- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

Tiếng kèn lá trên đỉnh Mã Pì Lèng

18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 129720)


vxtuu_hl109



Tôi lên Mã Pì Lèng dạy học.
Từ dưới chân núi, tôi cứ nhằm theo chòm bản thấp thoáng trong mỏm đá, tán cây mà leo lên. Trời nóng như đốt nương, vượt dốc, cổ họng khô rát, tưởng như mồ hôi đã cạn kiệt không thể chảy ra được nữa, thì bất chợt gặp một dòng nước từ trên núi chảy xuống, tràn qua cả mặt đường đá. Tôi hồ hởi phanh ngực áo, bỏ ca-táp, cởi dép rọ, đứng một lúc cho mát dịu lại, rồi mới thong thả rửa tay, rửa chân, xúc miệng ba lần, uống một ngụm, xong rồi mới lau mình, gội đầu... Các anh đã công tác ở vùng cao lâu năm, truyền cho tôi một kinh nghiệm là chớ có vồ vập thái quá, phải biết điềm nhiên. Người miền núi ai cũng thâm trầm, điềm đạm. Vả lại, đang nắng nóng mà lao xuống nước là dễ bị cảm nhập tâm như chơi.
Bản trên đỉnh núi, đi theo đường ngựa thì đỡ dốc, nhưng không biết bao giờ mới lên đến nơi. Thế là sẵn có dây thép to như ngón tay, lõng thõng bên vách núi, tôi liền đu người leo lên. Đây là những sợi dây an toàn của công nhân mở đường qua Mã Pì Lèng, qua mấy chục năm rồi, mà đến nay vẫn còn quấn chặt trên vách ta-luy dương.
Vừa leo tắt lên lưng chừng núi, tôi sững sờ khi nhìn thấy một cô gái người Mông Trắng, đẹp như tiên sa, đang lom khom đứng giặt giũ bên khe nước. Cô gái cũng giật mình hoảng sợ, khi đột nhiên nhìn thấy tôi như từ khe đá chui ra. Tôi định thần, vội nở nụ cười cầu thân:
- Giặt à?
Cô gái không nói gì, lại lặng lẽ giặt giũ. Tôi bèn ngồi nghỉ bên gốc cây cổ thụ cạnh khe nước. Bàn tay rộp máu và đầy gỉ sắt. Tôi thò tay xuống nước, xót ứa nước mắt, rồi thõng hai bàn tay trên đầu gối cho khô và lơ đãng ngắm nhìn mây trời đang từ đỉnh Mã Pì Lèng, bay sang bên kia biên giới. Cô gái Mông thì vẫn loay hoay với cái chậu gỗ tròn, đựng đầy nước tro bếp, ngâm cái váy vải lanh trắng rộng cỡ mười hai vuông. Trong cái quẩy tấu cạnh đó, còn vắt ngổn ngang mấy bộ quần áo tà pủ. Thôi chết, không khéo ban nãy mình gội đầu, rửa mặt và uống dòng nước này. Thảo nào... Tôi oẹ khan một cái. Cô gái giật mình quay lại, nhìn tôi trân trân. Tôi ngượng ngùng vội đứng dậy, lặng lẽ lên núi.

*
Tôi dạy lớp ghép. Lớp của tôi có hơn chục đứa trẻ. Chúng học rải rác ở tất cả các lớp của cấp một, nhưng ngồi chung một phòng học, gồm có sáu bộ bàn ghế. Đứa bé nào đến tuổi đi học thì được miễn học phí, được cấp sách vở, bút mực. Đứa nào bỏ học thì bị phạt. Con trai bỏ học bị phạt bảy quẩy tấu ngô, con gái bỏ học bị phạt chín quẩy tấu ngô.
Buổi sáng, khi sương tan là tôi lên lớp. Một cái bảng đen nứt nẻ, tôi dùng phấn trắng thạch cao kẻ bốn cột cho bốn lớp. Trên góc bảng, tôi cũng ghi đủ số học sinh có mặt và vắng mặt. Số học sinh vắng mặt đầu giờ là phổ biến. Bởi vì, vào lúc sớm tinh sương, những đứa trẻ lớn phải đi cắt cỏ bò và cỏ ngựa; khi về lớp thì quần áo, đầu tóc của chúng còn ướt sương mai, dính đầy hoa cỏ và bùn đất. Cả lớp ghép chỉ có một lớp trưởng là thằng Páo, con của trưởng bản Mí Tủa. Làm quan có nòi, làm cán bộ cũng thế.
Lớp ghép có cái dở nhưng cũng có cái hay: dở, nghĩa là chỉ một thày mà cùng một lúc, phải truyền thụ kiến thức của nhân loại cho ngần ấy thứ bậc trình độ, thì làm sao mà cụ thể và sâu sắc được; nhưng hay là ở chỗ, chúng có điều kiện ôn bài lớp dưới và đi trước thời đại khi nghe bài lớp trên. Bọn trẻ thông minh và luôn ghi nhớ hình phạt khi bỏ học. Có lần, tôi ra bài tập toán cho thằng Páo lớp trưởng: ông Mí Tủa đi nương, mang về sáu quẩy tấu ngô. Chị Mỷ (cô gái giặt bên khe nước mà tôi đã gặp) cũng đi nương và mang về ba quẩy tấu ngô nữa. Hỏi nhà Páo có mấy quẩy tấu ngô? Trong khi thằng Páo còn đang loay hoay tính toán, thì con bé lớp dưới đã nhanh nhảu đứng dậy, trả lời: “Bằng cái ngô phạt đứa gái bỏ học”. Cả lớp cười ầm lên. Tôi ngớ người.
Buổi tối, bên bếp lửa, ông Mí Tủa thường dạy tôi những bài hát cúng ma. Bà Mí Tủa thường dạy tôi những bài hát đám cưới. Củi thông cháy thơm thơm. Củi tống quá nổ lép bép. Rượu ngô nồng nàn thấm vào tận gan ruột, càng làm tôi hát say sưa. Mỷ và Páo cũng học theo những câu hát của bố mẹ. Có khi, hai hòn than nóng bỏng từ đôi mắt Mỷ bắn sang, khiến tôi lâng lâng. Đến khi ánh lửa từ đôi mắt tôi chiếu lại thì Mỷ lại đỏ mặt quay đi.
Tôi thường theo thằng Páo vào rừng bắt chim hoạ mi. Nó khéo tay, đan được những cái lồng trúc rất đẹp. Nó cũng lanh lợi và táo bạo, nên bắt được những con hoạ mi hót hay nhất vùng Mã Pì Lèng. Có hôm, tôi theo nó đi cắt cỏ ngựa. Nó dạy tôi ngắt lá thổi kèn. Thày chiêm tinh bảo tôi thuộc cung bảo bình (verseau), nên những gì thuộc về văn học, nghệ thuật và khoa học, kỹ thuật là tôi tiếp thu rất nhanh, nhất là cái khoản thổi kèn lá, để nhằm vào việc tỏ tình bằng dân ca Mông.
Một hôm chủ nhật, tôi lên phòng giáo dục trở về, qua gốc sa mu cổ thụ, nhác thấy bóng Mỷ đang cắt cỏ ngựa, thấp thoáng ven rừng. Tôi bèn ngắt lá đưa lên môi thổi tí te. Mỷ ngẩng lên nhìn thấy tôi, mặt đỏ bừng, rồi lại cắm cúi cắt cỏ. Tôi được đà thổi vóng lên:
“Em ơi!
Tình yêu đôi ta đẹp thế này...”
Bỗng Mỷ buông liềm, ôm tay. Tôi vội chạy lên, nín thở ngắt cái lá sau lưng, nhai giập ra đắp vào vết thương, rồi lại ngắt lá cỏ tranh, tước hai bên cạnh sắc và quấn ngón tay cho Mỷ, nom hệt như một dải băng xanh xanh. Mỷ toan ôm bó cỏ để về. Tôi vội giằng lấy, lui cui đội đi. Mỷ cun cút bước theo sau. Chợt có tiếng trẻ con ngọng nghịu trong bụi cây:
- Vở chùng, vở chùng... (Vợ chồng, vợ chồng).
Rồi nghe tiếng bụi cây xô dạt về phía bản. Tôi dừng chân, cười cười và nghếch mắt lên nhìn, nhưng bó cỏ bù xù trên đầu, khiến tôi không biết là đứa nào. Mỷ thì vội đứng cách xa tôi một quãng và chỉ tay, bặm môi hăm doạ bọn trẻ.
Cả bản chỉ có hơn chục nóc nhà. Nhà trưởng bản Mí Tủa to nhất, tuy mái cũng lợp cỏ tranh, nhưng vách lịa ván thông. Những ngôi nhà khác thì vách thưng bằng cây trúc. Mấy nhà mới chuyển đến thì ken tạm bằng cây ngô. Trưởng bản Mí Tủa cũng ít con nhất, chỉ có Mỷ và Páo thôi. Trưởng bản phàn nàn về chuyện không bắt được nhiều con. Tôi động viên:
- Nhà nước chỉ cho mỗi cặp vợ chồng đẻ từ một đến hai con thôi. Mình làm trưởng bản, gương mẫu là đúng lý.
Bà Mí tủa vừa tước lanh, vừa cười cười, nói chen vào:
- Mình biết ăn cái lá, hết đẻ thôi.
Tôi cười trừ, tán tếu:
- Ông bà trưởng bản đặt tên cho con giỏi đấy. Mỷ là cô tiên nhá, mà cũng đẹp như tiên. Páo là con rồng nhá, mà cũng giỏi như rồng.
Trưởng bản cười hơ hớ:
- Không biết bao giờ con Mỷ mới lấy chồng, thằng Páo mới lấy vợ, đẻ con, để tao được gọi là ông Dúng Tủa, Vản Tủa, cứ để mọi người phải gọi là Mí Tủa mãi thôi.
Mỷ liếc xéo tôi một cái, rồi lặng lẽ đứng dậy ra ngoài thái cỏ ngựa. Thằng Páo nhìn tôi chòng chọc.
Lớp học cũng chẳng khác gì nhà dân nghèo, cũng lợp cỏ tranh, cũng thưng cây trúc; chỉ khác là có những bộ bàn ghế học sinh. Chân bàn, chân ghế là những cọc gỗ tống quá chôn xuống nền nhà. Những cây trúc to, ghép lại, đặt lên trên những cái cọc thấp làm ghế ngồi. Những tấm gỗ thông đặt trên những cái cọc cao làm bàn viết. Buồng riêng của tôi ở ngay cuối lớp. Tôi xin đồn biên phòng mấy mảnh vải nhựa, căng xung quanh cho kín đáo và ấm cúng. Góc buồng có kê một cái trạn bát làm bằng trúc. Ba hòn đá đặt ở góc nhà làm bếp nấu ăn. Can rượu ngô lúc nào cũng túc trực bên cạnh. Đầu chái, tôi quây một cái buồng tắm. Đây là cái buồng tắm duy nhất trên đỉnh Mã Pì Lèng. Lớp học ở gần nhà trưởng bản. Người nhà trưởng bản mỗi khi qua lại đều phải đi sát buồng tôi. Tôi để ý, cứ mỗi khi tôi tắm là Mỷ không dám đi qua. Chờ cho tôi vào nhà, rồi mới căm cắm rảo bước. Tôi ngó qua khe trúc, giặng hắng một tiếng, tức thì Mỷ như mũi tên lao vọt qua. Tôi khoái chí cười một mình.
Bây giờ Mỷ hay đi cắt cỏ ngựa thay cho Páo. Tôi cũng hay lân la đến bên gốc sa mu cổ thụ, thổi kèn lá:
“Em ơi,
Đã nói nhiều nhưng ta chưa tỏ...”
Tiếng cắt cỏ ngừng bặt. Tôi hồi hộp dõi lên vạt rừng. Bỗng có tiếng kèn lá cất lên:
“Anh ơi!
Chúng mình dù tâm sự đẹp ngần nào...”
Chợt có tiếng trẻ con cười rúc rích trong bụi cây. Mỷ bốc một nắm đất ném rào rào. Bọn trẻ con lốc nhốc cõng nhau chạy lên bản. Thì ra, chúng đã rình mò. Tôi lững thững về bản, trong lòng lo sợ bọn trẻ con lẫn chuyện với trưởng bản. Nhưng tiếng kèn lá lại vút lên:
“Anh ơi,
Em muốn nói với anh bằng điều khác...”
Tôi thẫn thờ... Chiều biên cương tím biếc. Sương giăng mờ lũng núi. Tiếng chuông bò loong coong về bản. Khói lam quyện trên những mái tranh. Hun hút dưới chân núi, dòng sông Nho Quế nhạt nhoà như một dải thắt lưng xanh xanh, huyền huyền ảo ảo.
Tối hôm đó, như thường lệ, tôi lên nhà trưởng bản chơi. Vừa đến sân, tôi đã nghe tiếng trò chuyện rì rầm khác thường. Tiếng ông Mí Tủa: “Nhù già nhù, tử già tử - Bò là bò, trâu là trâu, không lẫn lộn được. Ta là người Mông trên núi, thày giáo là người Kinh dưới ruộng...”. Tiếng bà Mí Tủa: “Nó dạy học hết ba năm thôi. Về xuôi, nó bỏ mày”. Tiếng thằng Páo: “Tôi bảo Mỷ yêu thày giáo, không yêu, đứa khác nó yêu mất đấy”.
Mấy hôm sau, tôi bảo với trưởng bản là lên đồn biên phòng bàn chuyện “xoá mù”. Mỷ cũng xin đi ăn cưới cái bạn là Tiên ở xóm người Giấy bên sông Nho Quế. Nhưng kỳ thực, chúng tôi hẹn gặp nhau ở cầu Tràng Hương. Tôi cầm cành lá đợi Mỷ trên cầu. Một lúc, thấy bóng Mỷ dắt ngựa xuống núi, tôi liền ngậm lá, thổi một hồi:
“Em ơi,
Tình yêu đôi ta đẹp thế này
Đã nói nhiều nhưng đôi ta chưa tỏ
Vẫn còn điều bí ẩn ở thắt lưng em...”
Mỷ cũng buộc ngựa, thổi lá:
“Anh ơi,
Chúng mình dù tâm sự hay đến mấy
Nhưng gặp nhau
Em muốn nói cùng anh chưa tỏ
Nhưng vì chưa biết cõi lòng anh...”
Tôi cùng Mỷ dắt ngựa qua cầu. Mỷ sánh vai bước bên tôi. Cầu treo rung rinh in bóng hình nhạt nhoà trên sóng nước. Tôi ngây ngất như bước trên mây. Mỷ cũng bâng khuâng như lướt trên gió. Ngược dốc, Mỷ đẩy tôi lên ngựa, rồi nắm đuôi ngựa mà chạy theo. Khi ngựa qua sườn núi, Mỷ ngồi gọn trong lòng tôi trên lưng ngựa. Má đỏ au và thơm như táo chín, môi đỏ mọng như hoa đào ngậm sương, mắt nhìn thăm thẳm trời thu biên thuỳ, cánh tay trắng ngần của Mỷ quàng lên cổ tôi. Chúng tôi hôn nhau mê mải. Ngựa quen đường, phi nhong nhong. Đến đầu dốc, tôi xuống ngựa cho Mỷ về trước. Khi chia tay, Mỷ cúi xuống hôn tôi, khiến cái váy lanh trùm xuống cả vai... Mãi đến khi con ngựa sốt ruột bậm bạch gõ móng xuống đường mòn và vươn cổ hí vang, chúng tôi mới rời nhau.

*
- Thày giáo, Mỷ ăn lá ngón rồi.
Thằng Páo gọi thất thanh qua cửa liếp. Tôi vội cùng nó nhảy lên lưng ngựa, phóng như bay xuống bệnh viện huyện. Vừa phi, tôi vừa gọi Mỷ, vang động cả núi rừng. Xộc vào phòng cấp cứu, tôi thấy Mỷ chỉ còn thoi thót thở. Tôi nấc lên. Mỷ nhìn tôi đau đáu. Khuôn mặt Mỷ chợt rực rỡ, đẹp bội phần như tiên giáng trần trong giây lát, rồi đồng tử dãn dần. Bác sỹ lắc đầu tuyệt vọng. Ông Mí Tủa hộc lên một tiếng, rồi đi ra ngoài. Bà Mí Tủa gục bên xác Mỷ. Thằng Páo gào lên:
- Mỷ ơi, bố mẹ ưng ý rồi mà!
*
Ngôi mộ của Mỷ đặt dưới chân núi Mã Pì Lèng. Tuần nào cũng vậy, tôi từ bản lên phòng giáo dục và sáng thứ hai lại có mặt ở lớp. Đi qua, lần nào tôi cũng ngồi bên mộ, có hôm nửa đêm, có hôm trời sáng mới rời. Một đêm trăng suông, tôi ngồi bên mộ, sương ướt đầm vai áo, chợt nghe mơ hồ như có tiếng kèn lá từ trời cao vọng về:
“Anh ơi...
Đã nói với nhau nhiều nhưng chưa nói hết
Vẫn còn điều ngây ngất ở trong em...”
Có mùi hương toả ra ngào ngạt. Mỷ hiện lên, thấm hơi sương lạnh giá, ánh mắt nồng nàn như xưa, làn môi đằm thắm như xưa, khẽ cất tiếng thì thào như gió thoảng:
- Mỷ biết anh còn thương Mỷ nhiều, yêu Mỷ nhiều mà.
- Mỷ à, anh chỉ thương em thôi. Đất này chỉ có mình anh là đỉnh Mã Pì Lèng, cũng chỉ có mình em là sông Nho Quế thôi. Ta mãi bên nhau. Sao em vội bỏ anh mà đi, bố mẹ đồng ý rồi mà...
- Đá lở, cây đổ rồi, không làm lại được nữa đâu. Nhưng mà anh thương được cái Tiên ở bản người Giấy thì tốt đấy.
Tôi than khóc ầm cả lên. Dòng sông, đỉnh núi cũng đồng vọng ồi ồi... Giật mình tỉnh dậy, mới biết là mình nằm mê.
Lần sau, lại đến thăm mộ, tôi thấy một cô gái người Giấy giống Mỷ như hai giọt nước, liền hỏi:
- Cô là Tiên, phải không?
Cô gái gật đầu và bật cười khanh khách. Từ đấy, Tiên ngây ngây dại dại như bị ma làm, phục thuốc và cầu cúng mấy cũng không khỏi. Tiên cứ xé quần áo Giấy, đòi mặc quần áo Mông và gọi tên tôi thảm thiết.
Một đêm mưa to gió lớn, sấm rung đất chuyển. Mỷ lại hiện về, thì thầm:
- Mỷ biết cái lỗi rồi. Mỷ lại về với anh. Ngày mai, chờ ở gốc cay sa mu ngày xưa...
Hôm sau, trời quang mây tạnh, tôi ra thăm mộ Mỷ, thì sườn núi đã sạt lở, chẳng thấy ngôi mộ đâu nữa. Tôi buồn bã trở về, qua nẻo đường xưa, tới gốc sa mu cổ thụ, chợt sững sờ khi nhìn thấy một cô gái người Mông Trắng, đẹp như Mỷ, đang đứng bên khe nước. Cô gái cũng giật mình hoảng sợ khi đột nhiên nhìn thấy tôi như từ khe đá chui ra. Tôi định thần, vội nở nụ cười cầu thân:
- Mỷ à?
Cô gái không nói gì, lặng lẽ ứa hai hàng nước mắt.

Vũ Xuân Tửu
Tuyên Quang
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2218)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 2467)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 2958)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 2628)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 2697)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 3617)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 2907)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.