Xem: 49232)
Nhà báo Pháp Paul Dreyfus là một trong 25 nhà báo Pháp có mặt tại Sài Gòn vào giờ phút cuối cùng của tháng Tư năm 1975. Trong cuốn sách của mình với tựa đề "và Sài Gòn sụp đổ" (Et Saigon tomba - Collection Témoignages 1975), tác giả đánh giá sự kiện Sài Gòn thất thủ là sự kiện 'quan trọng nhất' với hệ thống cộng sản châu Á sau cuộc tiến vào Bắc Kinh năm 1949 của Mao. Ông thuật lại những cảm nhận cá nhân qua những lần tiếp xúc với đại tướng Dương văn Minh, tổng thống cuối cùng của miền Nam, theo giới thiệu sau qua lời dịch của nhà báo Phạm Cao Phong từ Paris: Theo Paul Dreyfus, tướng Minh là "một người minh mẫn và nắm vững tình hình". Những tâm sự của tướng Minh thời điểm đó mang lại một cách đánh giá đa chiều về nhân vật gây nhiều tranh cãi.
17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 44631)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
08 Tháng Tư 20199:47 CH(Xem: 42587)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
02 Tháng Tư 201910:27 CH(Xem: 49358)
Cũng như hai bài thơ Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu đã khảo sát ở phần I, trong các bài thơ còn lại về chủ đề này, Nguyễn Du vẫn say mê trò chuyện, luận bàn, thậm chí tranh cãi với Hồn oan nước Sở từ hơn hai ngàn năm, như hồn đang hiển hiện quanh quất bên mình, trên dòng sông lịch sử tựa một nấm mồ lớn đang vùi lấp thân xác của một con người tri âm tri kỷ đặc biệt đối với ông.