- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI

19 Tháng Mười 202610:24 CH(Xem: 906)




Phat Giáo

CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO THỜI HIỆN ĐẠI

Tác giả : Trần Kiêm Đoàn

 






Một trường hợp tham khảo (Case study).



Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?

Tôi xin nhận tấm lòng của đạo hữu và xem hai chữ “trưởng lão” như một lời nhắc nhở. Trong Phật giáo, tuổi tác có thể làm nên bậc trưởng thượng, nhưng đạo hạnh, công phu tu học và những đóng góp cho đạo pháp mới làm nên uy đức của một bậc trưởng lão. Là một Phật tử già 81 tuổi, đã về hưu và còn đang tiếp tục học Phật như tôi, được bạn đạo thương gọi như thế là một niềm vui, nhưng cũng khiến mình phải dè dặt hơn mỗi khi phát biểu.

Nhân lời mời góp ý về đề tài “Chấn hưng Phật giáo thời hiện đại”, một đề tài quá to lớn và nhiêu khê để gói gọn trong những đề tài tham luận với một giới hạn nào đó của tài liệu và hội thảo. Là một Phật tử về già sống xa xứ, tôi chỉ muốn được “cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương” đơn giản mà sâu lắng như “cúi đầu nhớ mạ”!

Nhưng đã được hỏi thì phải thưa, nên tôi chỉ muốn chia sẻ đôi điều từ những gì mình đã được học, được thấy và được trải nghiệm trong một giới hạn khiêm tốn nhất. Đặc biệt, sáng nay có duyên lành được dự cuộc cúng dường trai tăng với sự tham dự của quý ni sư Thiền phái Trúc Lâm tại Elk Grove, Sacramento. Đạo tình khởi duyên đã gợi lên trong tôi nhiều suy nghĩ về sự tiếp nối của Phật giáo Việt Nam trên đất Mỹ.

Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội.

Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới.

Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Thiền phái Trúc Lâm gắn liền với Phật hoàng Trần Nhân Tông và hai vị Tổ kế tiếp là Pháp Loa, Huyền Quang. Trải qua nhiều thế kỷ thăng trầm, di sản thiền học ấy được Hòa thượng Thanh Từ nghiên cứu, khôi phục và phát triển thành một hệ thống tu học có tổ chức, có chương trình đào tạo và có sự tiếp nối trong lẫn ngoài nước.

Sinh năm 1924, đến năm 2026, Hòa thượng đã bước sang tuổi 103 theo cách tính tuổi truyền thống, một tuổi thọ hiếm có. Người Phật tử Việt Nam, đặc biệt là môn đồ thuộc Thiền phái Trúc Lâm, vẫn cung kính hướng về Ôn như một bóng cây đại thụ giữa rừng thiền.

Tôi dùng tiếng “Ôn” theo cách xưng hô thân kính của người Huế đối với các bậc cao tăng trưởng thượng. Tiếng gọi ấy vừa có sự tôn kính, vừa mang một tình cảm gần gũi khó diễn đạt hết bằng những danh xưng trang trọng.

Nhưng điều làm nên uy đức của Ôn Thanh Từ không phải chỉ là tuổi thọ ngoài một trăm năm, mà chính là cả một đời bền bỉ tu hành, nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo tăng ni.

Điều đáng quý nơi Hòa thượng là khả năng biến một chí nguyện thành công việc lâu dài. Ôn không chỉ giảng về thiền mà còn xây dựng những môi trường để người học thực hành thiền. Không chỉ nghiên cứu kinh luận mà còn chuyển tải giáo lý bằng tiếng Việt gần gũi, sáng rõ, giúp người học tiếp cận đạo Phật qua những vấn đề thiết thực của đời sống.

Từ Thiền viện Chơn Không tại Vũng Tàu năm 1970, Thường Chiếu tại Đồng Nai năm 1974, đến Trúc Lâm Phụng Hoàng tại Đà Lạt năm 1993, cùng nhiều thiền viện khác, một hệ thống tu học dần dần hình thành và phát triển.

Điều đáng chú ý là các thiền viện ấy không chỉ là những cơ sở thờ tự hay những công trình kiến trúc tôn giáo. Chúng còn là môi trường giáo dục, đào tạo và thực hành, nơi các thế hệ tăng ni được chuẩn bị để tiếp tục đảm đương Phật sự.

Ở hải ngoại, Thiền viện Đại Đăng tại Bonsall, California, được Hòa thượng sang làm lễ khánh thành năm 2001.

Những cơ sở như Đạo Viên tại Quebec, Canada, và Diệu Nhân tại vùng Sacramento, California, cũng góp phần đưa sinh hoạt thiền học Việt Nam đến với cộng đồng Phật tử xa quê.

Tôi nghĩ đây là một khía cạnh đáng được quan tâm khi bàn đến công cuộc chấn hưng Phật giáo thời hiện đại.

Một tôn giáo có thể xây dựng nhiều chùa viện, quy tụ đông đảo tín đồ, tổ chức những đại lễ trang nghiêm, nhưng sức sống lâu dài vẫn tùy thuộc vào phẩm chất tu học và khả năng đào tạo những thế hệ kế thừa.

Chùa có thể được xây dựng trong vài năm, nhưng một vị tăng hay ni có đủ giới hạnh, học vấn và năng lực hướng dẫn quần chúng phải được đào luyện qua nhiều năm tháng.

Trong thành quả chung của Thiền phái Trúc Lâm, tôi đặc biệt muốn nhắc đến những đóng góp của Ni giới.

Sáng nay, tại Elk Grove - Sacramento, tôi có dịp tiếp cận và vấn an chư Ni từ trong nước cũng như ngoài nước mà từ lâu tôi vẫn dành nhiều sự kính trọng; trong đó, quý ni sư Như Đức, Thuần Bạch và Thuần Tuệ là những hình ảnh tiêu biểu cho tầm học Phật của tôi qua ngôn giáo và thân giáo từ hàng xuất gia.

Ba vị có những sở trường và công việc khác nhau, nhưng cùng cho thấy một nét đẹp đáng quý của sự tiếp nối: người được đào tạo không chỉ trưởng thành trong đời sống tu học của chính mình mà còn trở thành người hướng dẫn, giáo dục và phục vụ những thế hệ đến sau.

Ni trưởng Thích nữ Như Đức, trụ trì Thiền viện Viên Chiếu, là một gương mặt tiêu biểu về năng lực lãnh đạo và giáo dục Ni chúng. Công việc điều hành một thiền viện, đào tạo người tu và tham gia giảng dạy tại nhiều đạo tràng đòi hỏi không chỉ kiến thức Phật học mà còn cần bản lĩnh, sự kiên nhẫn và khả năng tổ chức.

Tác phẩm Lược sử Ni giới Bắc tông Việt Nam của Ni trưởng còn cho thấy một sự quan tâm đáng quý đối với lịch sử và những đóng góp của các thế hệ Ni giới. Bởi lịch sử Phật giáo Việt Nam không chỉ được làm nên bởi những bậc cao tăng nổi tiếng mà còn có biết bao vị Ni trưởng, Ni sư âm thầm tu học, giáo dục và phục vụ đạo pháp.

Ni sư Thuần Bạch lại có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực biên soạn và dịch thuật Phật học. Những tác phẩm như Sống hiện tiền, Tu trong tịnh, tu trong động cùng các công trình chuyển dịch và biên khảo đã góp phần cung cấp tài liệu cho người học Phật.

Tôi đặc biệt quý trọng công việc âm thầm của những người dành nhiều năm tháng cho sách vở. Một bài thuyết pháp có thể làm người nghe xúc động trong một buổi giảng, nhưng một cuốn sách được biên soạn cẩn trọng có thể tiếp tục đối thoại với người đọc qua nhiều thế hệ.

Ni sư Thuần Tuệ, trụ trì thiền viện Diệu Nhân (Dieu Nhan Meditation Center) tại California, lại gây ấn tượng với tôi qua khả năng thuyết pháp sáng rõ, mạch lạc và gần gũi. Trong cách trình bày của Ni sư, tôi nhận ra sự chuẩn bị cẩn trọng của một nhà giáo truyền thống, biết dẫn dắt người nghe từ vấn đề căn bản đến những ý nghĩa sâu xa hơn.

Đặc biệt, khả năng sử dụng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh của Ni sư là một ưu điểm rất cần thiết trong môi trường Phật giáo hải ngoại. Công việc chuyển dịch kinh sách và tài liệu Phật học sang tiếng Anh, trong đó có Keys to Buddhism của Hòa thượng Thanh Từ, góp phần mở rộng cánh cửa để người đọc ngoài cộng đồng Việt Nam có thể tiếp cận truyền thống thiền học này.

Nhìn quý Ni sư trong một cuộc gặp gỡ với hàng Phật tử tuổi trẻ giữa vùng đất Sacramento, tôi chợt nghĩ đến con đường mà Phật giáo Việt Nam đã đi qua.

Từ những ngôi chùa làng quê, những trường Phật học ở Huế, Sài Gòn và các tỉnh thành Việt Nam, đạo Phật theo bước chân người Việt đến nhiều miền đất mới. Nhưng nếu chỉ mang theo hình thức lễ nghi, chùa chiền và những tập tục quen thuộc thì chưa đủ. Điều cần thiết hơn là mang theo tinh thần học hỏi, thực hành và khả năng thích ứng với đời sống của các thế hệ tương lai.

Tôi đã sống trên đất Mỹ hơn bốn mươi năm. Qua thời gian ấy, tôi nhận ra rằng sự tồn tại của một truyền thống văn hóa hay tôn giáo nơi xứ người không chỉ tùy thuộc vào lòng thương nhớ quê hương của thế hệ di dân đầu tiên.

Thế hệ ấy rồi sẽ già đi. Con cháu lớn lên trong một môi trường ngôn ngữ và văn hóa khác. Nếu giáo pháp không thể được truyền đạt bằng ngôn ngữ mà thế hệ trẻ hiểu được, bằng những phương pháp giáo dục thích hợp với đời sống của họ, thì sinh hoạt tôn giáo rất dễ thu hẹp dần trong phạm vi của những người cùng thế hệ.

Bởi vậy, việc đào tạo những vị tăng ni có khả năng sử dụng nhiều ngôn ngữ, hiểu biết văn hóa Đông Tây và có năng lực hướng dẫn tu học là một thành quả đáng được trân trọng.

Từ câu chuyện ấy, tôi lại nghĩ đến một thử thách mới đang xuất hiện trước Phật giáo Việt Nam: trí tuệ nhân tạo, hay Artificial Intelligence - AI.

Chỉ trong một thời gian ngắn, AI đã tạo nên những thay đổi đáng kể trong nhiều lĩnh vực sinh hoạt xã hội, kể cả tôn giáo.

Từ mùa Phật Đản, An Cư đến Vu Lan năm 2026, chúng ta có thể nhận thấy sự hiện diện ngày càng rõ rệt của AI trong báo chí Phật giáo, dịch thuật kinh sách, biên soạn bài giảng, minh họa giáo lý, tổ chức diễn đàn và truyền thông hoằng pháp.

Ngày nay, một người có thể dùng AI để tìm hiểu một thuật ngữ Phật học, đối chiếu các bản dịch kinh, chuẩn bị tài liệu thuyết trình, thậm chí tạo ra một bài pháp với ngôn ngữ trôi chảy và hình thức trình bày rất thuyết phục.

Nhưng ở đây lại xuất hiện một vấn đề căn bản.

AI có thể tổng hợp kiến thức về thiền, nhưng AI có thực sự hành thiền không? AI có thể giải thích về lòng từ bi, nhưng AI có kinh nghiệm sống của một người thực hành hạnh từ bi hay không? AI có thể trình bày giáo lý Tánh Không bằng hàng nghìn cách khác nhau, nhưng sự diễn đạt ấy không đồng nghĩa với trí tuệ chứng nghiệm của một hành giả.

Đó là những câu hỏi mà người học Phật thời hiện đại không thể xem nhẹ.

Theo tôi, điều đáng quan ngại không phải là sự xuất hiện của AI, mà là khả năng con người nhầm lẫn giữa phương tiện truyền đạt và nội dung tu chứng.

Phật giáo vốn có truyền thống khế lý và khế cơ. Khế lý là không xa rời những nguyên lý căn bản của giáo pháp; khế cơ là biết vận dụng phương pháp thích hợp với căn cơ, trình độ và hoàn cảnh của người tiếp nhận.

AI có thể trở thành một phương tiện hữu ích cho tinh thần khế cơ. Nhưng nếu thiếu sự hướng dẫn của trí tuệ và giới hạnh, phương tiện ấy cũng có thể đưa người học vào một thế giới thông tin phong phú mà thiếu khả năng phân biệt đúng sai, chân giả.

Một bài giảng được AI soạn thảo có thể rất hay về ngôn từ nhưng chưa chắc phản ánh kinh nghiệm tu học của người đứng giảng. Một bản dịch kinh có thể trôi chảy nhưng vẫn chứa những sai lệch về thuật ngữ và giáo nghĩa. Một hình ảnh hay giọng nói được tạo ra bằng công nghệ có thể gây xúc động mạnh nhưng không vì thế mà trở thành chứng cứ của sự thật.

Vì vậy, chấn hưng Phật giáo trong thời đại AI, theo tôi, không phải là quay lưng với công nghệ, cũng không phải chạy theo công nghệ bằng mọi giá.

Điều quan trọng là biết sử dụng phương tiện mới mà vẫn giữ được phẩm chất căn bản của người học đạo: giới hạnh, trí tuệ, lòng từ bi và tinh thần tự mình thực hành.

Từ góc nhìn ấy, công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm của Hòa thượng Thanh Từ là một kinh nghiệm đáng tham khảo.

Ở đó, việc xây dựng cơ sở đi cùng với đào tạo nhân sự. Việc nghiên cứu kinh luận đi cùng với thực hành. Việc mở rộng sinh hoạt Phật giáo không nhất thiết làm mất đi đời sống thanh tịnh của thiền môn.

Dĩ nhiên, bất cứ tổ chức nào có đông người tham gia cũng khó tránh khỏi những khác biệt về khả năng, phẩm chất và cách hành xử. Trong sinh hoạt tôn giáo cũng có khi vàng thau lẫn lộn. Nhưng qua thời gian tu học, thử thách và gạn lọc, vàng vẫn là vàng và thau vẫn là thau.

Điều đáng quan tâm là làm sao để chùa viện luôn là nơi mở rộng cửa đón người đến học đạo, thay vì dần dần trở thành những cơ sở khép kín, nặng về tổ chức, sở hữu hay quyền điều hành.

Một ngôi chùa có thể lớn về kiến trúc nhưng nhỏ về khả năng giáo hóa. Ngược lại, một đạo tràng khiêm tốn vẫn có thể tạo nên ảnh hưởng sâu xa nếu có những người thầy tận tụy và những người học trò thực sự trưởng thành.

Phật giáo Việt Nam ngày nay có nhiều truyền thống, tông phái, tổ chức và phương thức sinh hoạt khác nhau. Sự đa dạng ấy là một thực tế lịch sử, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề về sự hòa hợp, đào tạo nhân sự và định hướng hoằng pháp.

Tôi không nghĩ rằng chấn hưng có nghĩa là làm cho tất cả trở nên đồng nhất. Điều cần thiết hơn là tìm được những giá trị chung để cùng nhau phụng sự đạo pháp, trong khi vẫn tôn trọng những nét riêng của từng truyền thống tu học.

Nhìn lại hình ảnh Ôn Thanh Từ ở tuổi ngoài một trăm, cùng những thế hệ tăng ni đang tiếp nối công việc của Ôn, tôi thấy ở đó một bài học giản dị mà sâu sắc.

Một đời người dù dài đến trăm năm rồi cũng đi qua. Một công trình kiến trúc dù đồ sộ đến đâu cũng chịu sự chi phối của thời gian. Nhưng một phương pháp tu học được truyền trao đúng đắn, một thế hệ môn đồ được đào tạo có phẩm chất, một cuốn sách có giá trị và một tấm gương đạo hạnh có thể tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều thế hệ về sau.

Có lẽ đó mới là ý nghĩa lâu dài của hai chữ chấn hưng.

Từ lời gọi thân thiện “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ” của đạo hữu Như Hiền đến hôm qua được vấn an chư Ni phái Thiền Tông Việt Nam trong và ngoài nước tại buổi cúng dường trai ni tại Sacramento, tôi nhận ra rằng câu chuyện chấn hưng Phật giáo không phải chỉ là chuyện của những bậc cao tăng hay những tổ chức giáo hội.

Đó còn là câu chuyện của mỗi người học Phật, xuất gia cũng như tại gia, trong khả năng và hoàn cảnh riêng của mình.

Ở tuổi tám mươi, tôi chỉ còn vui thú vườn tược front - backyard quanh nhà. Nhưng vẫn còn niềm vui được học hỏi, được gặp những người bạn đạo, được đọc một trang kinh hay và đôi khi góp một lời nhận xét từ những điều mình đã trải nghiệm.

Nếu hai chữ “trưởng lão” có mang một ý nghĩa nào đó đối với tôi, thì có lẽ đó không phải là sự xác nhận mình đã học đủ, hiểu đủ, mà chỉ là lời nhắc rằng tuổi đời càng cao, người học đạo càng cần biết khiêm cung trước những điều mình chưa hiểu hết.

Và trong một thời đại mà trí tuệ nhân tạo có thể trả lời gần như tức khắc hàng nghìn câu hỏi, tôi vẫn nghĩ rằng có một điều con người cần tự mình thực hiện: sống với những điều mình đã học và chuyển hóa chính mình.

Bởi cuối cùng, chấn hưng Phật giáo không chỉ là làm mới hình thức sinh hoạt của đạo Phật, mà còn là làm sáng lại tinh thần giác ngộ trong đời sống con người.

Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

Sacramento tháng 10 năm 2026

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 7247)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 7231)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 9806)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 9782)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 9865)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 9756)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 202610:12 CH(Xem: 11584)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 20252:20 SA(Xem: 9369)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 10095)
Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.
13 Tháng Mười Hai 20253:41 CH(Xem: 9495)
Từ tháng 5/2023 đến cuối năm 2025, kênh đào Funan Techo – dự án biểu tượng dân tộc Khmer do hai cha con Hun Sen và Hun Manet quyết liệt thúc đẩy – đã chính thức bước vào giai đoạn thi công thực địa, với sự tái khẳng định tài trợ 1,7 tỷ USD từ Trung Quốc. Dài 180 km, lấy nước trực tiếp từ cả hai phân lưu chính của sông Mekong (đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu), con kênh không chỉ khó đạt được mục tiêu rút ngắn lộ trình và giảm chi phí vận tải như Cam Bốt tuyên truyền, mà còn có nguy cơ: (1) làm suy giảm nghiêm trọng lưu lượng nước mùa khô về hạ lưu, (2) chặn đứng phù sa, (3) đẩy nhanh xâm nhập mặn sâu thêm hàng chục kilômét, (4) đe dọa trực tiếp sinh kế của hơn 20 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.