- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Trung Quốc trong nhãn quan Nguyễn Du

Wednesday, January 18, 201212:00 AM(View: 119112)

 

nguyendu-content

Trong đời Nguyễn Du có ba sự việc liên can đến Trung Quốc:

Năm 1803, Nguyễn Du được cử lên trấn Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.

Năm 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ tại nhà Thanh cho đến 1814. 

Năm 1820 Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 AL (16-9-1820) thọ 54 tuổi. Tương truyền: "Khi ốm nặng, ông không uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói: đã lạnh rồi. Ông bảo: Được! Rồi mất. Không trối lại một lời".

“Bắc hành tạp lục” là tập thơ chữ Hán gồm 130 bài sáng tác trong những lần Nguyễn Du đi Trung Quốc.

Ngoài ra, ông còn hai tập thơ chữ Hán khác:

1 – “Thanh Hiên thi tập” gồm 78 bài, sáng tác trong thời gian ông sống ở quê hương xứ Nghệ, trước khi ra làm quan triều Nguyễn

2 - .”Nam Trung tạp ngâm” gồm 40 bài, sáng tác trong thời ông làm quan triểu Nguyễn ở Huế, Quảng Bình và một số địa phương khác từ Hà Tĩnh trở vào.

Phần này chỉ điểm qua một vài bài thơ trong “Bắc hành tạp lục”.

 *

Nguyễn Du vốn rất đa sầu đa cảm, tuy nhiên khi dạo chơi hay lưu lạc ở một nơi nào trong nước, nỗi buồn thi nhân chỉ thấy mang mang:

"Niên niên thu sắc hồn như hử

Nhân tại tha hương bất tự tri". 

 (Giang Đầu Tản Bộ)

 

(Hồn thu vẫn tự bao giờ

Người xa quê cũ chẳng ngờ đó thôi)

 

Hay:

“Vi lô san sát hơi may

Một trời thu để riêng ai một người” (Truyện Kiều)

Nhưng ở Trung Quốc, Nguyễn Du đã có những đêm:

Suốt đêm tiếng thanh la đánh không ngừng,

Cô độc ngồi bên ngọn đèn đến tận sáng.

Mấy tuần nhớ nước lòng buồn như chết,

Đường đi toàn gặp kẻ không quen.

Chân núi đầy bùn lún cả ngựa,

Bên khe suối quái tinh già ẩn nấp.

Khách tha hương tình cảm không có hạn,

Huống gì đường tới núi Yên còn xa vạn dặm

 

(Triệt dạ la thanh bất tạm đình,

Cô đăng tương đối đáo thiên minh.

Kinh tuần khứ quốc tâm như tử,

Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh.

Sơn lộc tích nê thâm một mã,

Khê tuyền phục quái lão thành tinh.

Khách tình chí thử dĩ vô hạn,

Hựu thị Yên Sơn vạn lý thành).

 (Mạc Phủ Tức Sự)

 

 - Và những cảm giác ghê rợn khi đi thuyền trên sông Minh Ninh:

 

Trên ghềnh nghe có tiếng gì?

Tựa như rồng nước giận ầm ầm như sấm.

Dưới ghềnh thấy có chuyện gì?

Như cung nỏ căng bắn tên đi thật xa

Nước chảy muôn dặm không ngừng,

Núi cao kề cận bờ như bức tường thành.

Dẫy đầy hòn đá dị kỳ xít nhau

La liệt tựa như rồng, rắn, hổ, beo trâu ngựa

Lớn như nhà, nhỏ như nắm tay cũng có

Hòn cao sừng sững, hòn thấp ngủ nằm

Hòn thẳng như chạy, hòn uốn như suối

Nghìn hình muôn vẻ nói sao hết lời

Rắn rồng ẩn hiện dưới sâu vực thẳm

Sóng vỗ ầm ầm tung bọt ngày đêm

Mùa hạ nước lũ mạnh như sôi sùi bọt

Cuộc hành trình ba ngày thuyền, lòng dạ bồn chồn,

Lòng dạ bồn chồn chứa nhiều lo sợ

Hiểm nguy thuyền đắm biết chìm sâu mực nào

Rằng nghe Trung Quốc đường bằng phẳng

Ngờ đâu đường Trung Quốc lại thế này!

 

(Than thượng hà sở văn?

Ứng long kích nộ lôi điền điền,

Than hạ hà sở kiến?

Nỗ cơ kịch phát thủy ly huyền,

Nhất tả vạn lý vô đình yên,

Cao sơn giáp ngạn như tường viên.

Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên,

Hữu như long, xà, hổ, báo,ngưu, mã la kỳ tiền.

Đại giả như ốc, tiểu như quyền.

Cao giả như lập, đê như miên,

Trực giả như tẩu, khúc như tuyền,

Thiên hình vạn trạng nan tận ngôn.

Giao ly xuất một thành trùng uyên.

Dũng đào phún mạt nhật dạ thanh hôi huyên.

Hạ lạo sơ trướng phí như tiên.

Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền,

Tâm huyền huyền đa sở úỵ

Nguy hồ đãi tai cốt một vô để,

Công đạo Trung Hoa lộ thản bình,

Trung Hoa đạo trung phù như thị!)

 (Ninh Minh Giang Chu Hành)

 

 - Cảm giác ấy đã xuất hiện ngay từ khi qua cửa ải Quỷ Môn ở Lạng Sơn:

 

Thương cho biết bao người phải đi qua lại.

Gai chông lấp cả đường lối, đầy rắn hổ ẩn nấp,

Khí chướng bốc đầy, ma quỷ tụ họp.

Gió lạnh suốt đời xưa thổi vào xương cốt trắng,

Công nghiệp lạ của tướng nhà Hán có chi mà đáng khen?

 

(Khả liên vô số khứ lai nhân.

Tắc đồ từng mãng tàng xà hổ,

Bố dã yên lam tụ quỉ thần.

Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt,

Kỳ công hà thủ Hán tương quân) (1) 

 (Quỉ Môn Quan)

 

(1) - Câu “Kỳ công hà thủ Hán tương quân” nhắc chuyện Mã viện mang quân sang đánh Giao chỉ đã làm cho bao nhiêu lính Tàu vùi xương. Nguyễn Du bảo, sao gọi thế là chiến công được!

 

 - Rồi, bao nhiêu câu hỏi lần khuất, ngay từ khi đến cửa thành Ải Nam Quan:

 

Lý Trần cựu sự diểu nan tầm,

Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).

Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện,

Nhất quan hùng trấn vạn sơn tầm.

Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,

Thiên cận tài tri giáng trạch thâm.

Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,

Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.

 (Trấn Nam Quan)

 

(Chuyện cũ Lý Trần khó mà tìm hiểu,

Ba trăm năm trở lại đến bây giờ.

Hai nước phân chia tại cửa thành này,

Một cửa ải hùng vĩ giữa muôn ngọn núi.

Lời truyền lại gây hiểu lầm trong trời đất,

Gần mặt trời thấm nhuần mưa giáng xuống.

Thiếu xa vương quay đầu trông qua tầng mây biếc,

Nhạc quân thiều dư âm còn nghe thấy trong tai).

 

Cứ thế, cứ thế, những câu hỏi, những suy tư về quan hệ hai nước trong lịch sử xuất hiện đó đây:

 

 - Đến miếu Mã Phục Ba, Nguyễn Du gợi chuyện Mã Viện.

 

Mã Viện người đời Đông Hán đã ngoài 60 vẫn còn muốn đi đánh trận lập công, vua không muốn cho đi, Mã Viện mặc áo giáp nhảy lên ngựa tỏ mình còn khỏe, được vua cười khen, phong là Phục Ba tướng quân. Tương truyền khi sang Giao Chỉ, Mã Viện cho dựng cột đồng trụ ở Quảng Tây để phân định ranh giới đất Hán.

 

Khi từ Giao Chỉ về Mã Viện có chở theo một xe hạt làm thuốc chữa bệnh nhưng bị gian thần tố cáo là chở ngọc châu về. Vua giận, nên vợ con không giám mang thây Mã Viện về quê mà chỉ chôn sơ sài ở Tây Thành.

 

Vua Hán Quang Vũ cho vẽ chân dung 28 vị công thần ở gác Vân Đài, không có Mã Viện, vậy mà người ta lại bắt dân Việt lập đền thờ. Nguyễn Du chê trách việc làm này:

 

Lục thập lão nhân cân lực suy,

Cứ an bị giáp tật như phi.

Điền đình chỉ bác quân vương tiếu,

Hương lý ninh tri huynh đệ bi.

Đồng trụ cận năng khi Việt nữ,

Châu xa tất cánh lụy gia nhi.

Tính danh hợp thướng Vân Đài họa,

Do hướng Nam trung sách tuế thì?

 (Giáp Thành Mã Phục Ba Miếu)

 

(Ông già sáu mươi sức đà kém,

Vẫn áo giáp phóng lên ngựa nhanh như bay.

Nơi cung điện mong chuốc được nụ cười của vua,

Chẳng kể đến nỗi thương xót của anh em.

Cột trụ đồng chỉ lừa phụ nữ Việt,

Xe ngọc mang về thêm lụy vợ con.

Gác Vân Đài tên ông nên được vẽ,

Chứ sao phương Nam lại phải thờ cúng ông?)

 

 - Chuyện Mã Viện còn được mai mỉa trong bài “Thơ Đề Miếu Mã Phục Ba Ở Đại Than”:

 

Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư,

Cái thế công danh tại sử thư.

Hướng lão đại niên căng quắc thước,

Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư

Đại Than phong lãng lưu tiền liệt,

Cổ miếu tùng sam cách cố lư.

Nhật mộ thành tây kinh cức hạ,

Dâm đàm di hối cánh hà như.

 (Đề Đại Than Mã Phục Ba Miếu)

 

(Mở đường Ngũ lĩnh qua đánh gò Viêm,

Tên tuổi công danh lưu trong sử sách.

Về già tuổi lớn còn khoe sức,

Ngoài cơm ăn áo mặc, gì cũng thừa.

Sóng gió Đại Than lưu tên ngày trước,

Miếu cũ tùng bách xa cách làng cũ.

Trong chiều tối phía tây thành đầy cây gai

Nơi Hồ Tây lời hối giờ ra sao?)

 

Tương truyền, khi Mã Viện xin được lãnh nhiệm sang đánh Hai Bà Trưng, em họ là Thiều Du nói: “Người ta sinh ra cốt ăn mặc vừa đủ thôi, nếu cầu thêm thừa thãi thì chỉ khổ thân.”. Đóng quân ở Dâm Đàm (Hồ Tây), thấy mặt hồ đầy khí lam chướng, diều lượn mặt hồ. Mã Viện nghĩ hối hận nói: “Nay nghĩ lại lời Thiếu Du thấy nói đúng nhưng không làm sao được nữa”

 

 - Đi qua đất cũ của Triệu Đà, Nguyễn Du nhắc chuyện đế vương, phiên thần:

 

Khả liên thế đại tương canh diệt,

Bất cập man di nhất lão phu.

 (Triệu Vũ Đế cố cảnh)

 

Thương cho thời đại đời thay đời,

Chẳng bằng ông lão đất man di.

 

Khi nhà Tần suy vong, Triệu Vũ Đế, tức Triệu Đà nổi lên hùng cứ một phương tự xưng Nam Việt Vũ Vương. Hán Cao Tổ lên ngôi, sai Lục Giả xuống phong Triệu Đà làm Nam Việt Vương. Sau khi chiếm thêm mấy ấp ở Trường Sa, Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Đế. Hán Văn Đế lại sai Lục Giả xuống dụ bỏ hiệu đế để giữ chức phiên thần. Trên đây là câu của Triệu Đà ghi tờ biểu đưa cho Lục Giả về dâng Hán Văn Đế.

 

Ngoài quan hệ Việt Trung, Nguyễn Du còn nêu những nhận xét về chính trị-xã hội Trung Quốc

 

 - Đây là nghịch cảnh nơi triều chính:

 

Hoàng Sào Binh Mã

Đại tiểu Hoa sơn sổ lý phân,

Hoàng Sào di tích tại giang tân.

Khởi tri Kim Thống Tần trung đế,

Nãi xuất Tôn Sơn bảng ngoại nhân.

Ngộ quốc mỗi nhân câu hạn lượng,

Cùng thời tự khả biến phong vân.

Viễn lai nghĩ vấn thiên niên sự,

Giang hộ dao đầu nhược bất văn.

 (Hoàng Sào Binh Mã)

 

(Núi Hoa lớn nhỏ chia cách nhau vài dặm,

Hoàng Sào lưu lại di tích ở bến sông.

Biết là vua Kim Thống của đất Tần.

Là người đội sổ bảng thi như Tôn Sơn,

Lỡ lầm việc nước vì gia phép câu nệ hẹp hòi,

Gặp thời tận cũng biến hóa được chuyện gió mâỵ

Khách từ xa muốn hỏi chuyện ngàn năm trước,

Ông lái thuyền chỉ lắc đầu không thốt lời).

 

Hoàng Sào là người đời Đường, quê ở Sơn Đông, học giỏi, nghĩa hiệp, hay cứu giúp người nghèo, sau một cuộc khởi nghĩa kéo dài 10 năm (875-884), Hoàng Sào vào được Trường An, lên ngôi Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Tề; trong khi vua Kim Thống chỉ vào hạng Tôn Sơn là người đội sổ bảng thi.

 

 - Đây là cung cách cư xử với công thần:

 

Trung nguyên đại thế dĩ đồi đường,

Kiệt lực cô thành khống nhất phương.

Chung nhật tử trung tâm bất động,

Thiên thu địa hạ phát do trường

Tàn Minh miếu xã đa thu thảo,

Toàn Việt sơn hà tận tịch dương

Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa,

Như hà hương hỏa thái thê lương.

 (Quế Lâm Cù Các Bộ)

 

(Triều đại lớn Trung Nguyên đã suy xụp,

Ông sức tàn vẫn nhất định giữ thành.

Ngày chót sắp chết tâm không thay đổi,

Ngàn năm dưới lòng đất tóc vẫn dài.

Miếu xã nhà tàn Minh đầy cỏ thu,

Vùng đất núi Việt nhuốm bóng chiều tà.

Dân Trung Hoa nghe nói trọng tiết nghĩa,

Sao đây hương khói tiêu điều thảm thê).

 

Cù Các Bộ tức Cù Thức Trĩ người đời Minh, làm quan được tới chức Lâm Quế Bá. Lúc Mãn Châu chiếm Trung Quốc, vua Minh chạy vào Vân Nam, ông ở lại giữ thành Quế Lâm (Quảng Tây). Thành bị vây hãm, Thức Trĩ chết theo thành.

 

 - Đây là số phận kẻ tài hoa và những bất công xã hội:

 

Thái Bình cổ sư thô bố y,

Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi

Vân thị thành ngoại lão khất tử,

Mại ca khất tiền cung thần xuy.

Lân chu thời hữu hiếu âm giả,

Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ.

Thử thời thuyền trung ám vô đăng,

Khí phạn bát thủy thù lang tạ.

Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung.

Tái tam cử thủ xưng đa tạ.

Thủ vãn huyền sách khẩu tác thanh,

Thả đàn thả ca vô tạm đình.

Thanh âm thù dị bất đắc biện,

Đãn giác liêu lượng thù khả thinh.

Chu tử tả tự vị dư đạo:

”Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành”. (1)

Quan giả thập số tịnh vô ngữ,

Đãn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh.

Khẩu phún bạch mạt, thủ toan xúc,

Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc.

Đàn tận tâm lực cơ nhất canh,

Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục.

Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai,

Do thả hồi cố đảo đa phúc.

Ngã sạ kiến chi, bi thả tân:

Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần.

Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bão,

Trung Hoa diệc hữu như thử nhân!

Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ.

Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ.

25

Hành nhân bão thực tiện khí dư,

Tàn hào lãnh phạn trầm giang để.

 (Thái Bình Mại Ca Giả)

 

(Ở Thái Bình có người mù mặc áo vải thô,

Cùng đứa trẻ dẫn đường bên bờ sông.

Già lão hành khất ngoài thành,

Hát rong kiếm tiền bát gạo nấu ăn.

Thuyền bên cạnh có người ưa nghe hát,

Nắm tay dẫn xuống sát cửa thuyền.

Bấy giờ thuyền tối không ánh đèn,

Cơm rớt, canh trào đổ bừa bãi.

Già mù sờ soạng ngồi một góc,

Hơn ba lần giơ tay xin cám ơn.

Tay nắn giây đàn cất tiếng hát vang,

Đàn hát một hơi không ngừng không nghỉ.

Lời ca tiếng lạ ta không hiểu được,

Nhưng âm điệu réo rắt dễ nghe

Nhà thuyền viết giấy cho hay:

“Đây là bài hát Thế Dân Kiến Thành”.

Hơn mười thính giả lặng ngắt như tờ,

Trong gió hiu hiu, trên sông trăng sáng.

Ông già miệng sùi bọt, tay rời rã,

Ngồi lại, đặt đàn thưa hát đã xong.

Gắng hết sức lực hầu một trống canh,

Lượm nhặt lên được năm sáu đồng tiền.

Đứa trẻ nhỏ dắt lão rời bờ thuyền,

Còn ngoảnh lại ngỏ lời chúc phúc.

Ta thấy thế mà trạnh lòng thương sót ,

Là người thà chết còn hơn nghèọ

Ta thường nghe đất Trung Hoa no ấm,

Sao Trung Hoa cũng có kẻ khổ thế nàỵ

Biết lệ cung phụng đoàn đi sứ thuyền hàng ngày,

Thuyền nào thuyền nấy thịt gạo ê hề.

Mọi người ăn uống no nê, dư thừa vứt bỏ,

Cơm nguội, thức ăn thừa đổ chìm xuống đáy sông.

 

Cho nên, hỡi các hồn oan, xin hãy đừng về, vì: “Đông tây nam bắc không nơi tựa/ Lên trời xuống đất đều không ổn”, vì: “Mặt đất đâu đâu đều là sông Mịch La ” – nơi Khuất Nguyên đã phải dầm mình tự vẫn.

 

Hồn hề ! Hồn hề ! hồ bất qui?

Đông tây nam bắc vô sở ỵ

Thướng thiên há địa giai bất khả,

Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi? (1)

Thành quách do thị, nhân dân phi,

Trần ai cổn cổn ô nhân ỵ

Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,

Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quì. (2)

Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di !

Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,

Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.

Hồn hề ! Hồn hề ! suất thử đạo

Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì. (3)

Tảo liễm tinh thần phản thái cực, (4)

Thận vật tái phản linh nhân xi,

Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan (5)

Đại địa xứ xứ giai Mịch La, (6)

Ngư long bất thực, sài hổ thực,

Hồn hề ! Hồn hề ! nại hồn hà?

 (Phản Chiêu Hồn)

 

(Hồn ơi! Hồn ơi! sao chẳng về?

Đông tây nam bắc không nơi tựa.

Lên trời xuống đất đều không ổn,

Đất Yên đất Dĩnh về làm chi?

Thành quách chẳng khác xưa nhưng lòng dân đã khác,

Bụi nhiều nhuốm bẩn dơ quần áo.

Đi ra thì xe ngựa, ở nhà thì vênh váo,

Ngồi bàn tán chuyện ông Quì ông Cao.

Không hề để lộ nanh vuốt ác độc.

Nhưng cắn xé người ngọt như đường!

Hồn có thấy cả trăm châu vùng Hồ Nam,

Toàn người gầy ốm có ai mập đâu.

Hồn ơi! Hồn ơi! nếu theo đường đó,

Thì sau Tam Hoàng nay đã lỗi thời.

Sao bằng thu thập tinh thần về với cõi hư vô,

Chớ về làm chi để người mai mỉa.

Đời sau ai ai cũng Thượng Quan cả,

Mặt đất đâu đâu đều là sông Mịch La.

Cá rồng mà không ăn thì hùm beo cũng nuốt,

Hồn ơi! Hồn ơi! biết làm sao đây?)

 *

Sử sách ghi rằng để củng cố mối bang giao hữu hảo, đồng thời đề phòng ý đồ tái lập ách đô hộ của Trung Quốc, các vua Nguyễn, đặc biệt là vua Minh Mạng rất quan tâm đến tình hình nhà Thanh. Ông đã yêu cầu sứ thần đi sứ nhà Thanh viết “Sứ trình nhật ký” và phải viết chi tiết những điều mắt thấy tai nghe ở Trung Quốc. Tháng 4 năm 1832, vua Minh Mạng khiển trách ba sứ giả được cử đi đã chỉ ghi đại khái về tình hình nhà Thanh không như ý đồ của ông. Ông ra lệnh, sau này các sứ giả phải ghi lại chính xác tình hình nhà nước và dân tình nhà Thanh còn những địa danh, v.v… đã biết thì không cần phải ghi lại. Phải chăng Nguyễn Du đã thực hiện nhiệm vụ sứ thần này bằng thơ.

Nguyễn Thanh Giang

(Hà Nội. Thu Tân Mão)

 


 


 

Send comment
Your Name
Your email address
Saturday, August 30, 20259:54 PM(View: 12621)
Một lần, khi bước lên tam cấp bằng gạch tàu xưa của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô Sài Gòn, tôi cảm thấy rất sống động, bóng ba tôi trong bộ quần áo màu mỡ gà của ngày ông ra đi, cầm một cây gậy tre đứng dưới bóng cây, tôi nghe rõ như hồi tôi 19 tuổi, ba sẽ làm một hòn non bộ dưới gốc cây này, và tôi đã viết, ở đó, câu thơ … hãy bước lên bậc-tam-cấp-thời-gian, quá khứ-hôm nay-và ngày mai. Và chọn một giấc mơ … đó là điều gắn bó tôi với ba bậc thềm tam cấp. Không phải vì cái ý nghĩa của ba chủ thể Trời – Đất – Con Người trong tri giác tam sinh, để nhắc nhở vô thường Sinh Lão Bệnh Tử, mà tôi cảm giác ba bậc thềm ấy như một dòng thời gian hư ảo. Khi bước lên nó như thể bước vào ngưỡng của giấc mơ. Nó là kinh nghiệm tôi có được khi cảm giác ấy được lặp đi lặp lại, thành một quy ước vô thức mà tôi cho rằng chỉ những ai sống thường trực trong nó mới cảm biết.
Tuesday, August 19, 20255:49 PM(View: 17765)
Trương Vĩnh Ký (1837–1898) từ lâu đã là một nhân vật nhiều tranh cãi trong lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông là trí thức Tây học sớm nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ, có đóng góp nhất định cho việc phát triển chữ Quốc ngữ. Nhưng đồng thời, ông cũng là viên chức phục vụ trực tiếp cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Giữa hai cực sáng – tối ấy, giới nghiên cứu và văn học Việt Nam đã có những cách đọc rất khác nhau. Một số nhà phê bình văn học, tiêu biểu như Nguyễn Vy Khanh, xem ông là “tinh hoa văn hóa” và là niềm tự hào của dân tộc. Trong khi đó, sử gia Vũ Ngự Chiêu, dựa trên tư liệu gốc và phương pháp khoa học, đã khẳng định Trương Vĩnh Ký là một trí thức bản xứ cộng tác với ngoại bang. Câu hỏi lớn được đặt ra: chúng ta cần văn học để dựng nên huyền thoại, hay cần sử học để nói sự thật?
Saturday, August 16, 20254:58 PM(View: 13301)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, August 13, 20251:51 AM(View: 13727)
Nhân vụ một giảng viên trường Cao đẳng y tế tại Hà Nội tối ngày 16/7/2025, sau khi nhậu say về đã đâm liên hoàn, gây tai nạn thảm khốc. Một người tử vong tại chỗ, ba mẹ con bị thương, một cháu nhỏ tiên lượng xấu, làm hư hỏng 8 phương tiện khác. Khi tỉnh rượu chỉ còn biết ôm lấy nỗi ân hận sâu sắc, nhưng lỗi không chỉ thuộc về người cầm lái mà còn trách nhiệm của những bạn nhậu, những người ép uống. Lời khai của can phạm, do uống say, mấy lần trước có gọi xe về, có app đặt xe lái hộ, nhưng hôm nay, không hiểu sao lại tự tin lái được (người say khôngbao giờ nghĩ là họ say) lên xe lao đi, đạp nhầm chân ga…
Thursday, July 31, 202511:31 PM(View: 11204)
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Friday, July 4, 202512:16 AM(View: 13113)
Một ngày của trung tuần tháng Chín năm 2002, sau khi thoát ra được vòng rào con Đập Mạn Loan, con đập lịch sử, con đập thủy điện đầu tiên trên sông Langcang-Mekong. Từ huyện Manwan bằng đường bộ, chúng tôi lên tới cổ thành Đại Lý (Dali) trời cũng đã sẩm chiều. Đại Lý vẫn được so sánh như một tiểu Kathmandu của Nepal, nơi có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của hơn 1 triệu sắc dân Bạch (Bai) với gốc rễ văn hóa lâu đời từ hơn 3 ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 7, đã có một nước Nam Chiếu (Nanzhao) rất hùng mạnh từng đánh bại quân nhà Đường vào thế kỷ thứ 8. Sang thế kỷ thứ 10 trở thành vương quốc Đại Lý cho tới thế kỷ 14, thời Nguyên Mông (Mongol Yuan) thì không chỉ Đại Lý mà toàn vùng Vân Nam đã trực thuộc vào nước Trung Hoa.
Thursday, May 29, 202512:23 AM(View: 19923)
Trong những năm gần đây, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI : Artificial Intelligence) đã tạo ra một làn sóng quan tâm sâu rộng trong giới viết lách. Với nhiều người, đây là một phương tiện mới mẻ, đáng để thử nghiệm. Nhưng với không ít người khác , nhất là những cây bút kỳ cựu hoặc thủ cựu, thì sự xuất hiện của AI đặt ra những hoài nghi, thậm chí phản ứng: Có nên xử dụng AI khi viết văn? Nếu có sự trợ giúp như thế, tác phẩm đó có còn là của cá nhân? Người viết có còn xứng đáng đứng tên tác giả? Tôi từng bỡ ngỡ và đặt những câu hỏi ấy khi mới tiếp xúc với AI. Nhưng nhờ trải nghiệm thực tiễn, tôi dần nhận ra bản chất thật sự của công cụ này – và càng hiểu rõ hơn đâu là ranh giới giữa công cụ hỗ trợ và ý tưởng sáng tạo. Bài viết này chia xẻ góc nhìn cá nhân ấy, không nhằm tranh luận hay áp đặt, mà như một cách giúp bạn đọc hiểu rõ hơn: trí tuệ nhân tạo không hề thay thế con người, và việc xử dụng AI trong sáng tác – nếu trung thực và có ý thức – là điều hợp lý và xứng đáng.
Friday, April 25, 20255:54 AM(View: 17692)
Vũ Xuân Thông sinh ngày 9 tháng 12 năm 1939 tại Hà Nội. Là gia đình có đạo dòng, Thông theo học trường Puginier, là một ngôi trường cổ xưa được xây cất từ năm 1897 tại Hà Nội. Năm 1954, khi gia đình di cư vào Nam, ở tuổi 15 Thông là con trai cả trong một gia đình lúc đó có 4 anh em: Vũ Xuân Thông, Vũ Văn Thanh, Vũ Văn Phượng, Vũ Thị Bích, sau này trên vùng đất mới, gia đình Thông có thêm 2 người em nữa là Vũ Hồng Vân, Vũ Văn Dũng. Có bố là công chức từ thời Vua Bảo Đại, ngay sau Hiệp định Genève 1954 ông quyết định đem toàn gia đình vào Nam và chọn định cư ở Đà Lạt. Vũ Xuân Thông tiếp tục theo học trường công lập Trần Hưng Đạo, tới Tú tài 2 không có lớp nên VXT phải vào Sài Gòn theo học trường Chu Văn An cho đến hết năm cuối trung học
Wednesday, April 16, 20259:16 PM(View: 19317)
PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN “Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước. Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!” TRẦN KHẢI.
Tuesday, February 18, 202510:37 PM(View: 20543)
Rising Asia là một tạp chí học thuật đa ngành, ra 3 số mỗi năm, hoạt động từ 2021, chủ bút là TS Harish C. Mehta, hiện giảng dạy tại Đại Học Toronto, có trụ sở tại Bengal Ấn Độ. Tạp chí là nguồn tài nguyên để nghiên cứu, và giảng dạy về các vấn đề xã hội Châu Á. Mỗi tập của tạp chí đều có các bài bình luận giải thích về mọi khía cạnh của lịch sử, kinh tế, ngoại giao, văn học, y tế, khoa học, quân sự và văn hóa Châu Á.