- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

KỲ ÁN NGUYỄN THỊ LỘ: SỰ THẬT VÀ THIÊN KIẾN.

22 Tháng Năm 20153:47 SA(Xem: 74617)

 

 

NguyenThiLo

Tượng Lễ Nghi Học Sĩ Nguyễn Thị Lộ

 

               Xung quanh câu chuyện Nguyễn Thị Lộ (NTL) và mối hoạ chu di của dòng họ Nguyễn Trãi quả đã không ít giấy mực bàn cãi, kể cả lý luận, nghiên cứu cho đến văn , thơ, kịch... đã có đến hàng trăm bài viết. Nhìn chung các loại ý kiến chưa thật thống nhất  và tính thuyết phục chưa thật cao (1). Chung qui có 3 loại ý kiến khi nhận định về NTL: loại  xem Thị là kẻ có tội trong âm mưu giết vua ,“tiến độc dược” hại vua . Loại  xem Thị là kẻ trong sáng vô tội, bị người vu oan giáng hoạ cần xoá cái án cũ khôi phục lại thanh danh. Loại nữa xem Thị là nạn nhân của một triều đại có nhiều bè phái hãm hại lẫn nhau , của thói tà dâm vua chúa và sự nhẹ dạ phù hoa đàn bà ( quan điểm này chủ yếu thể hiện qua một số tác phẩm văn thơ có tính hư cấu của một số trí thức - nghệ sĩ).

               Gần đây người ta có xào xới lại đưa ra những lý giải khiên cưỡng quá xa sự thật không  thoả mãn người đọc. Chẳng hạn cho rằng vụ án xẩy ra năm Thị Lô ngoài 50 tuổi, hay vụ án do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh chủ mưu sẵn để hại vua chồng nhằm đem ngôi cho con trai , nhân có Thị Lộ theo đi thì ghép tội luôn vào để hại Nguyễn Trãi luôn thể…

                Chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều về nghi án này với quan điểm không để tình cảm, thiên kiến lấn át sự thật.

          1- Về tuổi tác Nguyễn Thị Lộ:  NTL gốc gác bình dân, gia đình đi buôn chiếu (2) từ Thái Bình lên Hà nội. Nguồn gốc gia sự này là có thực vì hiện nay ở thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vẫn còn nhà thờ của tộc họ Nguvễn Thị Lộ và nghề chiếu được xem là nghề truyền thống của làng. NTL kiến thức chủ yếu là tự học chứ không qua trường ốc đỗ đạt gì . Gặp , quen rồi  nhờ nhan sắc và tài ứng đối văn thơ, được Nguyễn Trãi đưa về làm thiếp lúc ở Đông quan. Sau này đựợc vua sủng ái  cho vào giữ chức Lễ nghi nữ học sĩ - một chức quan dạy cho cung nữ trong cung cấm , đây là chức nữ quan đầu tiên vua Lê giao cho một nữ nhân, trước thường giao thái giám .

         NTL gặp Nguyễn Trãi ở Tây hồ năm 16 tuổi, lúc Nguyễn đang ở Đông quan. Có hai loại ý kiến:

-            Một số cho rằng Nguvễn Trãi lấy NTL sau khi thắng giặc Minh, nếu vậy thì vụ án xẩy ra năm Thị Lộ khoảng 28 tuổi, Lê Thái Tông 20 tuổi ( lấy khi 16 tuổi sau kháng Minh thắng lợi 1430 , sống với Nguyễn khoảng trên dưới mười năm, lĩnh án năm 1442, như vậy NTL lúc xẩy ra vụ án Lệ chi nàng 28 tuổi ( xem thêm Hồn Việt sổ 79 tháng 3-2014 - Hội thảo Lịch sử nhìn lại dưới góc độ y khoa.)

-                Loại thứ hai cho là , NTL gặp Nguyễn Trãi trước khi vào Lam Sơn giúp Lê Lợi. Như vậy sau 10 năm kháng chiến, thêm mười mấy năm hoà bình, Nguyễn về hưu ở Côn Sơn, đến lúc này Nguyễn Trãi khoảng trên 60 còn NTL khoảng 40 tuổi. Nếu cho rằng lúc này Thị Lộ trên 50 tuổi thì Nguyễn Trãi phải trên 70 tuổi, không đúng với lịch sử .

                2- Về cái chết của Lê Thái Tông:  Có ba nghi án:

   +   Cho rằng NTL tiến độc giết vua, kết tội này do triều đình đưa ra một cách võ đoán chỉ bởi đêm vua mất chỉ có Thị Lộ hầu bên cạnh. Không nói rõ lý do vì sao Thị tiến độc dược , thuộc phe đảng nào?  Người có suy nghĩ một chút là thấy vô lý vì  vua Thái Tôn  là người đã đưa Thị Lộ vào cung, Thị mang ơn, lại nữa hàng ngày Thị và vua như sách viết , thường vui đùa thân tình , có tình cảm mật thiết, nỡ nào một người như vậy có thể giết vua! Trong thời gian nàng về Côn Sơn bên cạnh Nguyễn Trãi làm thế nào  có được liên lạc với người khác để nhận kế hoạch giết vua …? Nguyễn Trãi thì một công thần luôn đội ân sũng nhà vua.

 

+  Gần đây có ý kiến cho rằng:  Để thoát tội lỗi, để giành địa vị cho con, để diệt trừ các đối thủ đe dọa   ngôi vị ( trong đó có vợ chồng Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ), Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh lập kế giết vua, và đó là dịp vua về Côn Sơn, trú đêm ở Vườn Vãi. Một mũi tên đạt hai đích.

 “...Thuyền rồng của vua trên đường từ Chí Linh về Thăng long có bà Lộ đi nhờ theo. Thực hiện âm mưu, bọn thủ túc thân tín của bà ( Nguyễn Thị Anh)  đã hạ độc thủ đầu độc nhà vua rồi vu oan cho cho bà Lộ, ông Trãi giết vua”.(3)

         Nghi án này được đưa ra nhằm chiêu tuyết cho Nguyễn Thị Lộ, đổ tội cho hoàng hậu.Từ trước đến nay người ta chỉ mới dám nói vua bị cảm mất đột ngột, bè lũ chống đối trong triều đứng đầu là hoàng hậu Nguyễn Thị Anh lợi dụng vu oan cho vợ chồng - Nguyễn Trãi giết vua, nay tác giả mạnh dạn cho rằng NTA chủ mưu giết vua chồng. Có thể vậy không? Thứ nhất Thị Anh đang là hoàng hậu được vua sủng ái, con là hoàng tử Bang Cơ dẫu có lời này tiếng nọ nhưng đang được sắc phong Thái tử. Hoàn cảnh ấy có thể xui hoàng hậu ra tay hạ thủ nhà vua không?Khi vua ở bên Thị Lộ suốt đêm kẻ gian tiến độc vào rượu hay thức ăn khi nào? Hoàng hậu có đủ can đảm và tàn nhẫn thủ mưu giết vua chồng ? Phải chăng đây là hoàng hậu độc nhất trong Sử Việt làm cái chuyện tầy đình đó?

            + Đa phần nghiêng về nghi án thứ ba. Nói về cái chết của ông vua này,  sách “ Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “ Tháng 8, ngày mồng 4,vua về đến vườn Lệ Chi huyện Gia Định, bỗng bị bện ác rồi băng. Trước đây, vua thích vợ thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay gọi vào cung cho làm lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông về đến vườn Lệ Chi xã Đại Lãi trên sông Thiên Đức vua thức suốt đêm với nguyễn Thị Lộ rồi băng. Các quan bí mật đưa thi hài vua về, ngày 6 tháng 8 mới đến kinh sư, nửa đêm đem vào cung rồi mới phát tang. Mọi người đều nói Nguyễn Thị Lộ giết vua. Ngày 12 các đại thần là Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ nhận di mệnh cùng với  bọn Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng tử Bang Cơ lên ngôi. Bấy giờ mới lên 2 tuổi. Lấy sang năm làm Thái Hòa năm thứ 1.”(4)

          Sau này các tác giả sách “ Các triều đại VIỆT NAM”  cũng ghi:

     “...Một trong những sự kiện bi thảm nhất dưới triều Lê là cái chết đột ngột của vua Thái Tông và kẻo theo nó là vụ án oan nghiệt giáng xuống Nguyễn Trãi và gia đinh ông vào tháng 8 năm Nhâm Tuẩt (1442) mà nguời đời vẫn gọi là vụ án Lệ Chi Viên (vụ án vuờn vãi). Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuât (1442) vua đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 vua về đến Lệ Chi Viên (huộc huyện Gia Định ,nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, môt người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, thường được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà. Lúc này ông mới 20 tuổi. …Nguyễn Trãi và gia đình bị án chu di tam tộc. (5)

         Nhiều ý kiến dựa vào  hai sách này cho rằng : lúc này Lê Thái Tông 20 tuổi (1423-1442),  NTL 40 tuối (thay vì 28 tuổi ) như vậy làm gì có chuyện quan hệ này nọ (!?). Lập luận này khó đứng vững , nếu ta không bị những quan niệm lễ giáo bảo thủ chi phối. Xin được bàn bạc một tý theo cách nhìn “y học”. Bình thường tuổi trên dưới 40 là tuổi người phụ nữ viên mãn về nhan sắc và xuân tình . Đó là về NTL, còn Thái Tông thì khỏi nói, mới 20 tuổi nhưng lúc này đã bốn vợ ( không kể cung nữ ), như vậy ông vua này không phải không ưa thích sắc dục - một việc bình thường cùa vua chúa. Đó là chưa kể, theo Đinh Công Vĩ, làng Tân Lễ quê  NTL con gái đẹp và trẻ lâu có tiếng, một người trong họ Nguyễn, hậu duệ của NTL, tương truyền 80 tuổi còn xuân sắc hơn gái 40 . NTL sinh thời lại là một người có nhan sắc “đổ quán xiêu đình” , với cái tuổi 40 của nàng trong những thời điểm vời xa nơi cung cấm, không khỏi làm cho nhà vua nảy sinh dục tâm. Như vậy ta thấy nếu quan hệ giữa vua Lê Thái Tông và NTL có xẩv ra thì không có gì là phi lý. Ngô Sĩ Liên trong  Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) ghi rằng: Vua thức suổt đêm với Nguyên Thị Lộ rồi băng. Cứ khách quan mà suy xét ta sẽ hiểu được thôi. Dân gian hằng bao năm nay xét đoán việc này giản đơn hơn chúng ta nhiều ! Đại đức Thích Đức Thiện thì nói rõ “ vua bị phạm phòng” (6).

              Về vấn đề nàỵ, trong bối cảnh hiện đại nhìn lại ,bỏ đi những yếu tố mờ ám hoặc thiên kiến, nhìn thẳng vào sự thật, có thể tham khảo thêm ý kiến một số nhà khoa học trong cuộc Hội thảo Lịch sử nhìn lại duởi góc độ y khoa – Tp HCM  Xuân 2014 (7) , các BS Bùi Minh Đức, GS Mai Quốc Liên, BS Nguyễn Văn Mười, Tiến sĩ vật lý Võ Văn Nhơn, các ông đều thống nhất, cho rằng :

-   NTL 28 tuổi ( hoặc 40, vẫn ở tuổi xuân tình ), Lê Thái Tông 20 tuổi có sự kích thích tình dục, ông ta làm việc quá sức để làm vừa lòng người đàn bà 28 tuổi thành ra tim đập yếu và bị đứng ( BMĐ).

-  Đêm đó Thị Lộ hầu vua cho đến sáng.  Lúc này Thị Lộ khoảng 28 tuổi, Lê Thái Tông 20 tuổi thì có chuyện đó dẫn đến kết cục như thế, đứng về tình dục học, tâm lý học tôi cho là bs Bùi Minh Đức rất có lý (MQL) .

           Về phương diện tâm linh chúng ta có thể tham khảo thêm chi tiết sau đây mà tác giả “Đại Việt sử ký toàn thư”  có kể lại: Ngày 27 vua đi tuần, về miền Đông duyệt quân ở thành Chí Linh Nguyễn Trãi đón vua  ngự chùa Côn Sơn, ở hương của Nguyễn Trãi. Vua đi thuyền vào sông Thiên Đức qua mộ Bạch Sư ở Cầu Bông xã Đại Toán thuyền không đi lên được. Hỏi người già, “phải dùng nghé non để tế thần , bấy giờ thuyền mới đi được”(sđd tr578). Hình như có một hiểm họa cho nhà vua được báo trước !

          3. Về mối quan hệ giữa Thị Lộ, Lê Thái Tông

            Về quan hệ nhà vua và nữ học sĩ, Trúc Khê tác giả cuốn “Nguyễn Trãi” viết: "Thị Lộ đã được gần vua khá lâu trước cuộc duyệt binh ở Chí Linh. Nàng được vời vào cung giữ việc dạy các cung nhân với chức Lê nghi học sĩ . Rồi nhà vua đã say mê nàng. Nguyễn Trãi tuy biết việc này nhưng chỉ đành bấm bụng và Thị Lộ cũng không thể có một thái độ nào khác là thụ động mối tình vương giả ấy. Nàng được lệnh về Côn Sơn để cùng Nguyễn Trãi lo việc đón tiếp sau đó nàng theo giá hoàn cung với nhà vua cùng một lúc.”

Trúc Khê khi bình xét quan hệ vua , Thị Lộ và Nguyễn Trãi, đã hạ một câu  …Rồi nhà vua đã say mê nàng. Nguyễn Trãi tuy biết việc này nhưng chỉ đành bấm bụng và Thị Lộ cũng không thể có một thái độ nào khác là thụ động mối tình vương giả ấy, không phải vô cớ. Tâm sự này Nguyễn Trãi  đã từng thổ lộ trong một bài thơ gửi cho người thiếp trong những ngày xa cách. Có lẽ lúc này Nguyễn ở Côn Sơn còn Thị Lộ đang ở kinh:

Loàn đơn ướm hỏi  khách lầu hồng

Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngoài ấy ví phỏng còn áo lẻ

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng  (8)

Những câu thơ trách móc xa xôi người thiếp và bày tỏ nỗi nhớ nhưng băn khoăn của mình, khi ông bảo ngoài ấy thì “ đầm ấm” còn mình “lạnh lùng”, lại bảo nàng “cả lòng”  cho mượn “áo lẻ” ( thừa) “ đắp lấy hơi cùng”…

            Việc NTL được giữ chức LNHS tháng ngày quanh quẩn trong cung chắc gì thoát khỏi sự để ý, “tầm ngắm” của nhà vua ! Rồi việc cho NTL đi theo xa giá nghỉ lại ở Lệ chi viên cạnh vua suốt đêm không phải vô tình ? Nói về quan hệ Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ , sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ( ĐVSKTT) có chép:

...Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người rất đẹp văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm Lễ nghi nữ học sĩ . Ngày đêm hầu bên cạnh. [...] Trước là Nguyễn Thị Lộ ra vào cung cấm, Thái Tôn ( Tông) trông thấy thích lắm , cùng với Thị Lộ  cợt nhả , đến đây đi tuần về miền Đông, đến chơi nhà Trãi rồi bị bệnh ác mà chết, cho nên Trãi bị tội ấy... (sđd , trang 578)

     Cũng sách này, đánh giá chung về vua Lê Thái Tôn “ Cũng là vua giỏi thủ thành. Song, ham mê tửu sắc, đến nỗi thình lình băng ở ngoài, là tự mình làm vậy” ( sđd,  tr 538)

Dầu to gan đển mấy các sử gia phong kiến chỉ có thể làm lơ, nói bớt chứ tuyệt nhiên không thể dám nói xấu thêm cho vua chúa! Nhất là tác giả Ngô Sĩ Liên là người đồng thời, làm quan suốt ba triều vua Lê.

       Trần Thị Trường trong truyện ngắn  Ngày cuối cùng của dâm phụ (9) đã để cho NTL bộc bạch tâm trạng:...Dù có thế nào đi nữa thì thiếp vẫn là đàn bà nông nổi. Thiếp vẫn lộ mình ra để lọt vào tầm ngắm của Nguyên Long. Thiếp vẫn ham hổ chức tước.

...Song song với tình yêu ấy ( với Nguyễn Trãi) thiếp cũng với  hoàng thượng. Hoàng thượng không chỉ là hoàng thượng còn cả ánh hào quang bao quanh. Thiếp cũng vẫn chỉ là một người đàn bà. Thiếp yêu cả hai trong một. ( T.G gạch chân )

Điệp khúc “Thiếp vẫn là người đàn bà” mà tác giả để cho NTL nhắc đi nhắc lại như hàm ý nói rõ sự bé nhỏ mong manh của nàng trước uy quyền nhà vua, nhưng cũng gián tiếp cho chúng ta thấy nàng không phải là kẻ ngoài cuộc. Đáng thương và đáng trách cũng ở chỗ đó! Chính sự nông nỗi và sự phù phiếm của nàng đã góp tay cho tội lỗi đang mơ hồ bỗng trở thành hiện thực. (Đây là một tác phẩm có tính hư cấu, chúng ta không lấy các chi tiêt truyện thay cho sự thật lịch sử nhưng ta có thể qua tâm lý nhân vật được xây dựng để thấy cái nhìn, quan điểm của tác giả đối với lịch sử)

              4.Sự phán xét từ quá khứ: Đến đời Lê Thánh Tông ( Tư Thành ) con của hoàng hậu Ngọc Dao, vì ân nghĩa ngày trước Nguyễn Trãi và NTL từng giúp hai mẹ con thoát hiểm tránh sự truy sát của Chiêu Nghi hoàng hậu Nguyễn Thị Anh, sau này khi đã ở trên ngôi vua, câu chuyện đã được thời gian làm sáng rõ trắng đen phân biệt, nhà vua khôi phục quan danh cho Nguyễn Trãi. Câu nói “ Ưc trai tâm thượng quang khuê tảo ” là sự đánh giá sáng suốt  tâm hồn, công lao Nguyễn Trãi. Nhưng còn Thị Lộ thì sao? Tại sao Lê Thánh Tông không minh oan cho Nguyễn Thị Lộ - người có công không nhỏ với mẹ con vua ? Việc liên lạc cứu mẹ con Ngọc Dao, Tư Thành, phải nói công Thị Lộ có khi còn lớn hơn Nguyễn Trãi !

             Ở đây cũng cần đối chiếu cách đánh giá phân biệt của các vị vua sau Thái Tông như Nhân Tông, Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi và Thị Lộ. Tât cả đều đánh giá cao tấm lòng trong sáng, đạo đức thanh cao và công lao to lớn của Nguyễn Trãi, rất gần với cách đánh giá của nhiều người dân bây giờ. Lê Nhân Tông (1443-1459) đã khẳng định lại công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi: "Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thải Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sữa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng" (10) . Năm 1464, sau khi chính sự đã ổn định vua Lê Thánh Tông (1460-1497) chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi, ca ngợi “Tấm lòng Ưc Trai sáng như sao Khuê”, truy tặng tước Tán trù bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan, ngoài ra còn ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên đối với Nguyễn Thị Lộ cả hai đều không một lời minh oan, mặc dầu như trên đã nói NTL cùng Nguyễn Trãi từng là ân nhân cùa mẹ con Lê Thánh Tông . Án NTL vẫn không hề được xóa bỏ. Điều đó gián tiếp nói rằng , mẹ con vua Lê Thánh Tông coi chuyện dan díu giữa Lê Thái Tông và Thị Lộ là có thật, để xẩy ra cái chết của vua Thái Tông không phải NTL hoàn toàn đứng ngoài. Cũng cần nói thêm tuy minh oan cho Nguyễn Trãi về đạo đức và công trạng nhưng chỉ truy tặng tước bá (Tán Trù bá), thấp hơn tước hầu vốn được Lê Thái Tổ ban phong trước đó ( Quan Phục hầu ). Như vậy vẫn xem Nguyễn Trãi có phần “chịu trách nhiệm” về mối quan hệ người thiếp với nhà vua ! Điều này khớp với quan điểm của các nhà viết sử chính thống. Chính sử triều Lê chép kết tội Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi phải liên luỵ,  kèm theo Lời bàn : Nữ sắc làm hại người ta quá lắm. Thị Lộ chỉ là một nguời đàn bà thôi, Thái Tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?" (Đại Việt sử kỷ toàn thư - sđd, tr 578).

Như vậy rõ ràng cả Nhân Tông, cả Thánh Tông, cả các sử gia đều xem có quan hệ giữa Lê Thái Tông và Thị Lộ và ngầm xem vì sự dan díu này mà vua băng hà, dù bị động hay chủ động Thị Lộ có phần trách nhiêm. Còn Nguyễn Trãi là một nhân cách, một đạo đức lớn, trong sạch tột cùng, nhưng trong con mắt nhìn cùa lễ giáo phong kiến Phương Đông cũng không thể hoàn toàn vô can !

             

              5- Sự minh xét hôm nay:   GS Phan Huy Lê trong một bài viết của mình có nhận xét:

 “ Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột cùa vua Lê Thải Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liểu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá it ỏi lai bị chính sử che đậy một cách có dụng ý thì quả thật khó hi vong tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gịan và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử hoc, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoả... lich sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những  cống hiến, những giá tri đích thực của ông trong lịch sử cứu nước  và  dựng nứớc trong lịch sử văn hoá của dân tộc. ( 11)

Trên cương vị người đứng đầu ngành sử học nước nhà, với sự cẩn trọng cần thiết, GS nhận định như vậy là hợp lý, đặc biệt chân đung lịch sử Nguyễn Trãi. Nhưng về phần “nữ sĩ tài hoa NTL”, chúng tôi thiển nghĩ, trên phương diện tội nhân thì có thể bị vu oan nhưng về phía con người thì nàng quả thật khó mà xem là băng tuyết. Với những dữ liệu trên, bây giờ chúng ta suy xét lại vụ án NTL chắc đễ dàng hơn .Trước hết “cứ gọi con mèo là con mèo” như một câu ngạn ngữ , đừng né tránh sự thật. Rõ ràng Thị Lộ không thể xem là thủ phạm “giết” vua, nhưng cũng không thể là một nhân cách hoàn toàn trong sáng . Chỉ có thể xem sự nhẹ dạ, nông nổi, phút yếu lòng trước quyền uy thiên tử của nàng đã vô tình gây nên một kết cục bi thảm, và cái kết cục ngoài ý muốn này đã bị kẻ thù với những toan tính mưu đồ chính trị khai thác, lợi dụng . Bởi vậy việc bênh vực, đề cao Nguyễn Thị Lộ quá mức bình thường , thậm chí suy tôn là “danh nhân văn hoá”, quả thật là chưa công bằng với lịch sử. Nếu đem so sánh nàng với Huyền Trân công chúa, kẻ đã sang Chiêm kết hôn cùng Chế Mân để đem về hai châu Ô, Lý cho Nhà Trần và cao hơn là mối hoà hiều hai dân tộc, thì NTL khó sánh bằng, thế nhưng có lúc quá đề cao NTL, người  ta đã “lên án” Huyền Trân !

              6- Về phương pháp luận sử học: Vụ án NTL xẩy ra trong thời kỳ rối ren của lịch sử: nơi cung cấm các thế lực hoàng tộc rắp ranh tiếm đoạt ngôi vị, chốn triều nghi thì quan lại kết bè kéo đảng tranh giành quyền uy, trong gia tộc Nguyễn Trãi thì chìa lìa xa cách chồng vợ, Nguyễn Trãi cáo quan tâm sự đầy ẩn ức. Cái chết của vua bị bưng bít hoàn toàn, án tru đi khiến không ai dàm bàn bạc lưu trữ thứ gì liên quan...Sử ký thì chép ghi lập lờ. Đời sau chủ yếu là phỏng đoán suy xét, nhiều khen chê theo những động cơ khác biệt.

Quả thật đây là một vụ kỳ án, đầy éo le bi đát, không phải chỉ trong nước ta , mà khắp bốn cõi cũng khó gặp. Tính éo le , bi đát của nó được đẩy lên cao độ vì mối quan hệ của ba nhân vật quá xuất chúng , một vị vua trẻ tài hoa , một kỳ nữ quốc sắc thiên hương và một danh nhân tài cao đức trọng. Kết cục quá bi thảm không chỉ vì cái xã hội nhiễu  nhương đầy những gian tham mưu hại của bọn gian thần như bấy nay ta hiểu, mà còn vì sai phạm của con người dẫu họ là ai nhưng trong phút giây sa ngã hoặc vì nhu nhược trước cám dỗ trần tục mà đưa đến suy vong! Dẫu có là nạn nhân chăng nữa con người cũng phần nào chịu trách nhiệm trước số phận của mình.

          Một thời kỳ vì những thiên kiến chính trị, hoặc vì thiếu những dữ liệu chân thật, người ta đã đánh giá một số hiện tượng lịch sử có phần không thật khách quan. Để bảo vệ kỷ cương phong kiến chính thống, cũng như với động cơ chính trị mờ ám đã lên án NTL, ngược lại để cổ suý cho những kẻ bị áp bức lên án giai cấp thống trị, người ta lại bênh vực NTL thái quá . Cái vòng luẩn quẩn bao nhiêu năm, phỏng đoán chồng lên phỏng đoán! Ngày nay các nhà nghiên cứu văn hóa có một cách nhìn mới trên quan điểm khoa học mong phục dựng lại lịch sử như nó vốn có. Tuy nhiên một số vẫn bị chi phối bởi những quan  niệm cũ muốn che đi cái nét bình thường thậm chí “éo le” ở những nhân vật lịch sử, kể cả những người có công trạng, chỉ muốn người anh hùng, danh nhân là toàn bích, không chỉ họ mà cả những người liên quan cũng vậy. Trong sự phát triển của tư duy dân chủ - khoa học người ta đánh giá lại Gia Long, bình xét lại Hồ Quý Ly, Phan Thanh Giản... và ngay cả quan hệ Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ, nhiều nhà khoa học, nhả văn , nhà thơ , đã thông qua các luận cứ khoa học thể hiện cái nhìn khách quan của mình đối với lịch sử . Họ trả NTL về với cái bản diện chân thật cuả nàng, người phụ nữ tài hoa, mệnh bạc, vừa cao thượng vừa yếu đuối và cũng nhẹ dạ cả tin, đôi khi bị ánh sáng phù hoa lừa mị! Còn Nguyễn Trãi, nếu quả thật có nỗi đau NTL, thì ông không vì thế mà nhỏ đi, trái lại càng lớn hơn trong tâm khảm nhân dân ( trong lịch sử không ít vĩ nhân đều có những vấn đề đa đoan về gia đình) .

      Nhân câu chuyện NTL, chúng ta nhớ lại lời khuyên của giáo sư Hà Văn Tấn về phương pháp nghiên cứu lịch sử: “...Một nền sử học tự biểu hiện là Mácxít chân chính, chẳng những phải đặt cho mình nhiệm vụ khám phá chân lý của lịch sử mà còn phải tỏ rõ khả năng đạt được sự thật khách quan”(12). Bấy lâu, nhất là sử học trước ngày thống nhất , quá bị chi phối bởi chính trị, trở thành cực đoan , thiên kiến , nhiều quan niệm đều cố gắng kéo chân lý lịch sử về phía mình bất chấp “ sự thật khách quan”, nhưng thực là chân lý có giá trị phải được bảo lãnh bằng sự thật khách quan như GS Hà lưu ý, nếu không theo thời gian sẽ chứng tỏ là một ngụy tạo, một giả chân lý ./.

YẾN NHI

-----------

Ghi chú:

(1) Hội thảo về Nguyễn Thị Lộ tổ chức ở Hà Nôi 03-2003                                                    

 (2) Theo Đinh Công Vĩ - Tân Lễ quê gốc LNNHS Nguyễn Thị Lộ - Báo Văn nghệ 9/2003

(3)  Nguyễn Công Lý – Trở lại vụ án Lệ Chi viên –Tạp chí Xưa  Nay – số 448, thang 6, 2014, tr14).

 (4)  Ngô Sĩ Liên - Đại Việt sử ký toàn thư – NXB Thời Đại- Hà Nội 2013 - tr578

     ( 5)   Quỳnh Cư - Đổ Đức Hùng - Các Triều đại VN - NXB Thanh Niên, Hà Nội 2001. Trang 179.

 (6) Thích Đức Thiện - Những điều cần đính chính và xác minh về NTL & NT - Báo Văn Nghê sô 27/2003

 (7) Theo Hồn Việt số 79 - tháng 3 - 2014

 ( 8)  Nguyễn Trãi toàn tập - Thơ Tiếc cảnh, Bài X, NXB Khoa Học Xã Hội Hà Nội, 1976, tr464

             (9) Trần Thị Trường - Ngày cuối cùng cùa dâm phụ - Báo VN số 24/2003

(10) Nguyễn Trãi toàn tập, sách đã dẫn, tr. 246).

(11)   Tạp chí  Nhịp sổng - 2003

(12)    Hà Văn Tấn - Lịch sử sự thật sử học - Tạp chí Xưa  Nay - số 445, tháng 3/2014

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 6988)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 7371)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 7342)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 9927)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 9913)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 9981)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 9883)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 202610:12 CH(Xem: 11687)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 20252:20 SA(Xem: 9484)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 10216)
Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.