- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Trung Quốc trong nhãn quan Nguyễn Du

18 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 119119)

 

nguyendu-content

Trong đời Nguyễn Du có ba sự việc liên can đến Trung Quốc:

Năm 1803, Nguyễn Du được cử lên trấn Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.

Năm 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ tại nhà Thanh cho đến 1814. 

Năm 1820 Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 AL (16-9-1820) thọ 54 tuổi. Tương truyền: "Khi ốm nặng, ông không uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói: đã lạnh rồi. Ông bảo: Được! Rồi mất. Không trối lại một lời".

“Bắc hành tạp lục” là tập thơ chữ Hán gồm 130 bài sáng tác trong những lần Nguyễn Du đi Trung Quốc.

Ngoài ra, ông còn hai tập thơ chữ Hán khác:

1 – “Thanh Hiên thi tập” gồm 78 bài, sáng tác trong thời gian ông sống ở quê hương xứ Nghệ, trước khi ra làm quan triều Nguyễn

2 - .”Nam Trung tạp ngâm” gồm 40 bài, sáng tác trong thời ông làm quan triểu Nguyễn ở Huế, Quảng Bình và một số địa phương khác từ Hà Tĩnh trở vào.

Phần này chỉ điểm qua một vài bài thơ trong “Bắc hành tạp lục”.

 *

Nguyễn Du vốn rất đa sầu đa cảm, tuy nhiên khi dạo chơi hay lưu lạc ở một nơi nào trong nước, nỗi buồn thi nhân chỉ thấy mang mang:

"Niên niên thu sắc hồn như hử

Nhân tại tha hương bất tự tri". 

 (Giang Đầu Tản Bộ)

 

(Hồn thu vẫn tự bao giờ

Người xa quê cũ chẳng ngờ đó thôi)

 

Hay:

“Vi lô san sát hơi may

Một trời thu để riêng ai một người” (Truyện Kiều)

Nhưng ở Trung Quốc, Nguyễn Du đã có những đêm:

Suốt đêm tiếng thanh la đánh không ngừng,

Cô độc ngồi bên ngọn đèn đến tận sáng.

Mấy tuần nhớ nước lòng buồn như chết,

Đường đi toàn gặp kẻ không quen.

Chân núi đầy bùn lún cả ngựa,

Bên khe suối quái tinh già ẩn nấp.

Khách tha hương tình cảm không có hạn,

Huống gì đường tới núi Yên còn xa vạn dặm

 

(Triệt dạ la thanh bất tạm đình,

Cô đăng tương đối đáo thiên minh.

Kinh tuần khứ quốc tâm như tử,

Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh.

Sơn lộc tích nê thâm một mã,

Khê tuyền phục quái lão thành tinh.

Khách tình chí thử dĩ vô hạn,

Hựu thị Yên Sơn vạn lý thành).

 (Mạc Phủ Tức Sự)

 

 - Và những cảm giác ghê rợn khi đi thuyền trên sông Minh Ninh:

 

Trên ghềnh nghe có tiếng gì?

Tựa như rồng nước giận ầm ầm như sấm.

Dưới ghềnh thấy có chuyện gì?

Như cung nỏ căng bắn tên đi thật xa

Nước chảy muôn dặm không ngừng,

Núi cao kề cận bờ như bức tường thành.

Dẫy đầy hòn đá dị kỳ xít nhau

La liệt tựa như rồng, rắn, hổ, beo trâu ngựa

Lớn như nhà, nhỏ như nắm tay cũng có

Hòn cao sừng sững, hòn thấp ngủ nằm

Hòn thẳng như chạy, hòn uốn như suối

Nghìn hình muôn vẻ nói sao hết lời

Rắn rồng ẩn hiện dưới sâu vực thẳm

Sóng vỗ ầm ầm tung bọt ngày đêm

Mùa hạ nước lũ mạnh như sôi sùi bọt

Cuộc hành trình ba ngày thuyền, lòng dạ bồn chồn,

Lòng dạ bồn chồn chứa nhiều lo sợ

Hiểm nguy thuyền đắm biết chìm sâu mực nào

Rằng nghe Trung Quốc đường bằng phẳng

Ngờ đâu đường Trung Quốc lại thế này!

 

(Than thượng hà sở văn?

Ứng long kích nộ lôi điền điền,

Than hạ hà sở kiến?

Nỗ cơ kịch phát thủy ly huyền,

Nhất tả vạn lý vô đình yên,

Cao sơn giáp ngạn như tường viên.

Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên,

Hữu như long, xà, hổ, báo,ngưu, mã la kỳ tiền.

Đại giả như ốc, tiểu như quyền.

Cao giả như lập, đê như miên,

Trực giả như tẩu, khúc như tuyền,

Thiên hình vạn trạng nan tận ngôn.

Giao ly xuất một thành trùng uyên.

Dũng đào phún mạt nhật dạ thanh hôi huyên.

Hạ lạo sơ trướng phí như tiên.

Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền,

Tâm huyền huyền đa sở úỵ

Nguy hồ đãi tai cốt một vô để,

Công đạo Trung Hoa lộ thản bình,

Trung Hoa đạo trung phù như thị!)

 (Ninh Minh Giang Chu Hành)

 

 - Cảm giác ấy đã xuất hiện ngay từ khi qua cửa ải Quỷ Môn ở Lạng Sơn:

 

Thương cho biết bao người phải đi qua lại.

Gai chông lấp cả đường lối, đầy rắn hổ ẩn nấp,

Khí chướng bốc đầy, ma quỷ tụ họp.

Gió lạnh suốt đời xưa thổi vào xương cốt trắng,

Công nghiệp lạ của tướng nhà Hán có chi mà đáng khen?

 

(Khả liên vô số khứ lai nhân.

Tắc đồ từng mãng tàng xà hổ,

Bố dã yên lam tụ quỉ thần.

Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt,

Kỳ công hà thủ Hán tương quân) (1) 

 (Quỉ Môn Quan)

 

(1) - Câu “Kỳ công hà thủ Hán tương quân” nhắc chuyện Mã viện mang quân sang đánh Giao chỉ đã làm cho bao nhiêu lính Tàu vùi xương. Nguyễn Du bảo, sao gọi thế là chiến công được!

 

 - Rồi, bao nhiêu câu hỏi lần khuất, ngay từ khi đến cửa thành Ải Nam Quan:

 

Lý Trần cựu sự diểu nan tầm,

Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).

Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện,

Nhất quan hùng trấn vạn sơn tầm.

Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,

Thiên cận tài tri giáng trạch thâm.

Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,

Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.

 (Trấn Nam Quan)

 

(Chuyện cũ Lý Trần khó mà tìm hiểu,

Ba trăm năm trở lại đến bây giờ.

Hai nước phân chia tại cửa thành này,

Một cửa ải hùng vĩ giữa muôn ngọn núi.

Lời truyền lại gây hiểu lầm trong trời đất,

Gần mặt trời thấm nhuần mưa giáng xuống.

Thiếu xa vương quay đầu trông qua tầng mây biếc,

Nhạc quân thiều dư âm còn nghe thấy trong tai).

 

Cứ thế, cứ thế, những câu hỏi, những suy tư về quan hệ hai nước trong lịch sử xuất hiện đó đây:

 

 - Đến miếu Mã Phục Ba, Nguyễn Du gợi chuyện Mã Viện.

 

Mã Viện người đời Đông Hán đã ngoài 60 vẫn còn muốn đi đánh trận lập công, vua không muốn cho đi, Mã Viện mặc áo giáp nhảy lên ngựa tỏ mình còn khỏe, được vua cười khen, phong là Phục Ba tướng quân. Tương truyền khi sang Giao Chỉ, Mã Viện cho dựng cột đồng trụ ở Quảng Tây để phân định ranh giới đất Hán.

 

Khi từ Giao Chỉ về Mã Viện có chở theo một xe hạt làm thuốc chữa bệnh nhưng bị gian thần tố cáo là chở ngọc châu về. Vua giận, nên vợ con không giám mang thây Mã Viện về quê mà chỉ chôn sơ sài ở Tây Thành.

 

Vua Hán Quang Vũ cho vẽ chân dung 28 vị công thần ở gác Vân Đài, không có Mã Viện, vậy mà người ta lại bắt dân Việt lập đền thờ. Nguyễn Du chê trách việc làm này:

 

Lục thập lão nhân cân lực suy,

Cứ an bị giáp tật như phi.

Điền đình chỉ bác quân vương tiếu,

Hương lý ninh tri huynh đệ bi.

Đồng trụ cận năng khi Việt nữ,

Châu xa tất cánh lụy gia nhi.

Tính danh hợp thướng Vân Đài họa,

Do hướng Nam trung sách tuế thì?

 (Giáp Thành Mã Phục Ba Miếu)

 

(Ông già sáu mươi sức đà kém,

Vẫn áo giáp phóng lên ngựa nhanh như bay.

Nơi cung điện mong chuốc được nụ cười của vua,

Chẳng kể đến nỗi thương xót của anh em.

Cột trụ đồng chỉ lừa phụ nữ Việt,

Xe ngọc mang về thêm lụy vợ con.

Gác Vân Đài tên ông nên được vẽ,

Chứ sao phương Nam lại phải thờ cúng ông?)

 

 - Chuyện Mã Viện còn được mai mỉa trong bài “Thơ Đề Miếu Mã Phục Ba Ở Đại Than”:

 

Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư,

Cái thế công danh tại sử thư.

Hướng lão đại niên căng quắc thước,

Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư

Đại Than phong lãng lưu tiền liệt,

Cổ miếu tùng sam cách cố lư.

Nhật mộ thành tây kinh cức hạ,

Dâm đàm di hối cánh hà như.

 (Đề Đại Than Mã Phục Ba Miếu)

 

(Mở đường Ngũ lĩnh qua đánh gò Viêm,

Tên tuổi công danh lưu trong sử sách.

Về già tuổi lớn còn khoe sức,

Ngoài cơm ăn áo mặc, gì cũng thừa.

Sóng gió Đại Than lưu tên ngày trước,

Miếu cũ tùng bách xa cách làng cũ.

Trong chiều tối phía tây thành đầy cây gai

Nơi Hồ Tây lời hối giờ ra sao?)

 

Tương truyền, khi Mã Viện xin được lãnh nhiệm sang đánh Hai Bà Trưng, em họ là Thiều Du nói: “Người ta sinh ra cốt ăn mặc vừa đủ thôi, nếu cầu thêm thừa thãi thì chỉ khổ thân.”. Đóng quân ở Dâm Đàm (Hồ Tây), thấy mặt hồ đầy khí lam chướng, diều lượn mặt hồ. Mã Viện nghĩ hối hận nói: “Nay nghĩ lại lời Thiếu Du thấy nói đúng nhưng không làm sao được nữa”

 

 - Đi qua đất cũ của Triệu Đà, Nguyễn Du nhắc chuyện đế vương, phiên thần:

 

Khả liên thế đại tương canh diệt,

Bất cập man di nhất lão phu.

 (Triệu Vũ Đế cố cảnh)

 

Thương cho thời đại đời thay đời,

Chẳng bằng ông lão đất man di.

 

Khi nhà Tần suy vong, Triệu Vũ Đế, tức Triệu Đà nổi lên hùng cứ một phương tự xưng Nam Việt Vũ Vương. Hán Cao Tổ lên ngôi, sai Lục Giả xuống phong Triệu Đà làm Nam Việt Vương. Sau khi chiếm thêm mấy ấp ở Trường Sa, Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Đế. Hán Văn Đế lại sai Lục Giả xuống dụ bỏ hiệu đế để giữ chức phiên thần. Trên đây là câu của Triệu Đà ghi tờ biểu đưa cho Lục Giả về dâng Hán Văn Đế.

 

Ngoài quan hệ Việt Trung, Nguyễn Du còn nêu những nhận xét về chính trị-xã hội Trung Quốc

 

 - Đây là nghịch cảnh nơi triều chính:

 

Hoàng Sào Binh Mã

Đại tiểu Hoa sơn sổ lý phân,

Hoàng Sào di tích tại giang tân.

Khởi tri Kim Thống Tần trung đế,

Nãi xuất Tôn Sơn bảng ngoại nhân.

Ngộ quốc mỗi nhân câu hạn lượng,

Cùng thời tự khả biến phong vân.

Viễn lai nghĩ vấn thiên niên sự,

Giang hộ dao đầu nhược bất văn.

 (Hoàng Sào Binh Mã)

 

(Núi Hoa lớn nhỏ chia cách nhau vài dặm,

Hoàng Sào lưu lại di tích ở bến sông.

Biết là vua Kim Thống của đất Tần.

Là người đội sổ bảng thi như Tôn Sơn,

Lỡ lầm việc nước vì gia phép câu nệ hẹp hòi,

Gặp thời tận cũng biến hóa được chuyện gió mâỵ

Khách từ xa muốn hỏi chuyện ngàn năm trước,

Ông lái thuyền chỉ lắc đầu không thốt lời).

 

Hoàng Sào là người đời Đường, quê ở Sơn Đông, học giỏi, nghĩa hiệp, hay cứu giúp người nghèo, sau một cuộc khởi nghĩa kéo dài 10 năm (875-884), Hoàng Sào vào được Trường An, lên ngôi Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Tề; trong khi vua Kim Thống chỉ vào hạng Tôn Sơn là người đội sổ bảng thi.

 

 - Đây là cung cách cư xử với công thần:

 

Trung nguyên đại thế dĩ đồi đường,

Kiệt lực cô thành khống nhất phương.

Chung nhật tử trung tâm bất động,

Thiên thu địa hạ phát do trường

Tàn Minh miếu xã đa thu thảo,

Toàn Việt sơn hà tận tịch dương

Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa,

Như hà hương hỏa thái thê lương.

 (Quế Lâm Cù Các Bộ)

 

(Triều đại lớn Trung Nguyên đã suy xụp,

Ông sức tàn vẫn nhất định giữ thành.

Ngày chót sắp chết tâm không thay đổi,

Ngàn năm dưới lòng đất tóc vẫn dài.

Miếu xã nhà tàn Minh đầy cỏ thu,

Vùng đất núi Việt nhuốm bóng chiều tà.

Dân Trung Hoa nghe nói trọng tiết nghĩa,

Sao đây hương khói tiêu điều thảm thê).

 

Cù Các Bộ tức Cù Thức Trĩ người đời Minh, làm quan được tới chức Lâm Quế Bá. Lúc Mãn Châu chiếm Trung Quốc, vua Minh chạy vào Vân Nam, ông ở lại giữ thành Quế Lâm (Quảng Tây). Thành bị vây hãm, Thức Trĩ chết theo thành.

 

 - Đây là số phận kẻ tài hoa và những bất công xã hội:

 

Thái Bình cổ sư thô bố y,

Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi

Vân thị thành ngoại lão khất tử,

Mại ca khất tiền cung thần xuy.

Lân chu thời hữu hiếu âm giả,

Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ.

Thử thời thuyền trung ám vô đăng,

Khí phạn bát thủy thù lang tạ.

Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung.

Tái tam cử thủ xưng đa tạ.

Thủ vãn huyền sách khẩu tác thanh,

Thả đàn thả ca vô tạm đình.

Thanh âm thù dị bất đắc biện,

Đãn giác liêu lượng thù khả thinh.

Chu tử tả tự vị dư đạo:

”Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành”. (1)

Quan giả thập số tịnh vô ngữ,

Đãn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh.

Khẩu phún bạch mạt, thủ toan xúc,

Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc.

Đàn tận tâm lực cơ nhất canh,

Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục.

Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai,

Do thả hồi cố đảo đa phúc.

Ngã sạ kiến chi, bi thả tân:

Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần.

Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bão,

Trung Hoa diệc hữu như thử nhân!

Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ.

Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ.

25

Hành nhân bão thực tiện khí dư,

Tàn hào lãnh phạn trầm giang để.

 (Thái Bình Mại Ca Giả)

 

(Ở Thái Bình có người mù mặc áo vải thô,

Cùng đứa trẻ dẫn đường bên bờ sông.

Già lão hành khất ngoài thành,

Hát rong kiếm tiền bát gạo nấu ăn.

Thuyền bên cạnh có người ưa nghe hát,

Nắm tay dẫn xuống sát cửa thuyền.

Bấy giờ thuyền tối không ánh đèn,

Cơm rớt, canh trào đổ bừa bãi.

Già mù sờ soạng ngồi một góc,

Hơn ba lần giơ tay xin cám ơn.

Tay nắn giây đàn cất tiếng hát vang,

Đàn hát một hơi không ngừng không nghỉ.

Lời ca tiếng lạ ta không hiểu được,

Nhưng âm điệu réo rắt dễ nghe

Nhà thuyền viết giấy cho hay:

“Đây là bài hát Thế Dân Kiến Thành”.

Hơn mười thính giả lặng ngắt như tờ,

Trong gió hiu hiu, trên sông trăng sáng.

Ông già miệng sùi bọt, tay rời rã,

Ngồi lại, đặt đàn thưa hát đã xong.

Gắng hết sức lực hầu một trống canh,

Lượm nhặt lên được năm sáu đồng tiền.

Đứa trẻ nhỏ dắt lão rời bờ thuyền,

Còn ngoảnh lại ngỏ lời chúc phúc.

Ta thấy thế mà trạnh lòng thương sót ,

Là người thà chết còn hơn nghèọ

Ta thường nghe đất Trung Hoa no ấm,

Sao Trung Hoa cũng có kẻ khổ thế nàỵ

Biết lệ cung phụng đoàn đi sứ thuyền hàng ngày,

Thuyền nào thuyền nấy thịt gạo ê hề.

Mọi người ăn uống no nê, dư thừa vứt bỏ,

Cơm nguội, thức ăn thừa đổ chìm xuống đáy sông.

 

Cho nên, hỡi các hồn oan, xin hãy đừng về, vì: “Đông tây nam bắc không nơi tựa/ Lên trời xuống đất đều không ổn”, vì: “Mặt đất đâu đâu đều là sông Mịch La ” – nơi Khuất Nguyên đã phải dầm mình tự vẫn.

 

Hồn hề ! Hồn hề ! hồ bất qui?

Đông tây nam bắc vô sở ỵ

Thướng thiên há địa giai bất khả,

Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi? (1)

Thành quách do thị, nhân dân phi,

Trần ai cổn cổn ô nhân ỵ

Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa,

Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quì. (2)

Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di !

Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,

Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.

Hồn hề ! Hồn hề ! suất thử đạo

Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì. (3)

Tảo liễm tinh thần phản thái cực, (4)

Thận vật tái phản linh nhân xi,

Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan (5)

Đại địa xứ xứ giai Mịch La, (6)

Ngư long bất thực, sài hổ thực,

Hồn hề ! Hồn hề ! nại hồn hà?

 (Phản Chiêu Hồn)

 

(Hồn ơi! Hồn ơi! sao chẳng về?

Đông tây nam bắc không nơi tựa.

Lên trời xuống đất đều không ổn,

Đất Yên đất Dĩnh về làm chi?

Thành quách chẳng khác xưa nhưng lòng dân đã khác,

Bụi nhiều nhuốm bẩn dơ quần áo.

Đi ra thì xe ngựa, ở nhà thì vênh váo,

Ngồi bàn tán chuyện ông Quì ông Cao.

Không hề để lộ nanh vuốt ác độc.

Nhưng cắn xé người ngọt như đường!

Hồn có thấy cả trăm châu vùng Hồ Nam,

Toàn người gầy ốm có ai mập đâu.

Hồn ơi! Hồn ơi! nếu theo đường đó,

Thì sau Tam Hoàng nay đã lỗi thời.

Sao bằng thu thập tinh thần về với cõi hư vô,

Chớ về làm chi để người mai mỉa.

Đời sau ai ai cũng Thượng Quan cả,

Mặt đất đâu đâu đều là sông Mịch La.

Cá rồng mà không ăn thì hùm beo cũng nuốt,

Hồn ơi! Hồn ơi! biết làm sao đây?)

 *

Sử sách ghi rằng để củng cố mối bang giao hữu hảo, đồng thời đề phòng ý đồ tái lập ách đô hộ của Trung Quốc, các vua Nguyễn, đặc biệt là vua Minh Mạng rất quan tâm đến tình hình nhà Thanh. Ông đã yêu cầu sứ thần đi sứ nhà Thanh viết “Sứ trình nhật ký” và phải viết chi tiết những điều mắt thấy tai nghe ở Trung Quốc. Tháng 4 năm 1832, vua Minh Mạng khiển trách ba sứ giả được cử đi đã chỉ ghi đại khái về tình hình nhà Thanh không như ý đồ của ông. Ông ra lệnh, sau này các sứ giả phải ghi lại chính xác tình hình nhà nước và dân tình nhà Thanh còn những địa danh, v.v… đã biết thì không cần phải ghi lại. Phải chăng Nguyễn Du đã thực hiện nhiệm vụ sứ thần này bằng thơ.

Nguyễn Thanh Giang

(Hà Nội. Thu Tân Mão)

 


 


 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Mười 202612:42 SA(Xem: 266)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 20264:25 CH(Xem: 823)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 202610:24 CH(Xem: 1054)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 20269:55 CH(Xem: 1142)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
18 Tháng Mười 20265:10 CH(Xem: 1243)
Chỉ 46 ngày sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, một trận lũ quét khác lại xảy ra vào sáng 11/10 trên sông Budhi Gandaki, thuộc huyện Gorkha, Nepal. Khi nhiều gia đình còn chưa đến ngày tưởng niệm 49 ngày cho người thân đã khuất, những cộng đồng miền núi lại phải đối diện với cảnh di tản, nhà cửa và cầu đường bị cuốn trôi, cùng nỗi lo về những trận lũ bất ngờ có thể tiếp diễn.
18 Tháng Mười 202612:01 SA(Xem: 1501)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
17 Tháng Mười 20262:22 CH(Xem: 1247)
Có những buổi sáng, ngồi uống cà phê và đọc tin tức, tôi chợt nghĩ: nước Mỹ thật kỳ lạ. Một đất nước được xây dựng trên ý niệm rằng không ai được đứng cao hơn Hiến pháp, rằng quyền lực phải được phân chia, rằng người dân có quyền thay đổi người cai trị — vậy mà đôi khi, người ta lại phải tự hỏi liệu những nguyên tắc ấy có còn đủ sức bảo vệ chính mình hay không.
11 Tháng Mười 20264:13 CH(Xem: 1605)
Trên địa cầu hiện có khoảng 8,3 tỷ người. Mỗi người một số phận, một cuộc đời, một câu chuyện đáng kể. Có những người âm thầm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, những người miệt mài chữa bệnh trong bệnh viện, những người lao động ngoài công trường, những người ngày đêm sáng tạo để làm cho đời sống nhân loại tốt đẹp hơn. Nhưng thử hỏi, trong số hàng tỷ con người ấy, có bao nhiêu người được truyền thông quốc tế nhắc đến mỗi ngày? Và có bao nhiêu người, dù ở cách nửa vòng trái đất, vẫn có thể khiến hàng triệu người cùng lúc quay đầu nhìn về phía mình chỉ bằng một câu nói? Donald Trump là một trường hợp đáng quan sát.
25 Tháng Chín 20265:37 SA(Xem: 2128)
Sáng thứ Năm 24 tháng 9 vừa qua, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho chính quyền Trump khôi phục quyền truy cập tòa Bạch Ốc cho ba tổ chức tin tức: CNN, MS NOW và Politico. Quyết định này đưa ra sau khi các phóng viên bị cấm vào tòa nhà này trong nhiều ngày do Tổng thống Donald Trump không hài lòng với các tường thuật mà ông cho là tiêu cực về các việc làm của chính phủ của ông.
23 Tháng Chín 202611:16 CH(Xem: 2351)
Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết.