- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

THƠ THẾ SỰ TRONG MỐI, MỌT, GIÁN, CHUỘT, BÓNG TỐI…

13 Tháng Chín 20221:26 CH(Xem: 32512)

THACH QUY

 


Mai An Nguyễn Anh Tuấn     

THƠ THẾ SỰ TRONG MỐI, MỌT, GIÁN, CHUỘT, BÓNG TỐI…     

 

Tôi biết đến tên tuổi nhà thơ Thạch Quỳ từ hồi sinh viên văn khoa, từng đọc thơ ông, nhưng lần đầu tiên mới được gặp ông tại một đám đông hội hè, giữa khu lưu niệm Nguyễn Du - Nghi Xuân, Hà Tĩnh đầu năm 2019. Đó là một ông già gầy gò, người quắt lại như lõi lim, đôi mắt sáng có vẻ hơi chế diễu nhưng không mất đi sự nhân hậu đằm thắm…

Qua sự giới thiệu của một nhà Kiều học là người Nghệ An, ông trịnh trọng bắt tay tôi, và tặng cho tập thơ mới nhất của ông. Công việc lu bu mãi, cho đến những ngày mưa dầm tháng bảy này, tôi mới giở tập “Người lặn biển” ra đọc, với lòng Thương - Kính sẵn có đối với những “Ông đồ xứ Nghệ” là các thầy cũ của tôi, các bậc đàn anh trong giới chữ nghĩa mà tôi quý mến, và các bạn tôi… Không hiểu sao, sau khi lật giở vài trang, bài đầu tiên đập vào mắt tôi lại là bài: Mối, mọt, gián, chuột, bóng tối…

Và không hiểu sao nữa, những liệt kê của lão thi sĩ về các vật dụng trong ngôi nhà “như nấm mộ” đó lại khiến tôi phải chăm chú chép lại, như bị thôi miên, không thiếu vật gì:

“Mối, mọt, bóng tối, chuột, gián, sách cũ, bàn gỗ, ghế gỗ, chai thủy tinh, bình gốm, lọ sứ, cuội, đá, hoa khô, mẫu hóa thạch, tranh cổ, bùa, chú, xương, răng, vua, quan, hình nộm và các loài bò sát đất nung từ thời tiền sử”.

Tôi chợt nhớ đến nơi ở trống trải của Đại thi hào Nguyễn Du một thời, mà nổi bật nhất chỉ là “cạnh gối có chồng sách vở đỡ tấm thân bệnh tật” (Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt. Tạp ngâm 2). Còn những đồ vật trong ngôi nhà Thạch Quỳ tuy có phong phú hơn về chủng loại, song chỉ là những thứ đồ sưu tầm nhặt nhạnh của một trí thức nghèo thời hiện đại chẳng đáng giá là bao vẫn làm bạn với mối, mọt, chuột, gián, bụi… Và sự “liệt kê” này khiến tôi liên tưởng tới căn nhà dơ dáy với các đồ vật nghèo nàn do thi sĩ Áo R. Rilke từng kể trong tuổi thơ chật vật, mà triết gia M. Heidegger có trích dẫn lại để tìm đến cái “căn nguyên” (original) sự tồn-tại-trong-cõi-sống của một tác giả trước khi có sự xuất hiện văn chương của ông (1).

Sau sự “liệt kê” mang bóng dáng sự thực đó, là cuộc miêu tả sự sống hiện tại và quá khứ của bản thân bằng biểu tượng Tình yêu không thành qua một vở kịch không lời, một bộ phim câm đen trắng về một người đàn bà từ tuổi thanh xuân đến khi tóc bạc trắng đến gõ cửa “nấm mồ”, nhưng “suốt bốn mùa im lìm đóng cửa”, và người thơ có lúc tự tách mình ra để hỏi nhân vật trữ tình là chính mình:

“Ắng/ Lặng/ Như trong nấm mộ/ Còn thức/ Hay đã ngủ/ Còn sống hay đã chết/ Hỡi ông già/ Trong ngôi nhà/ Suốt bốn mùa im lìm đóng cửa?// Người đàn bà yêu ông/ Từ tuổi thanh xuân nàng đến đập cửa/ Tóc trắng trên đầu nàng đập cửa tìm ông/ Cửa vẫn đóng/ Cánh cửa của nấm mồ không mở!”

Lại thêm hai lần nữa tác giả lặp lại sự “liệt kê” đồ vật trót mang linh hồn của ông, và hé mở cái sự thật vì sao ông từ chối cái mối tình đến điên cuồng của người đàn bà:

“Mối mọt, mọt, bóng tối, chuột, gián bình gốm, lọ sứ, cuội, đá, hoa khô sách cũ/ Trong ngôi nhà/ Người đi tìm tự do/ Đã tìm cách tự tù!// Trước ngôi nhà/ cuội, đá, hoa khô, bùa, chú, xương, răng, vua, quan, bò sát đất nung, khủng long hóa thạch…/ Người đàn bà/ Mang khát vọng tình yêu/ Đập cửa đập cửa đập cửa…”

Nhưng: “Trong ngôi nhà/ Người đàn ông hóa đá”.

Có thể trong đời ông đã từ chối một tình yêu có thực nào đó, nhưng ở đây cần hiểu là ông đã từ chối những thú vui đầy cám dỗ của “đám đông”, để lầm lụi đi tìm Tự do đích thực trong nhiều năm ròng, và khi không tìm thấy, khi tuyệt vọng, “Đã tìm cách tự tù”… Bài thơ là một cách nói cực tả về thái độ “bất cộng đới thiên” của ông với lối sống thực dụng, phù phiếm, giả dối; một lối cự tuyệt kiểu nhà nho khí khái trước thói đời đi ngược lại quan điểm sống cố hữu của tác giả. Một cách hành xử muốn học theo Khuất Nguyên: “Cả thiên hạ đều say, chỉ mình ta tỉnh”. Một biểu hiện của người mang tâm sự thường trực: “Tôi cô đơn dưới đất/ Chúa cô độc trên trời/ Thiên đường càng cô độc/ Mơ làm gì chúa ơi! (Thơ 5 chữ). Một phản kháng của người có lúc tưởng mình phát điên: “Tuổi tác chồng lên, vui buồn dần cạn/ Có thể về với thiên nhiên tìm chút thảnh thơi?/ Chưa giải tỏa sau lưng, đám dây nhợ nợ nần đã hiện lên trước mắt/ Mây trắng bay mờ mịt cả chân trời!//Xương máu để làm chi hở bạn/ Nếu tự do hạnh phúc không về/ Một nghìn năm rồi trăm năm có lẻ/ Sông núi bàng hoàng hư thực máu xương kia!//Ta tỉnh thức hay ta ngây dại?/ Lặng im ta như bóng tối ngu hèn/ Tiếp tục nói cười, tiếp tục sống giữa mọi điều sai trái/ Ta chưa điên cũng thể quá người điên// Tuổi tác trên đầu ngày một chồng lên…” (Tuổi tác).

Cả khi ông sống trong ngôi nhà “Tự tù” kia hay đi khắp nơi, bao giờ ông cũng bộc lộ là một người yêu nước nồng nhiệt, người mang tinh thần Dân tộc thuần khiết: “Buồn vui muôn năm cũ/ Vẫn trước mắt đó mà” (Hoa ngoài cửa sổ). Khi ngắm nhìn “Những bông lau trên đỉnh Lão Sơn”, người thi sĩ đã quặn lòng: “Đất nước tôi nhành cây ngọn cỏ/ Cũng nghìn năm xương trắng máu hồng” (Lau biên giới)…

Nhưng, cũng bởi lòng yêu nước, lòng yêu dân tộc trở thành hòn đá thiêng trong tâm hồn ông, ông đã nhiều lần phải trĩu lòng đau đớn trước thế sự… Ông đi trên một con tàu, hết ga đầu lại về ga cuối, rồi tàu quay lại, ông tự hỏi: “Rằng ông già nghễnh ngãng/ Đi đâu/ Và/ Về đâu?...” (Ông già nghễnh ngãng). Và ông cũng “chờ đợi”, “một mình ngồi trên ghế đá mùa đông” (Bên tượng Puskin) giống như nhân vật của Samuel Beckett “Chờ đợi Godot”… Trong lúc “chờ đợi”, có lần ông đã chứng kiến cảnh này để liên hệ với cả một xã hội “giả vờ” im lặng khoanh tay trước cái ác, cái phi lý hoành hành: “Bọn trấn lột lên tàu/ Cả toa tàu im lặng/ Người giả vờ đọc sách/ Người giả vờ nhìn ra/ Người giả vờ cúi đầu/ Người giả vờ quay mặt/ Người giả vờ nhắm mắt/ Người giả vờ ngủ gật/ Tất cả đều giả vờ/ Chỉ trấn lột là thật” - trong lúc đó, “Con tàu vẫn băng lên/ Lầm lì đi trong đêm” (Toa tàu). Trong khi đi và chờ đợi, ông đã chứng kiến bao chuyện cười ra nước mắt, như cảnh: “Ngỡ như người chăn vịt thì sẽ nói về kỹ thuật chăn vịt/ Nhưng họ vẫn thao thao bất tuyệt/ Về các địa tầng, thủy tầng trong đáy các đại dương…” (Người lặn biển); đã mục sở thị bao chuyện đau xót đáng phẫn nộ, như chuyện: “Cuộc thí nghiệm kéo dài non thế kỷ/ Kéo thêm kỷ nữa, chắc gì đã xong/ Họ hàng nhà chuột bạch/ Tiếp tục bị cấy ghép, bị tiêm chích, bị mổ xẻ, bị nhiễm khuẩn, bị nhiễm trùng, nhiễm thuốc độc/ Con mù mắt, con suy tim, con loạn thần, con lăn cù cù, con xoay lòng vòng, con co giật/ Thương thay loài chuột bạch/ Không biết nói như người/ Để có thể kêu lên!” (Chuột bạch), như chuyện: “Tự úp lên đầu chiếc mũ/ Hình bán cầu/ Gói gọn thế giới trong tầm mắt/ Nhìn xa từ 4 đến 10 cây số!” (Từ 4 đến 10 cây số), như chuyện về những anh chàng “sáng bóng com-lê, cà-vạt” nhưng thực ra chỉ “Là cái loa để phát/ Những mệnh đề di ngôn/ Những lời nói gói sẵn” khi “đang quay mặt trước sự thật” và “Thum thủm bốc mùi” (Mùi cổ lỗ), và đau đớn nhục nhã nhất là cái “Trật tự tủ lạnh” đang được thực thi, còn “Dưới tín hiệu dùi cui, tất cả lộn tùng phèo/ Có phải ta đã trọn đời phục vụ chân lý?/ Tên sen đầm hất hàm hỏi tiếp/- Vâng, thưa ngài, Chân Lý Dùi Cui!” (Chân lý dùi cui)…

Những bài thơ ngắn của ông vừa mang bóng dáng ưu thời mẫn thế của các thi sĩ-nho gia thời Trung - Cận đại, vừa chất chứa bao niềm suy tư trăn trở về thời cuộc, về lẽ sống, về lý tưởng của một Công dân trong thời đại mới: “Đôi khi buồn chẳng biết làm chi/ Ngồi lặng lẽ nhìn mưa ngoài cửa sổ/ Bụi mưa ướt mờ nhoè khung kính cửa/ Lá ngô đồng rỏ nước khóc ngày đi…” - “Những lý thuyết đạo đức chưa bị nghi ngờ/ Những tư tưởng vì sao tư tưởng đó?/ Có chén rượu, ta e dè ngọn gió/ Biết gió lành, gió độc thổi về đâu…” - “Chúi mũi, dụi đầu vào cát/ Thuyền như con bọ chết trương nằm/ Biển dọc miền Trung đầy cá chết/ Dặm dài không một bóng ngư dân…” - “Buồn vui theo lịch xé rồi/ Khóc cười thì đã khóc cười từ lâu/ Như người lạc giữa sông Ngâu/ Vô tâm sợ viết thành câu vô tình/ Nghêu ngao mình nhại thơ mình/ Vẫn e có kẻ đang rình trộm nghe!...” - “ “Cái gọi là Chân lý khách quan/ Đã biến thành Ông quan chân lý” - “Tôi chiến đấu không bao giờ chiến thắng/ Với nỗi buồn lẩn quất trong tôi/ Nhưng nỗi buồn/ Là thù hay bạn? Tôi hỏi tôi/ Tôi không dễ trả lời!” (Những bài thơ ngắn) - “Khi con chó bỏ đi/ Nồi cám đã trống rỗng// Ấy là lúc vịt gà ngan, ngỗng/ Cất tiếng reo mừng khúc hát tự do// Khi chúng có tự do// Cám trong nồi đã hết!” (Tự do) - “Đêm đen đến vô vọng/ Ngày trắng đến vô cùng// Tiếp tục sự vô ích/ Lại viết thêm mấy dòng… (Nhật ký 15/7/2018).

Nhưng đằng sau những nỗi chua chát có không ít âm hưởng bi quan, đau đớn, ta vẫn thấy nụ cười hóm hỉnh và niềm tin yêu cuộc sống & con người của tác giả, nhất là những thông điệp âm thầm mà gay gắt về Đạo lý của một người thơ “Không lá, không hoa, cây còn cái lõi/ Thơ lõi lim - Tặng phẩm lúc lim già…”

Thơ ông là thơ của một tác giả đến giai đoạn cao nhất của sáng tạo thi ca là “trực ngôn”, rút tinh túy lòng mình ra để cắm sâu vào tâm trí người đọc - không phải bằng những câu chữ ngọt ngào làm duyên làm dáng, bằng vần điệu du dương; sự thật là ông đã không để lọt vào thơ mình một câu chữ nào của các “hoạn quan trữ tình” (Maiacovski) đang đầy rẫy trong thơ ca Việt hiện đại…

Bài thơ hay nhất trong tập “Người lặn biển”, theo tôi là bài thơ “Đói”, mang đậm “chất Thạch Quỳ” - bài thơ còn mang tính thời sự lâu dài, và nói hộ được nỗi niềm của nhiều người Việt Nam đã/ đang trải qua những sóng gió đời thường và lịch sử:

ĐÓI


Tớ nói thật, tớ có tài nhịn đói

Nhịn từ tuổi thiếu niên qua tuổi trung niên

Bát cơm trắng như giấc mơ cổ tích

Trong chiêm bao thường vẫn hiện lên

 

Tôi nhịn đói hơn sáu mươi năm có lẻ

Rồi quen đi, không đói nữa ngày nào

Cái cảm giác thèm ăn dần biến mất

Bát cơm trắng ngày nào cũng biến mất khỏi chiêm bao

 

Giờ nếu bạn mời tớ vào cuộc nhậu

Tớ nể tình ngồi lại, tớ không ăn

Xin bạn hãy cảm thông cho tớ

Cả một đời nhịn đói đã quen thân

 

Và cũng vậy, tự do, tình yêu…

                                              những gì nữa nhỉ

Với đời sống tinh thần tựa nước uống cơm ăn

Nhưng chẳng lẽ, như dạ dày của tớ

Trái tim người đói mãi cũng thành quen…?

Tôi xin thay mặt những người đọc nói chung, người yêu thơ nói riêng trước hết cảm ơn nhà xuất bản Nghệ An đã làm “bà đỡ” cho tập thơ giản dị, gai góc song đầy rung cảm này được ra đời, sau đó là cảm ơn thi sĩ “lão thực” Thạch Quỳ - một bông hoa quỳ bằng đá quý hiếm trên xứ Nghệ!

_______________________

1. Triết học nghệ thuật của Heidegger, Julian Young, Như Huy dịch, tr.82, Nxb Thế giới, HN, 2019.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Mười 20258:49 SA(Xem: 10899)
Nổi Buồn của Phản Kháng (The Melancholy of Resistance): Trong một thị trấn nhỏ tăm tối, lạnh lẽo, gần như bị bỏ quên ở vùng nông thôn Hungary, mọi thứ trôi qua trong sự trì trệ, u ám và vô nghĩa. Người dân sống lặp lại từng ngày, giữa rượu, tin đồn và nỗi sợ mơ hồ về điều gì đó sắp xảy ra — một sự tan rã nào đó mà không ai dám gọi tên.
13 Tháng Mười 20258:28 SA(Xem: 12278)
Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy...
27 Tháng Chín 20256:15 CH(Xem: 9399)
Đây có vẻ như một sự kiện nghịch lý đến buồn cười bởi trong suốt 50 năm qua, NHL thường bị đội nón cối “thân Cộng”; dẫu chẳng có chiếc nón định kiến nào vừa vặn cho một nhân vật cộng đồng đa năng, đa dạng và... đa đoan như NHL. Tôi vừa về Việt Nam, nghe bạn bè kể rằng, NHL bị buộc quay trở lại Mỹ khi vừa tới phi trường Tân Sơn Nhất... mà không biết nên vui hay buồn khi nghĩ đến "quê hương là chùm khế ngọt"; nhưng giấc mơ "ăn khế trả vàng may túi ba gang mà đựng" trong cổ tích huyền thoại cũng không còn trong thế hệ GENZ với trí tuệ thật đang bị trí tuệ nhân tạo làm chao đảo này.
11 Tháng Chín 202510:04 CH(Xem: 12853)
Hơn hai tuần qua, bộ phim “Mưa Đỏ” đã tạo nên một hiệu ứng truyền thông chưa từng có trong lịch sử Điện ảnh Việt - vượt rất xa phim “Địa đạo - mặt trời trong lòng đất” từng làm mưa làm gió phòng vé mấy tháng trước, và tạo nên một đợt sóng dư luận mới - trong đó, khen nhiều hơn chê, chủ yếu là khen ăn theo dư luận; và cái “Khen” chủ yếu dựa trên một định đề quen thuộc nằm trong “chiến lược truyền thông” chính thống lâu nay ăn vào não trạng phần đông dân Việt: “Cần mô tả, ca ngợi sự hy sinh mất mát to lớn để hiểu cái giá của Hòa Bình, Độc lập - Tự do”…
31 Tháng Tám 202512:36 SA(Xem: 11296)
Đó là một trường hợp trong vô số những ca khúc nổi tiếng, nhầm lẫn tựa đề lẫn tác giả. Điều này rất đáng tiếc và cảm thấy thật buồn. Khán thính giả từ trong nước đến hải ngoại từng rung động trước những ca khúc như: Tình nào trong mắt em, Người tình không đến, Nối lại tình xưa, Chờ đông,… Ca khúc Chờ Đông thì bị gắn tên tác giả Trần Thiện Thanh. Đường Tình Đôi Ngã gắn cho nhạc sỹ khác. “Đêm buồn phố thị” lại cho là sáng tác của Ngọc Sơn. Còn tệ hơn nữa có những trung tâm băng đĩa không hề ghi tên tác giả hoặc ghi Vũ Như Cẩn (vẫn như cũ). Những bài hát bị gán nhầm tên tác giả hoặc đổi tựa và rồi khi sự thật, người thật bị vùi lấp quá lâu, người đi sau lại ghi lại cái sai của người đi trước. Nhạc sỹ Ngân Giang từng bị xóa tên khỏi bài hát do ông đổ mồ hôi và nước mắt để viết nên nó. Đó là sự nhập nhằng, vô tâm, tắc trách trong thị trường âm nhạc. Người ta có thể thuộc và hát say sưa một ca khúc nhưng lại không biết tác giả là ai.
30 Tháng Tám 20259:54 CH(Xem: 10501)
Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp. Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm biết.
19 Tháng Tám 20255:49 CH(Xem: 15379)
Trương Vĩnh Ký (1837–1898) từ lâu đã là một nhân vật nhiều tranh cãi trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông là trí thức Tây học sớm nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ, có đóng góp nhất định cho việc phát triển chữ Quốc ngữ. Nhưng đồng thời, ông cũng là viên chức phục vụ trực tiếp cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Giữa hai cực sáng – tối ấy, giới nghiên cứu và văn học Việt Nam đã có những cách đọc rất khác nhau. Một số nhà phê bình văn học, tiêu biểu như Nguyễn Vy Khanh, xem ông là “tinh hoa văn hóa” và là niềm tự hào của dân tộc. Trong khi đó, sử gia Vũ Ngự Chiêu, dựa trên tư liệu gốc và phương pháp khoa học, đã khẳng định Trương Vĩnh Ký là một trí thức bản xứ cộng tác với ngoại bang. Câu hỏi lớn được đặt ra: chúng ta cần văn học để dựng nên huyền thoại, hay cần sử học để nói sự thật?
16 Tháng Tám 20254:58 CH(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
13 Tháng Tám 20251:51 SA(Xem: 11319)
Nhân vụ một giảng viên trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội tối ngày 16/7/2025, sau khi nhậu say về đã đâm liên hoàn, gây tai nạn thảm khốc. Một người tử vong tại chỗ, ba mẹ con bị thương, một cháu nhỏ tiên lượng xấu, làm hư hỏng 8 phương tiện khác. Khi tỉnh rượu chỉ còn biết ôm lấy nỗi ân hận sâu sắc, nhưng lỗi không chỉ thuộc về người cầm lái mà còn trách nhiệm của những bạn nhậu, những người ép uống. Lời khai của can phạm, do uống say, mấy lần trước có gọi xe về, có app đặt xe lái hộ, nhưng hôm nay, không hiểu sao lại tự tin lái được (người say khôngbao giờ nghĩ là họ say) lên xe lao đi, đạp nhầm chân ga…
31 Tháng Bảy 202511:31 CH(Xem: 9487)
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.