- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

HỘI THỀ ĐÔNG QUAN

26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 6377)

Hội Thề Đông Quan

                                      HỘI THỀ ĐÔNG QUAN

 

NGUYỆT QUỲNH kể chuyện Sử

 

“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)

 

 

 

Thuở người ta tin vào trời đất, coi lời thề có trọng lượng như sinh mạng. Thuở danh dự gắn liền với sự tồn vong của một quốc gia và niềm tin tâm linh gắn liền với quyền lực chính trị.

 

Một ngày cuối năm 1427, mây trên cổ thành Thăng Long và nước dưới sông Nhị Hà đã in dấu một sự kiện ngàn năm có một: một hội thề được thành lập giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân xâm lược nhà Minh tại phía nam thành Đông Quan.

 

 

 

Khởi đi từ những ngày tụ nghĩa ở Lũng Nhai, những người trai áo vải Lam Sơn như Lê Lai, Lê Nhân Chú… bước chân vào kháng chiến không chắc rằng mình sẽ có mặt tại điểm cuối. Sau mười năm gian khổ, ngày hôm ấy, họ được tận mắt chứng kiến kẻ xâm lược phải cúi đầu, giải giáp trước anh linh sông núi nước nhà.

 

Đầu năm 1426, Lê Lợi và Nguyễn Trãi dời đại bản doanh về bến Bồ Đề, bờ bắc sông Nhị, đối diện kinh thành ở bờ nam để vây hãm thành Đông Quan. Nghĩa quân vừa công thành, vừa dụ hàng giặc. Kế sách “ tâm công” của Lê Lợi và Nguyễn Trãi được triển khai: đánh vào ý chí giặc thay vì chỉ đánh vào thành lũy.

 

Lúc này, nghĩa quân Lam Sơn đã lớn mạnh, trong khi quân Minh sức cùng lực kiệt, chỉ còn cố thủ chờ viện binh.

 

Tháng 11 năm 1427, viện binh của giặc từ phương Bắc hối hả kéo xuống, mang theo hy vọng cứu vãn một Đông Quan đang hấp hối. Nhưng họ không ngờ rằng mình đang bước vào một thế trận đã được định sẵn.

 

Tại Ải Chi Lăng, nơi địa hình núi đá khép lại như một chiếc bẫy, nghĩa quân ta đánh gãy mũi tiến công, đội viện binh của Liễu Thăng tan vỡ giữa khe núi. Tàn quân vội dồn xuống Xương Giang, mong tìm được đường sống, nhưng nơi ấy đã trở thành chiếc túi khép kín. Thành bị vây, đường bị cắt, mọi hy vọng tắt lịm.

 

Từ Chi Lăng đến Xương Giang, số phận quân xâm lược đã được định đoạt.

 

Trong thành Đông Quan, Tổng binh Vương Thông lòng nóng như lửa đốt, ngóng chờ tin viện binh. Chợt nghe cấp báo: Bình Định Vương Lê Lợi cho áp giải các tướng giặc là Đô đốc Thôi Thụ, Thượng thư Hoàng Phúc đến trước cổng thành. Cùng với đó là cờ trống, vũ khí và cả song hổ phù của Liễu Thăng, có cả hai ấn Thượng thư bằng bạc của Lý Khánh và Hoàng Phúc.

 

Với nhân chứng và di vật rành rành đã gây chấn động mãnh liệt, từ tổng binh Vương Thông cho đến quân lính trong thành đều hết sức khiếp sợ.

 

Biết rằng mọi con đường sống đã khép lại, Vương Thông đành nuốt lệ xin giảng hòa. Ngày 16 tháng 12 năm 1427, bên bờ sông Nhị, hội thề lịch sử được thành lập.

 

Giữa không khí còn vương khói lửa chiến tranh, hai bên đứng trước nhau, cùng đọc bài Văn hội thề do Nguyễn Trãi soạn. Theo đó, Vương Thông cam kết rút toàn bộ quân về nước, không chờ viện binh, trên đường rút quân không cướp bóc dân chúng, và không bao giờ xâm phạm Đại Việt nữa. Phía ta, Bình Định Vương bảo đảm cho quân địch được toàn mạng trở về, đồng thời sẽ làm biểu cầu phong với triều Minh.

 

Tham dự hội thề, Ngoài Lê Lợi còn có các tướng: Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bối, Lê Văn An, Bế Khắc Thiện, Ma Luân.

 

Phía quân Minh, dẫn đầu là Tổng binh Vương Thông và các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Trần Tuấn, Trần Hựu, Chu Kỳ Hân, Quách Vĩnh Thạnh, Dực Khiêm, Lục Quảng Bình, Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh, Dương Thời Tập, Quách Đoan.

 

Sau đó Lê Lợi hạ lệnh: Số giặc về bằng đường thuỷ thì cấp cho 500 chiếc thuyền giao cho Phương Chính và Mã Kỳ nhận lãnh. Số giặc về bằng đường bộ thì cấp thêm lương thảo giao cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc nhận lãnh. Riêng số giặc bị bắt hoặc đầu hàng từ trước, tổng cộng hơn hai vạn người cùng với hơn hai vạn con ngựa thì giao cho Mã Anh nhận lãnh và cho tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo.

 

Tất cả quân Minh đều kéo nhau tới dinh Bồ Đề để lạy tạ mà về. Tướng giặc là Phương Chính phần xúc động, phần hổ thẹn mà rơi cả nước mắt.

 

Sử gia Trung Quốc, Cốc Vĩnh Thái trong Minh sử kỷ sự bản mạt có lời bình về việc nhà Minh ra lịnh bãi binh ở Đại Việt như sau:

 

Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhã thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng hoà vậy.

 

Ngày 29-12-1427, Vương Thông bắt đầu cho quân rút lui, đến ngày 3-1-1428 thì đất nước ta sạch bóng quân thù.

 

Mười năm kháng chiến của một dân tộc nhỏ bé đã khép lại bằng lời thề trước anh linh tiền nhân tại Hội Thề Đông Quan - một chiến thắng với biểu tượng của lòng nhân nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo."

 

Nhiều năm sau, bản “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vẫn khiến một số học giả Trung Quốc khó chịu, họ chỉ trích rằng bản văn mang “lời lẽ ngỗ nghịch”. Tuy nhiên, nhiều học giả Trung Quốc thời nay đã phải công nhận rằng “Bình Ngô Đại Cáo” không chỉ là một văn kiện lịch sử giá trị, mà còn là một áng “thiên cổ hùng

văn”.

 
NGUYỆT QUỲNH


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Mười 20189:28 CH(Xem: 55780)
Mưa không ngưng từ ngày cô bỏ đi. / Cô đếm từng đêm. / Đã 4000 đêm mưa. Từ khi cô đã cuống cuồng bỏ chạy, đã hấp tấp đến nỗi không kịp mang theo một thứ gì, cô lật đật lưỡi đưỡi, vấp váp, rồi vùng dậy, đứng lên, lao ra khỏi vùng phai tàn. / Phải rồi, ở đó, trong bóng tối mát dịu của người đàn ông ấy, quanh chỗ rợp đổ xuống của bờ vai rộng mà cô dựa vào mỗi đêm, quanh vồng ngực ấm mà cô chúi vào mỗi đêm, giờ chỉ là một vùng phai tàn. / Từ khi cô bỏ chạy, đã được 4000 đêm.
12 Tháng Mười 20187:27 CH(Xem: 56276)
Trên con đường dẫn ra ngoại ô của thành phố P. có một đoạn đường mà bên kia là nhà tù còn bên này có một khách sạn nhỏ và quán cà phê.
07 Tháng Chín 20188:30 CH(Xem: 55972)
Đêm đầu tiên ngồi trên thành cửa sổ nhô ra trên những mái nhà tôn xiên xẹo vá víu của thành phố bên dưới, nước mắt em tuôn qua kẻ tay, rõ xuống mái tôn rào rạt. Bên dưới người ta đang đếm tiền, thùng tiền ban chiều trong đám tiệc mọi người đã lấm la lấm lét giấu biến đi, và khi em bất chợt bước vào nhà, đống tiền đã được đổ tung ra, trên mặt chiếu, người ta hau háu cắm mặt vào đống tiền, hối hả đếm tiền, xếp thành bó, mắt trắng nhợt nhìn em lơ láo. Có ai đó ném vào em một xấp tiền: - Này tiền đấy, đếm đi!
05 Tháng Chín 201810:36 CH(Xem: 50971)
Phương lên cơn nghén ngay trong ngày giỗ đầu của chồng. Chửa với ai? Cái tin mau chóng truyền đi: Bà Hai khét tiếng cho vay ăn lời cắt cổ có đứa con dâu bỗng dưng có chửa sau một năm chồng chết. Phương đứng đó nhưng lòng muốn rời khỏi căn nhà này ngay. Nhà rộng năm gian, bàn thờ chồng hương khói đang nghi ngút nhưng quả phụ hãy còn chần chừ thắp nén hương. Bà Hai lệt quệt đôi dép nhựa bước vào gian chính, trừng trừng nhìn Phương: - Mày biến đi cho khuất mắt tao!
05 Tháng Chín 20189:38 CH(Xem: 45697)
- Bây giờ, em bắt đầu hỏi anh. Anh chỉ có nhiệm vụ trả lời tất cả những câu hỏi một cách chính xác và nghiêm túc. - Ừ! – Tốt. Chúng ta bắt đầu nhé! Năm nay anh bao nhiêu tuổi? - 23 - Còn em? - Em 26. Tuổi em mà chẳng nhẽ em không nhớ à? - Vậy anh nhỏ hơn em bao nhiêu? Chính xác là bao nhiêu? - Anh không biết. - Anh không trừ được từng tháng hả? - Ừm... m... hình như là ba mươi.
05 Tháng Chín 20189:32 CH(Xem: 48819)
- Ông là một người thông minh, có tài! - Ông là một người đức độ! - Tiếc thay chỉ vì thời buổi bây giờ có nhiều kẻ đố kỵ nên ông không được trọng dụng! Nghe những lời ca tụng của Lễ, Nguyễn cảm thấy nỗi buồn như được trút hết xuống hồ Tây. /
27 Tháng Bảy 20188:59 CH(Xem: 52683)
Ngọn nến nhỏ gồng mình chống lại gió ác len lỏi. Xa xa có thể là gò hoang, nghĩa địa. Cái mùi máu tanh tanh ùa về. Chúng tôi không thể nói lớn, nào dám nói lớn. Bọn an ninh có thể đến đây và bắt chúng tôi bất cứ lúc nào. Nhưng dù sợ vào tù hay chịu lưu đày, tôi vẫn phải thành hôn với Bình. Tôi chọn Bình. Em có đôi mắt trong veo hiền lành dù bước qua đau khổ vẫn không thay màu sắc lạnh. Em cúi đầu dưới thánh giá hôm nay mà hồn em đã nguyện trao gửi cho tôi từ thuở khai sinh rồi. Ánh Dương cầu chúc cho chúng tôi mãi mãi hạnh phúc. Nhiên đã đứng ra làm chủ hôn lễ.
19 Tháng Bảy 20188:31 CH(Xem: 53417)
Mark đứng lặng nhìn những chiếc xe lướt qua khu phố yên tĩnh đến trầm mịch. Anh hít hà thật sâu mùi không khí xung quanh nhà thờ. Mùi của gỗ sồi, của mặt đất ẩm ướt, của nước mưa trượt dài trên gương mặt thằng đàn ông ba mươi bảy. Đâu đó có mùi của Liz còn vươn vất. Bậc thang này Liz đã bước qua mỗi sáng chủ nhật. Chiếc ghế này Liz đã từng ngồi bao nhiêu lần? Liz đã mặc chiếc váy màu gì khi đi lễ? Con phố này Liz đã chạy xe qua lại mỗi ngày bao nhiêu quận? Cứ thế, Mark đứng đó hít lấy hít để thứ mùi không rõ tên cho đến khi trời sẫm tối.
10 Tháng Bảy 201810:24 CH(Xem: 52188)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Lý Minh Kỳ sống và làm việc tại Sài Gòn. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quý độc giả và văn hữu những sáng tác mới nhất của Lý Minh Kỳ.
13 Tháng Sáu 201812:14 SA(Xem: 56391)
Linh hồn lang thang qua hiu hắt chợ quê, như ai níu chân lại, đi không rời. Đi đâu xa rôi vẫn nhớ nhất chợ quê. Thức ăn tươi rói mới hái từ liếp rau sau nhà, rùa rắn tôm cá đồng từ bảy dòng sông tụ về, một nhắm rau sam chua, đọt bí nham nhám, bắp chuối sứ non, củ khoai từ lừ đừ, trái cà chua vườn nhỏ đèo đẹt, mấy trái me chín dốt, cọng đậu đũa tươi ngon, đọt rau lang mướt mắt, rau má đồng, rau đắng đất...tất cả đều được bày ra trên rỗ nhựa ,mẹt tre bắt mắt.