- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Biểu Tượng Cây Thông Và Ứng Xử Văn Hoá Của Nguyễn Công Trứ

Saturday, September 29, 20184:52 PM(View: 50804)



NGUYEN CONG TRU - internet
Nguyễn Công Trứ -ảnh Internet

 

 

           Trong các nền văn học Phương Đông hình tượng Tùng đứng chon von trên đỉnh núi chống  chọi  tuyết sương  tiêu biêủ cho những bậc hào kiệt, nhân vật chính diện có khí phách cứng cỏi. Tùng ( Thông) từ môt hình  tượng văn học dần trở thành một biêủ tượng đời sống văn hoá chỉ vẻ đẹp, phẩm cách của con người lý  tưởng. Bốn loại cây trúc, mai, tùng, cúc tiêu biêủ cho bốn tính cách của ngườì quân tử, đấng trượng phu: ngay thẳng, trong sạch, cứng cỏi , khiêm tốn. Tùng trong quan niệm truyền thống  biểu trưng cho sự cứng cỏi, chữ Dũng

Tuy nhiên Tùng là một biểu tượng có nhiều biến tấu theo thời gian. Trên cơ sở những biến thiên của đời sống xã hội, cuả văn hóa, của địa dư … mỗi thời đại hình tượng Tùng có một hàm nghĩa không giống nhau. Tùng trong thơ cổ Trung Quốc khác Tùng thơ Việt, Tùng thời Lý không giống thời Lê, thời Trần, thời Nguyễn…Khảo sát hình tượng Tùng qua các biến thiên xã hội, ta sẽ nghiệm thấy nhiều tương tác, nhiều mô thức có tính đột biến  giữa văn học và đời sống, giữa chủ thể và khách thể!

            Thời Trần ( Tk13) có một nhà văn hoá lớn: Tuệ Trung thượng sĩ. Ông tên thật là Trần  Tung, sinh năm 1230, mất năm 1291, một người phẩm chất thanh cao, sùng đạo Phật. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân Nguyên, sách  An nam chí lược ( Lê Tắc)  cho biết Trần Tung không chỉ là vị tướng tài mà còn là một nhà ngoại giao lỗi lạc, nhiều lần thương thuyết với giặc khôn khéo, làm lợi cho quân ta rất nhiều. Không hiểu sao cuối đời ông đi tu,  nổi danh một người uyên thâm về đạo Phật, được Trần Thánh Tông rất khâm phục. Chính vua Thánh Tông là người gọi ông là Tuệ Trung thượng sĩ. Thượng sĩ có nghĩa tương đương là Bồ Tát, được tôn như người tu Phật đã đắc đạo. Ngoài việc viết sách Nho giáo, Đạo giáo, ông còn là nhà thơ, nhiều tác phẩm của ông ý tứ sâu sắc cho đến bây giờ vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau .

Trong bài Giản để tùng , Tuệ Trung viết:

Tối ái thanh tùng chủng kỷ niên,

Hưu ta địa thế sở cư thiên.

Đống lương vị dụng nhân hưu quái

Dã thảo nhàn hoa, mãn mục tiền!

Dịch:

 Mấy năm trồng tỉa một chòm thông,

Chẳng thở than vì đất vắng không!

Rường cột chưa dùng, đời chẳng lạ...

Mảng vui cỏ nội với hoa đồng!

                                      (Ngô Văn Phú dịch)

           Thơ viết về thông mà nói về người, về bản chất của một lối sống thanh cao, hoà đồng. Sự thanh cao ở đây  ám chỉ  việc ngừơi không than thở cho những mất mát chênh lệch  về vị trí, chức tước, luôn vui vẻ hoà đồng “mảng vui với cỏ nội hoa đồng”. Hình tượng Tùng ở đây không phải là  chữ Dũng ( cứng cỏi ) theo cách nghĩ truyền thống mà  là chữ Hoà ( hoà hợp ), một phẩm chất quan trọng của bậc hào kiệt thời kỳ đầu xây dựng nhà  nước phong kiến tập quyền.

            Hai trăm năm sau, vào thơì kỳ Lê sơ, Nguyễn Trãi một khai quốc công thần mà thân thế sự nghiệp đầy những bất trắc đã thể hiện trong thơ mình một hình tượng Tùng hoàn toàn khác. Đó không là hiện thân của chữ Dũng như  trong truyền thống cũng không là chữ Hòa  như của Trần Tung  mà là biêủ trưng của chữ Nhân - lòng thương yêu  nhân dân, yêu thương con ngườì. Khi nhà Trần khẳng định thiên hạ, buổỉ đâù chữ Hoà của vua tôi, của quý tộc, tôn thất, trong cộng đồng là rất cần thiết. Sang đời Lê cái cần là lòng nhân đối với con nguời. Xã hội phong kiến dẫu đang trong thời kỳ đi lên cũng đã bộc lộ nhiều nghịch lí  phương hại đến đời sống dân sinh. Thấy được điều đó ta mới thật hiểu ý nghiã  hình tuợng Tùng , trong nhưng câu thơ sau :

Hổ phách phục linh nhìn mấy biết

Dành còn để trợ dân này.

        Trước cuộc sống đầy “tuyết sương” của nhân dân, Nguyễn Trãi nhận thức được rằng người quân tử  không chỉ  là nhà cả đòi phen chống khoẻ thay mà còn phải làm hổ phách phục linh để trợ dân!

        Cây Tùng sống trăm năm  chịu đựng suơng giá chắt lọc trong cốt tuỷ của mình những vị thuốc trường sinh để  giúp  dân, trợ dân. Đưa phẩm chất này vào hình tượng cây tùng truyền thống, Nguyễn Trãi đã sáng tạo một hình tượng Tùng mới – một lí tuởng mới về bậc  truợng phu, quân tử. Cây Tùng thể hiện quan điểm thân dân cuả ông - một quan điểm vượt xa cổ nhân . Ông không dừng lại chỗ thương dân hay chăn dân, mà trợ dân. Tư tuởng Dân bởi vậy có một ý nghiã mới mẻ và độc đáo trong văn học V.N. Với Nguyễn Trãi Tùng không chỉ là Dũng mà còn là Nhân, chủ yếu là Nhân ! Đó không chỉ  là một sáng tạo thuần tuý nghệ thuật mà là một nét  mới mẻ của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi, nâng ông lên tầm cao mới.

               Nhà Lê theo quỹ đạo chung của các triều đại, qua thời phát triển đến kỳ suy vi, nhường chỗ cho Nhà Nguyễn ( Tk19).Văn học VN thời kỳ này cực kỳ phát triển với nhiều tên tuổi là những đỉnh cao của văn hoá dân tộc. Nguyễn Công Trứ là một trong số đó. Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) con  Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đỗ Giải nguyên 1819, ông làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn. Trong 28 năm làm quan, bị giáng chức 5 lần. Đã đem quân đánh dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân. Có công lớn trong việc khai hoang lấn biển ở Quảng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình lập nên hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn. Với công lao to lớn đó, ông được nhân dân quanh vùng lập đền thờ khi còn sống.

Là một nhà quản trị giàu năng lực, một vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Thơ ông là tâm trạng vị quan thanh liêm, tận tuỵ với triều đình, nhưng lại bị gièm pha nên thăng giáng thất thường. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu… Những bài cuối đời tố cáo những khía cạnh lọc lừa, bạc bẽo của xã hội đương thời. Với sự phong phú đa dạng trong các sáng tác,  Nguyễn Công Trứ là người đưa ca trù từ một lối hát nhỏ lẻ thành thể thơ thuần Việt phổ biến dùng cho nhiều loại  đề tài. 

               Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Ông không phủ nhận các nguyên lí tư tưởng Nho giáo (quân - thần - phụ - tử), nhưng trên một vài phương diện đạo lý, lối sống, ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ phóng dật bất cần, thách thức công nhiên dư luận. Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia nhưng có nhiều khía cạnh đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc lề thói thời bấy giờ, nhưng lại được người đời ngầm chấp nhận. Hiểu được tính hai mặt này trong mối quan hệ giữa tính cách của Nguyễn và công luận là một điều cần thiết để  đánh giá con người và sự nghiệp ông.

               Nguyễn Công Trứ là người đa tài, nhưng ở ông tài và phận nhiều khi không song hành. Đời ông trải nhiều thăng trầm, vinh nhục, nên hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Đó là một xã hội đầy nghịch lý, ông vừa khinh bỉ và ngán ngẩm  vừa phải chấp nhận nó.

Thế thái nhân tình gớm chết thay

Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy

Hay:

Ra trường danh lợi vinh liền nhục

Vào cuộc trần ai khóc trước cười.

            Chán chường với chốn quan trường, thấy những nghịch lý trong xã hội  nhưng ông vốn là con người hành động nên hai phần đời đã nhập cuộc - một cuộc chơi : Trời đất cho ta một cái tài/ Dắt lưng dành để tháng ngày chơi - trộn lẫn khóc cười! Ông trách cái xã hội oái oăm nhiều ngang trái, nhưng không đủ nhận thức để cải tạo nó. Bởi vậy mà sinh ra bi kịch: Ngồi buồn mà trách ông xanh, Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười. Cho đến cuối đời, cuộc chơi đã gần mãn, nhiều lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông muốn phủi tay muốn thoát ly ra ngoài Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

            Bài thơ là tâm trạng của một bậc hiền tài chua xót trước thời cuộc, đượm buồn nhưng không bi quan, yếm thế; vẫn thể hiện bản lĩnh của một bậc đạt nhân quân tử luôn tuỳ ngộ nhi an  trước mọi thử thách. Phép xuất xử, luôn gợi ý cho các nhà nho khi nào nhập thế khi nào xuất thế, khi nào ra làm quan khi nào về vườn. Có vị “về” khi đường hoạn lộ đương thênh thang để giữ lòng trong sạch, có vị không ra làm quan “chỉ tìm nơi vắng vẻ” dưỡng thân  nhàn. Nguyễn Công Trứ khi về hưu, muốn  làm cây Thông để lánh đời. Với  bài thơ phải chăng ông tỏ ý thoát ly, ở ẩn? 

            Xét một cách tổng thể về cuộc sống, về thơ văn cũng như những giai thoại về ông mà người đời kể lại ta thấy nét ứng xử văn hoá của Nguyễn trước cuộc đời quả có những nét riêng không giống bao nhà nho khác đương thời cũng như trước đó. Phong cách sống cũng như thơ ca thể hiện một lối sống vượt qua ngưỡng phóng túng nhưng chưa đến phóng cuồng (như tác giả Phóng cuồng ngâm nói đến) mà dừng lại ở chổ  phóng lãng, phóng dật, một tính cách nặng về vui chơi, ưa tự do phóng khoáng đề cao cá tính, có cái gì đó cao ngạo bất chấp thói tục hiện hành, bước đầu có sự thích lập với cuộc sống thị dân mới manh nha. Trong ý nghĩa chính của nội hàm biểu tượng “Thông”, là sự tương nghịch của nhân cách Nguyễn Công Trứ với thói đạo đức giả, bảo thủ của lễ giáo phong kiến đương thời, là sự đối lập  của cá tính Nguyễn Công Trứ với dư luận máy móc, xuôi chiều đầy áp đặt của xã hội trưởng giả, quan liêu cung đình mục ruỗng…Nó không bao hàm sự lo lắng nhiệt tình của ông với thời cuộc khi triều đình cần người trị an cho xã hội ông sẵn sàng dấn thân, cũng như mối quan hệ thân thuộc của ông với bè bạn, anh chị em thân thuộc trong gia tộc, chòm xóm mà ông gắn bó cho đến cuối đời…

           Khi ông nói muốn làm cây thông đứng reo giữa trời, là một cách nói “ bóng gió” có tính phản kháng thế tục đen tối, bảo thủ, trục lợi hiện hành!  Thông ở đây xuất hiện như một chữ  Phóng ( phóng dật) – biểu tượng một cách sống, một tâm trạng muốn tách khỏi cuộc đời đen bạc nhiều nghịch lý để khỏi “nhuộm đen” mình.

          Trong lịch sử văn học nước nhà có hai nhân vât vừa là nhà thơ vừa là vị tướng cũng là hai nhà văn hoá lớn, họ có nhiều nét tương đồng về  sự vượt thoát ra ngoài khuôn khổ giáo lý hiện hành. Đó là Tuệ Trung thượng sĩ thời Trần và Nguyễn Công Trứ thời Nguyễn. Ứng xử văn hoá của hai ông rất gần với chữ Phóng - vượt thoát ra ngoài. Tuệ Trung có bài Phóng cuồng ngâm đề cao lối sống an nhiên xem nhẹ công danh phú quí, xa lánh chốn quan trường, thoả ước nguyện cuối đời trở lại cái “bản lai diện mục” mà mẹ cha ban cho.

…Ối chao! phú quý như mây nhẹ/ Ái chà! năm tháng tựa vó câu

Chỗ quan trường ấy thường hiểm trở/ Thói đời nóng lạnh cứ quen đi

Sâu thì lội tới, nông thời vén/ Dùng thì gia sức, bỏ thì thôi

Buông theo tứ đại, đừng bó buộc/ Tỉnh một đời rồi, chớ chạy rong

Kìa đã thỏa ước nguyện như lâu nay mong muốn/ Dẫu tử dẫu sinh kia giờ nhẹ tựa lông hồng.

(Quách Ngọc Bội phỏng dịch)

             


            Phóng dật là tâm trí xa rời cảnh trần bên ngoài, mà để trôi theo những quan niệm bên trong do mình tạo nên, thường đối nghịch với thực tại nhân sinh với chánh niệm tôn giáo. Cực đoan hơn phóng dật tìm tới phóng lãng, thích tự do, tìm thú ăn chơi vượt ra ngoài khuôn khổ đạo đức thông thường. Tuy ảnh hưởng phóng dật, vượt thoát ngoài khuôn khổ nhưng Tuệ Trung là một thiền sư, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho nên cũng có những giới hạn cao thấp khác nhau Tuệ Trung vượt  thoát trong một tín niệm triết học an nhiên  xem thường cõi thế tục tạm thời, còn Nguyễn Công Trứ muốn xa lánh cõi đời chông gai ô trọc nhưng chịu nhiều ràng buộc, chỉ dám mong đến kiếp sau mới xa rời được. Nguyễn Công Trứ muốn là muốn vậy nhưng không làm vậy, tình người  níu keó, ông không chịu được cảnh cô đơn, lại muốn tìm bạn …Giữa trời vách đá cheo leo/Ai mà chịu rét thì trèo với thông. Ông, trong sự lẩn tránh cái xã hội lắm điêù tiếng vẫn mong có bạn tri âm, sưởi ấm tình người! Nguyễn không ở ẩn theo kiểu “cày nhàn câu vắng” cô lập hẳn cuộc đời. Nguyễn chỉ “ẩn” trong tư tưởng  muốn xa rời cõi đời đen bạc. Những năm cuối  đời khi ở Cẩm Sơn ( thị xã Hà Tĩnh), lúc xuôi Thạch Hà , khi về Nghi Xuân, vẫn vui chơi, ca hát làm thơ, uống rượu…vui với bạn bè con cái và luôn tha thiết, trông ngóng gặp những bạn tâm đắc trong cuộc đời đen bạc. Tính hai mặt của chữ Nhàn ở Nguyễn Công Trứ là chỗ đó. Chính tính hai mặt này  làm cho ông khác nguời xưa trên lối về ở ẩn. Chữ Nhàn trong thơ và trong cuộc đời ông có những nét riêng là vậy!

                Vị quan nhà Nguyễn, người nghệ sĩ lớn tài danh mà hai phần ba cuộc đời sống gần với người dân thường, thấm nhuần những triết lý  sống dân dã. Thơ ông cũng mang phẩm chất đó, dẫu thỉnh thoảng đôi nét đượm buồn, phẩn nộ  nhưng cái mạch chìm  hòa khắp là sinh động, hoan lạc và tranh đấu, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt tính. Sự gắn bó đời sống làm nó không cạn kiệt theo thời gian, nhiều câu thơ về nhân tình thế sự như được xuất ra từ cuộc sống hôm nay vậy! 

YẾN NHI

                 

Send comment
Your Name
Your email address
Monday, February 17, 20259:06 PM(View: 16106)
Tom Fawthrop là nhà báo, nhà hoạt động môi sinh người Anh, người bạn đồng hành bấy lâu với Nhóm Bạn Cửu Long. Anh đã tường trình về sông Mekong trong 12 năm qua với tư cách là nhà nghiên cứu và diễn giả tại các đại học ở Singapore, Thái Lan, Cam Bốt, và Việt Nam. Các bài viết của anh về lưu vực này đã được phổ biến rộng rãi trên các tạp chí Economist, The Diplomat và The Guardian. Tom cũng là nhà sản xuất cuốn phim tài liệu “Where have All the Fish Gone” về thảm họa trên sông Mekong.
Sunday, February 9, 202512:27 AM(View: 17366)
Thơ của Nguyễn Chí Trung dâng lên như một dòng sông lũ, từ một vực thẳm sâu không thể nghĩ bàn và không thể dò thấu, theo lời của Filomena Ciavarella[iii]. Sự hấp dẫn tương tự của sông Hằng, biểu tượng của phương Đông, hòa quyện vào tâm hồn Trung. Nguồn gốc của bài Thơ “Khi Tôi Bước Xuống” - As I Step Down (sau đây gọi là AISD), một bài thơ gồm mười từ khúc theo cấu trúc nhịp "Lục Bát", có mối liên hệ chặt chẽ và lãng mạn với dòng sông linh thiêng đó: "Tôi đã mơ một lần trong đời đến đứng bên bờ sông và trẩy thuyền qua đó"[iv]. Giống như một hình ảnh trong giấc mơ, tất cả đã trở thành sự thật vào mùa đông năm 2015/16.
Wednesday, February 5, 20252:37 PM(View: 22077)
With an inconsistent and always “pivoting” policy, with a negligible total investment, over the past 50 years since 1975, the United States has made almost no positive and effective moves to prevent China’s expansion and encroachment – not only in the Mekong River basin – but also in the East Sea. To be able to counterbalance Beijing, of course, Washington needs to have a strategic vision, accepting a commensurate price to pay in order to restore its long-standing influence on the Mekong River Chessboard. NGO THE VINH
Friday, January 31, 202511:51 PM(View: 20086)
Với chính sách thiếu nhất quán và luôn “xoay trục”, với tổng số đầu tư không đáng kể, trong suốt 50 năm qua kể từ sau 1975, Hoa Kỳ gần như không có động thái tích cực và hiệu quả nào ngăn chặn sự bành trướng lấn lướt của Trung Quốc – không chỉ trên lưu vực sông Mekong – mà cả Biển Đông. Để có thể đối trọng với Bắc Kinh, dĩ nhiên, Washington cần có một tầm nhìn chiến lược, chấp nhận một cái giá tương xứng phải trả hầu có thể phục hồi ảnh hưởng đã có bấy lâu trên Bàn cờ Sông Mekong. "NGÔ THẾ VINH"
Tuesday, January 28, 20259:42 AM(View: 21649)
Nguyen Chi Trung’s poetry rises like a river in flood, from a deep unthinkable and unfathomable abyss, in Filomena Ciavarella’s words[iii]. The same fascination held by the Ganges, a symbol of the East, blending itself into Trung’s soul. The genesis of As I Step Down (henceforth, AISD), a poem of ten stanzas following the “Sixth-Eight” words metrical pattern, is closely and Romantically linked to that holy river: “I dreamed to come one time in my life to its border and to boatflow over it”[iv]. Like a vision in a dream, it all came true in winter 2015/16.
Tuesday, January 21, 202510:14 PM(View: 24337)
Người sinh ra và lớn lên ở Huế cũng như khách thăm Huế đều có cùng cảm nhận tương tự về tầm nhỏ nhắn, cảnh quang núi sông thơ mộng, điệu sống êm đềm trầm mặc của xứ nầy; nhưng khác nhau là tâm lý đòi đoạn (Emotional Fragmentation in Psychology) mà chỉ có những người Huế rặt chân quê mới trải nghiệm “nắng cháy da cháy thịt, mưa héo úa tâm hồn” của vùng đất quê huơng độc ngự cảm quan từ thời thơ ấu. Nguồn tâm lý nầy là khởi điểm của dòng cảm nhận: “Huế là quê hương đi để mà nhớ; chứ không phải ở để mà thương”!
Thursday, January 9, 202511:36 AM(View: 19107)
Tháng 5 năm 1990, chúng tôi sang Quận Cam, nhà văn Mai Thảo dẫn đến thăm và giới thiệu với một họa sĩ, mà chúng tôi chưa quen: Khánh Trường. Mai Thảo cho biết Khánh Trường dự định ra một tập san văn học, đăng những tác phẩm ở trong và ngoài nước, và cần được giúp đỡ. Đó chính là Mai Thảo: ông ghét cộng sản, vì cái chết của Vũ Hoàng Chương và bản thân ông bị truy lùng trong gần hai năm, trước khi vượt biển, thoát. Ông không đọc tác phẩm trong nước, nhưng «đứa nào» làm chuyện hòa giải, giao lưu, ông ủng hộ; «đứa nào» bị đánh, ông tận tình bênh vực và giúp đỡ. Ở Mai Thảo là hai chữ Tự do đúng nghiã mà nhiều người Việt không hiểu, dù họ sang Mỹ để tìm «tự do». Bên cạnh Mai Thảo, Nhật Tiến cũng công khai ủng hộ Khánh Trường. Lập trường giao lưu của Nhật Tiến ai cũng rõ. Đó là hai nhà văn đàn anh, đứng đằng sau Hợp Lưu, trụ đỡ Khánh Trường trong những ngày sóng gió. Phía chống Hợp Lưu, cũng không thiếu những cây đa cây đề. Mai Thảo sang Paris cùng với Khánh Trường, để ra mắt Hợp Lưu số 1.
Monday, September 23, 20241:01 AM(View: 24438)
Lời giới thiệu: Thủ tướng Hun Manet với hậu thuẫn của cha ông, người đã đề xướng ra công trình kênh Funan Techo như một Đại vận hà của dân tộc Khmer, đồng thời là di sản triều đại của cha con họ. Về địa chính trị, tuyến đường thủy vận này cho họ phương tiện chuyển hàng hóa từ Phnom Penh ra biển, không còn phải theo tuyến đi trên Sông Tiền hay Sông Hậu, sẽ giải thoát họ khỏi sự phụ thuộc vào Việt Nam. Cha con Hun đã được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng khi đặt cho dự án này dưới tên Funan, khơi động lên tinh thần dân tộc bài Việt, và soi sáng lại lịch sử Đế chế Funan của họ. Theo giới chuyên gia quốc tế, và phân tích trên Viet Ecology Foundation, lợi ích kinh tế của công trình này chắc chắn không khả thi, tác động nặng trên môi sinh cho Cam Bốt và xuyên biên giới xuống Việt Nam nhưng đã bị chính quyền Phnom Penh giảm thiểu hóa và gạt bỏ. Phnom Penh không giải trình toàn bộ chi phí và việc di dời đền bù cho người dân họ như thế nào. Họ cung cấp thông tin bất nhất và sai lệch ...
Thursday, September 12, 20246:15 PM(View: 29132)
Bài thơ GIÓ đã được thi sĩ Đức gốc Việt Nguyễn Chí Trung trình bày từ năm 2004 tại nhiều Đại Hội Thi Ca Quốc Tế (International Poetry Festival) trong các buổi đọc Thơ trước công chúng. Bài thơ được viết bằng tiếng Đức vào mùa Thu năm 1993 và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng cũng như xuất bản ở nhiều quốc gia Âu châu (Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha …).
Saturday, August 31, 20249:48 PM(View: 33034)
-Phim “Mai” chiếu từ dịp Tết, tôi được nghe đủ lời khen chê - khen nhiều hơn chê, và được cô con gái sinh viên năm thứ hai sau khi rủ bạn xem về bảo: “Phim xúc động ạ. Nhưng ồn ào quá, khiến con đau đầu”. / "Cu li không bao giờ khóc" của đạo diễn Phạm Ngọc Lân, biên kịch Nghiêm Quỳnh Trang đã thắng giải "Phim đầu tay xuất sắc" LHP Berlin vào sáng 25/2, và hiện tham dự giải cánh Diều Vàng 2024 của Hội Điện ảnh VN./ “Đóa hoa mong manh” đương tham dự Giải Cánh Diều Vàng của Hội ĐAVN với tâm lý hồi hộp, mong đợi, có phần lo lắng cho bạn đồng nghiệp… / và có hai bộ phim gây ấn tượng mạnh nhất đối với tôi - một khán giả đang làm nghề - hai bộ phim mang “vị muối” đích thực của Đời có khả năng chạm vào đáy sâu cảm xúc của hàng triệu khán giả, đó là HAI MUỐI và SÁNG ĐÈN!