- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,450,024

Nhớ Huy Cận, Người Quê Viết Thơ Quê

13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 3410)


nhà thơ HUY CẬN
Chân dung nhà thơ Huy Cận - ảnh Internet

 

         Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.  Thuở nhỏ Huy Cận học ở quê. Đang học lớp tư được vài tháng thì theo một người cậu vào Huế học hết tú tài toàn phần ( 1939 ). Sau ra Hà Nôi, từ đấy trải qua nhiều thăng trầm nhưng đại bộ phận đời ông sống xa quê.

       Rất gắn bó với đất quê, thực ra chỉ có mười mấy măm  tuổi thơ, còn là lưu lạc, nhưng ký ức tuổi thơ lại ám ảnh thương nhớ trọn đời. Quê Huy Cận là một xã sơn cước, cảnh đẹp, không khí cổ sơ, nhân dân rất ham hát ví giặm, kể các truyện Nôm, kể truyện Kiều và ngâm Kiều. Đó là một miền sơn cước rất nghèo, dưới chân núi Mồng Gà, bên dòng sông La cổ kính và bên kia sông có chợ Nướt, mỗi tháng họp chín kỳ. Thuở Huy Cận sống thời thơ ấu, cảnh sắc nơi đây đẹp một cách xa vắng, đìu hiu. Điều đó, sẽ là một phần nào sau nầy khiến cho thơ Huy Cận tự nhiên ẩn chứa một nỗi buồn lãng đãng.

 Trong  Lời giới thiệu “Tuyển tập Huy Cận” (tập I) Xuân Diệu đã viết về làng quê Ân Phú: “ Rất nhiều cá tính của đất đai, có thể nói mỗi mảnh đất đều tràn đầy  xúc cảm, như tích tụ cái cổ sơ đâu từ hàng trăm năm trước. Làng quê hương đã cung cấp cho Huy Cận một cái vốn đất đai gì sâu thẳm như gan ruột của thời gian “

              Quả thật, sông núi, đất đai quê hương, những chợ Nướt, dòng sông La, núi  Mồng Gà…đã làm nên xương thịt của nhà thơ và dệt nên tâm hồn thơ nơi con người ông:

Tôi sinh ra ở miền sơn cước

Có núi làm xương cốt hàng ngày

Đất bồi tơi làm da thịt mát

Gió sông như những mảng hồn bay.

Và:

Tuổi nhỏ tôi trùm trong nhớ thương

Cách sông chợ Nướt bến đò sương

Làng quê chân núi chiều về sớm

Bóng núi dài lan mát ruộng nương

     Huy Cận đã sống tuổi nhỏ trong quê hương đẹp và nghèo ấy. Quê nghèo đã cho ông hồn thơ. Cảnh vật, con người quê hương luôn ám ảnh tâm can nhà thơ, làm thành những kí ức tuổi nhỏ chi phối thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận.

       Lửa thiêng ( 1940) là tập thơ tiêu biểu của Huy Cận trước cách mạng và thuộc số thành tựu xuất sắc nhất của thơ mới 1932 - 1945. Người đọc bắt gặp ở Lửa thiêng một cái tôi khát khao giao hoà,  nhưng luôn cảm thấy cô đơn trống vắng. Làm nền cho tập thơ là những nỗi buồn quê kiểng : nỗi buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn nơi xa, buồn của người lữ thứ, buồn nơi quán trọ, nỗi buồn trước cảnh sông dài trời rộng... Nỗi buồn thương của Huy Cận như ngấm ngầm chất chứa tự đáy lòng, lan toả khắp ngoại cảnh, tạo thành cái mạch sầu chảy hút về hoài niệm chùm lên cả những xúc cảm về quê hương:

Trông vời bốn phía không nguôi nhớ

Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay

                            ( Vạn lý tình )

Đọc thơ Huy Cận thời này, có người không khỏi giật mình về cái buồn man mác khi bất chợt, khi trải dài cố hữu  xen vào nhau rất đậm, cho là ảnh hưởng “nỗi buồn trong thơ Pháp, là cái mode của thi ca đương thời” ! Không hẳn thế chúng tôi cho đó là tâm trạng của một thế hệ những người trí thức  lúc bấy giờ, là một nét quan niệm về nhân sinh  kết tinh trong nghệ thuật, được cộng hưởng thêm từ Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây mà thôi.

  Huy Cận thường nói tới thiên nhiên,  những thi ảnh thân quen trời , sông , sóng, khói, con đò, chiếc cầu, cánh chim…dễ gây xúc động cho người đọc, làm cho người ta nhớ quê nhà. Cho đến khi xuất bản Lửa thiêng ( 1940) , Huy Cận chỉ trải nghiệm hai con sông lớn, đó là Sông La ở quê và Sông Hương ở Huế . Bài thơ “Tràng giang” (1939) thấp thoáng bóng dòng La với bao nhiêu chi tiết mà ai đi trên dòng sông này một lần đều có thể cảm thấy phảng phất nhiều hình ảnh được tái hiện trong bài thơ, cùng với nét biểu cảm sâu lắng tâm hồn ông. Nhiều nhà phê bình khen ngợi bài thơ này đặc biệt hai câu cuối “Lòng quê dợn dợn vời con nước /Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”vì cái  âm hưởng Đường thi và tình quê mơ màng lai láng của nó.  Tuy nhiên nhiều chi tiết khác  được tác giả thể hiện trong bài mới thật sự đậm chất quê kiểng, xúc động lòng ngừơi.

               Khung cảnh đặc tả trong bài thơ rất có ý nghĩa trong sự liên tưởng tâm trạng thi sĩ với miền quê. …Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mậ/.Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…

Đó là hình ảnh thượng nguồn con sông La chảy từ Lào sang với hai bờ xa cách, nước chảy xuôi, không một chuyến đò ngang. Chẳng có cây cầu nối liền hai bờ, đứng ở bờ sông bên nầy, nhìn sang bờ sông bên kia chỉ có bãi cát vàng,  bờ dâu xanh…,  kéo dài đến tận chân trời…

           Những thi ảnh rất gần gũi với độc giả, mang đậm hồn quê  của ông. " Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" , một hình ảnh thơ quen thuôc mà rất gợi cảm . “Chợ Nướt” bên kia sông  và vài chợ khác là nơi trao đổi hàng hoá, gặp gỡ, chuyện trò rộn rịp thân thiết của làng quê . Hình ảnh một ngôi chợ nhỏ, lơ thơ mấy mái tranh là rất quen thuộc ở miền quê nước ta, cách gọi tên đặc biệt của làng quê xứ này: Chợ họp buổi sáng gọi là "chợ mai", họp buổi chiều,  gọi là "chợ chiều” , chợ họp  trễ lúc đầu hôm là "chợ hôm".  Cảnh chợ chiều, nhất là lúc vãn chợ, bao giờ cũng buồn. Huy Cận rất tinh tế,  ông là người sinh ra lớn lên ở miền quê Đức Thọ trước khi đến học ở kinh đô Huế , nên nhận biết rất sâu sắc những cảnh tình đó.

              Bèo dạt về đâu hàng nối hàng, cánh bèo trôi  là hình ảnh về sự vật, nó gần với "bèo dạt hoa trôi"- thành ngữ dân gian  nói về thân phận con người trong xã hôi cũ. Những cánh bèo từng hàng bị xô đẩy nổi trôi trên dòng sông trong bóng chiều  là một bức  tranh đầy gợi cảm tượng trưng cho bao kiếp người lênh đênh vô định.  Nhất Linh một thời thích câu thơ " Bèo giạt về đâu..." của Huy Cận. Có lúc ông đã tính lấy hai chữ "Bèo giạt" để đặt tên cho toàn bộ ba tập tiểu thuyết "Dòng Sông Thanh Thuỷ" (Dòng Sông Thanh Thuỷ - tập 1, "Chi bộ Hai người" - tập 2 và "Vong Quốc"- tập 3).

(Theo Hồng Lam đất văn chương đất khoa bảng - Chương: Huy Cận, NXB Thế giới, 2010 )

     Tất cả những hình ảnh làng quê mà ông mô tả như trên, phải là người yêu làng quê lắm , mới có những nhận xét tinh tế như thế. Chúng tôi cho Tràng giang là tâm tư được rút ra từ tấm lòng quê kiểng, dóng sông mang bóng dáng con sông quê nhà của ông.

*

                    
             Huy Cận là một người vô cùng giản dị, có nhà văn đã viết về ông: “Thật lạ lùng là vị bộ trưởng, nhà thơ tài năng kiệt xuất và tài hoa nhiều mặt ấy lại luôn luôn mang một vẻ bề ngoài hết sức mộc mạc, bình dân tới mức dân dã vô cùng! Ông gần như vẫn nói giọng Nghệ Tĩnh nguyên xi, sau nửa thế kỉ sống giữa lòng thành phố thủ đô! Vẫn thường mặc những quần áo vải bông tuềnh toàng, mang giầy vẹt gót, không sơn bóng nước xi” ( Hoàng Cát - Chuyện văn chuyện đời nhà thơ Huy Cận ). Cất giấu bên trong cái vẻ ngoài giản dị mộc mạc đó là một tình yêu sâu đậm với quê hương.

            Quê hương hiện lên trong thơ Huy Cận không chỉ là cảnh mà còn là người, những con người mộc mạc gần gũi thân thương  mà bao giờ nhắc đến họ, đến những những ngày buồn xưa cũng như những ngày vui nay  giọng thơ ông như trầm hẳn xuống muốn san sẻ . Đó là những bà mẹ, em bé trong những ngày mưa, lụt  “ơi ời giữa nước mênh mông trắng”, những bà dì, bà mự, bà cô sống hẩm hiu “như hòn cuội lăn xuôi”, người thầy” năm nhăm năm vụt tắt”  nhà thơ nghe lòng mình xót xa…Sâu đậm nhất là hình ảnh mẹ nhà thơ “Mẹ ơi sao mẹ giống/ Đất nước sinh ra con/Cũng một bầu khổ thống/Cũng bấy nhiêu đau buồn”. ( Trích Hồi ký - !940)

Hình ảnh quê hương thân thiết với người cha, người em, đàn gà, con trâu cùng với những món quê tương, nhút, cá kho, cơm ủ… luôn theo ông trong niềm thương nhớ: Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp/ Trâu dậy trong ràn em cựa nôi / Cha dậy đi cày trau kịp vụ / Hút vang điếu thuốc khói mù bay/ Nhút cà cơm ủ trong bồ trấu/ Chút cá kho tương mẹ vội bày...(Sớm mai gà gáy). Những tiếng quê “ràn”, “cày trau”, “nhút cà” xa quê lâu ngày ông vẫn nhớ!

            Tập trung cho tình yêu quê hương đầy nhớ nhung, tự hào là bài thơ  “ Gửi người bạn Nghệ Tĩnh” trong tập thơ “Những năm sáu mươi” của ông. "Xứ Nghệ” trong lĩnh vực văn hóa, văn chương truyền thống thường  bao gồm cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.  Có lẻ đây là bài thơ duy nhất trực tả Xứ Nghệ trong văn chương hiện hành với  những sản vật tiêu biểu như “cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn”, “nước chè xanh xứ Nghệ càng chát lại càng ngon” và  những gia tài văn hoá phong phú như  “vè, ví dặm  xứ Nghệ càng lắng lại càng sâu” một cách tự hào.

Từ bấy lâu nói về văn hóa và con người vùng đất này có hai nhà văn nói khá sâu săc gây nhiều ấn tượng, đó là Nguyễn Đổng Chi và Đặng Thai Mai , nhưng các cụ nói chủ yếu về con người xứ Nghệ với những nét cực đoan trong tính cách, như chiến đấu gan dạ đến liều lĩnh, giải quyết tốt những trận đánh khó khăn nên có lần vua nhà Trần trước sự vây hảm, đẩy lùi của quân thù đã tự tin bảo rằng ta “còn mười vạn quân Hoan Diễn” (Hoan Diễn do tồn thập vạn binh) chưa dùng đến, Hoan Diễn là hai châu Hoan, châu Diễn tức Nghệ An, Hà Tĩnh sau này. Hoặc khi cuộc sống đẩy đến cùng cực thì phải kết liên  với nhau chống lại, các cụ gọi là sức mạnh  hợp quần ( Xô Viết Nghệ Tĩnh). Huy Cận tự  hào về cái vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế , nhân văn trong văn hóa, tâm tình con người Xứ Nghệ.

…Ai đi vô nơi đây,/ Xin dừng chân xứ Nghệ.
Nghe câu vè ví dặm/ Càng lắng lại càng sâu.
…Tình xứ Nghệ không mau,/ Nhưng bén rồi  sâu lắng.
Quen xứ Nghệ quen lâu,/ Càng tình sâu nghĩa nặng.

…Ôi tâm hồn xứ Nghệ, /Trong hồn Việt Nam ta.

       Chất Nghệ của bài thơ càng hiện rõ ở thể điệu ví dặm và ngôn ngữ đậm chất dân gian mà tác giả vận dụng thành thạo.

       Bài thơ Ngã ba Đồng Lộc, đỉnh cao của lòng mến yêu , tự hào về quê hương Hà Tĩnh, quê hương Việt Nam . Một cách thể hiện mới mẻ của thể thơ tự do, những thi tứ  hiện thực xen lẫn tượng trưng tạo một cảm xúc bi tráng - cao cả:

….Các ngã ba khác trên đời làm bằng nước, Bằng  sông, bằng thuỷ triều lên xuống,
Bằng đèn xanh đèn đỏ đủ màu Hay bằng những sự chênh vênh vấp ngã,
Nhưng ngã ba Đồng Lộc làm bằng xương máu. Khi con về quê con nhớ viếng thăm
Mộ các cô kề bên đường đỏ…
(Ngã ba Đồng Lộc)

  Mộ các cô ở đây là mộ 10 cô gái huyền thoại đã hy sinh cho Ngã ba bất tử. Ngã ba này vượt lên những hư ảnh tầm thường “đèn xanh đèn đỏ” giả tạo, vượt lên sự phản bội “chênh vênh vấp ngã”, ngã ba này “làm bằng xương máu”…Những câu thơ khẳng định và thức tỉnh ! Một cảm nhận chân thật sâu sắc về Đồng Lộc.

           Phong cách thơ về quê hương của Huy Cận  cũng như thơ ông nói chung khó gói lại trong một vài mệnh đề, thi liệu thường là những hình ảnh vừa có sự gần gũi, thân thuộc nhưng phong phú và đa dạng , dân dã  mà bác học, hiện đại lại  mang dáng dấp của thơ ca truyền thống. Thể tài cũng vậy, thơ bảy chữ, năm chữ, tự do đều có. Ngôn ngữ khi thì như tiếng nói đồng quê, khi  thì cổ kính như thơ Đường cổ. Bảng lảng những suy tư triết học nhưng lại gần gũi trữ tình tâm sự của người bình dân. Ba  bài thơ quê  Tràng giang,  Gửi người bạn Nghệ Tĩnh, Ngã ba Đồng Lộc mà chúng tôi trích dẫn trên đây là một minh chứng cho những điều đã nói về phong cách thơ quê của ông: Cổ điển như Tràng giang, dân dã như  Gửi người bạn Nghệ Tĩnh và tân kỳ như Ngã ba Đồng lộc!

        Phấn đấu cho mình có được một phong cách nghệ thuật riêng là mục tiêu đẹp đẽ của mọi nhà văn. Ngay từ khi mới cầm bút, Huy Cận đã ý thức được điều này. Bằng tài năng bẩm sinh, và quá trình lao động sáng tạo công phu nghiêm túc, Huy Cận đã tạo dựng cho mình một phong cách riêng khá nổi bật trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Mảng thơ về quê hương có một đóng góp lớn cho thành tựu này./.

03-2019 

YẾN NHI

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
31 Tháng Ba 20207:18 CH(Xem: 1536)
NGÔ THẾ VINH Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi" và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho: “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.
02 Tháng Ba 202010:07 CH(Xem: 1629)
- Nguyên Ngọc chủ “Văn đoàn độc lập” đã trao nhiều giải thưởng thơ quá tầm phào, vô nghĩa, thậm chí bậy bạ, nhảm nhí, phá hỏng thẩm mỹ tiếng việt phá hỏng thẩm mỹ thi ca chân chính - Hữu Thỉnh chủ tịch hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN, chủ tịch hội nhà văn VN do chủ quan, trình độ văn hóa kém cỏi, trình độ thẩm mỹ thi ca bệnh hoạn và nhảm nhí cũng đã trao giải thưởng văn học cho hàng chục tập thơ dở, thơ vô nghĩa, thơ tầm phào…
22 Tháng Hai 20204:40 CH(Xem: 1511)
20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng. Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 1361)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 1111)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
25 Tháng Giêng 202011:50 CH(Xem: 1498)
Rồi nhìn về phía Nhà nước, với bao nhiêu công trình xây cất lãng phí hàng tỷ USD, điển hình như cống đập Cửa Ba Lai và các hệ thống ngăn mặn cùng khắp ĐBSCL, có thể nói là một thất bại toàn diện. Sau bài học thất bại của cống đập Ba Lai, và rồi sắp tới đây, là một công trình khác lớn hơn thế nữa: Cái Lớn Cái Bé. Nhà nước nên có sáng kiến thực tiễn hơn: dùng số tiền tỷ USD ấy để xây dựng những dự án thật sự công ích. Khởi đầu là một tỷ USD cho xây một nhà máy khử mặn / Desalination Plant, một tỷ đồng khác xây dựng một nhà máy thanh lọc nước thải / Waste Water Treatment Plant, đó là những gì khẩn cấp nhất mà 20 triệu cư dân ĐBSCL đang thiếu nước ngọt giữa cơn hạn ngập mặn và nguồn nước ô nhiễm trầm trọng như hiện nay. Đó mới thực sự là bước công nghiệp hoá chứ không phải với những túi nhựa chứa nước ngọt đang bán ra cho nông dân mà vẫn được gán cho danh hiệu Công trình Khoa Học & Công Nghệ Cấp Nhà Nước.
23 Tháng Giêng 202012:07 SA(Xem: 1237)
Tiếng khóc ai oán của chị Nhung con cụ Lê Đình Kình - người bị lực lượng cưỡng chế giết chết ở Đồng Tâm - như một nhát dao xuyên suốt tất cả trái tim những ai lắng nghe nó. Cho dù họ là người của chính quyền hay các nhà hoạt động, những người khác hẳn nhau về chính kiến.
14 Tháng Giêng 20205:59 CH(Xem: 1647)
Bài viết này gửi tới 92 vị Đại biểu Quốc hội của 13 tỉnh Miền Tây, mà chúng tôi kỳ vọng quý vị như một toán đặc nhiệm – task force, trong quyền hạn có thể phản ứng nhanh, tạo bước đột phá, tránh được một sai lầm chiến lược trong lưu vực sông Mekong và cả cứu nguy ĐBSCL – vùng mà các vị đang đại diện.
27 Tháng Mười Một 20196:16 CH(Xem: 1855)
Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Phúc lợi và Phát triển Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 10 tại thủ đô Vientiane, ông Khampheng Saysompheng nêu rõ vào khoảng 4 giờ sáng và 7 giờ sáng ngày 21 tháng11 đã xảy ra hai trận động đất độ lớn lần lượt là 5.9 và 6.1 tại huyện Saysathan, tỉnh Xayaburi, giáp biên giới Thái Lan. Ông Saysompheng nói thêm đây là trận động đất mạnh hiếm có và rất nhiều năm mới xảy ra tại Lào.
16 Tháng Mười 20193:08 CH(Xem: 2075)
Ngày 31/07/2019 chính phủ Lào chính thức gửi hồ sơ tới Ủy Hội Sông Mekong / MRC về dự án xây con đập dòng chính Luang Prabang với yêu cầu tiến hành thủtụcPNPCAba giai đoạn: (1) Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, (2) Tham vấn trước / Prior Consultation, (3) Chuẩn thuận / Agreement. Thay vì ra thông báo ngay,MRC đã trì hoãn 7 tuần lễ saumới đưa ra thông cáo báo chí về sự kiện này.Đến ngày 25/09/2019, MRC đãbào chữa cho quyết định im lặng 7 tuần lễ với lý do: “Thông báo của Lào gửi tới chưa đầy đủ để có thể tiếp cận với phần tổng quan của dự án / project overview và lộ trình tham khảo / roadmap for consultation, giúp quần chúng hiểu tốt hơn về dự án và tiến trình tham vấn.” Cũng vẫn ban Thư ký MRC giải thích tiếp,“Học được từ kinh nghiệm, lần này chúng tôi có kế hoạch thông báo chính thức khi có đủ những tài liệu cần thiết để quần chúng và các bên liên quan / stakeholders có thể khảo sát và đóng góp ý kiến cho tiến trình tham vấn thêm ý nghĩa.