- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,393,392

Lâu Đài Trên Bãi Cát (phần I A )

09 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 6410)

w-chinhdao_0_300x118_1Từ ngày 7/3/1975, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày.

Thật khó ngờ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người–có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa [VNCH]–bị sụp đổ hoàn toàn. Cảnh tượng "bỏ của chạy lấy người" suốt tháng 3/1975 của các đơn vị Nam quân khiến đó đây vang lên chỉ trích nặng nề như "hèn nhát," "tồi dở" v.. v... (1)

Sự thảm bại ấy, thực ra, chỉ là đoạn kết bi phẫn ngắn ngủi khó tránh của một cuộc chiến kéo dài đã hơn 30 năm. Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên.

 

Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến thảm kịch 55 ngày và 55 đêm suốt mùa Xuân Ất Mão (1975) ấy.

Trên bình diện quốc tế, 20 năm hiện hữu của VNCH là hai thập niên của "chiến tranh ủy thác" [proxy wars]. Từ năm 1945-1949, cuộc chiến tranh giành độc lập của dân Việt khỏi họa đô hộ Pháp đã bị quốc tế hóa thành một chiến trường nóng, đầy xương máu, khói lửa, trong một cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu, giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản (1947-1991). Chế độ Quốc Gia Việt Nam [QGVN] (1949-1955) với Quốc trưởng Bảo Đại, và rồi VNCH (1955-1975)–giống như chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976) ở miền Bắc–là những kết quả và/hoặc sáng chế của các ngoại cường trong cuộc sửa đổi bản đồ chính trị thế giới. Bên cạnh chủ đích chiến đấu để sống còn của những người chống hoặc không Cộng Sản, VNCH trở thành một tiền đồn của "thế giới tự do" dưới sự lãnh đạo và tài trợ của Liên bang Mỹ–"kho súng" của nền dân chủ. Phía VNDCCH, với tấm bình phong Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam [MTDT/GPMN] từ tháng 12/1960–một dụng cụ chính trị do Hà Nội khai sinh và nuôi dưỡng–thì giữ vai tiền đồn của tiền đồn khối "Chủ Nghĩa Xã Hội" do Liên Sô Nga và Trung Cộng tranh nhau cầm đầu. Tính cách ủy thác lên cao điểm năm 1965, khi chính phủ Johnson đưa quân chiến đấu vào Nam Việt Nam và oanh tạc miền Bắc. Liên Sô Nga và Trung Cộng–với những dụng tâm riêng–miễn cưỡng đổ viện trợ vào miền Bắc cho Hà Nội có khả năng đương đầu với Mỹ.

Trong khuôn khổ cuộc chiến ủy thác ấy, vai trò quyết định là các siêu cường. Phía Mỹ, từ năm 1968–nếu không phải sớm hơn–đã duyệt xét lại chính sách Việt Nam và đi đến quyết định giải kết.

Có nhiều nguyên do. Trước hết là kinh tế. Vào giữa thập niên 1960, sự phong phú, giàu có sau Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) đã trở thành dĩ vãng. Chiến phí ở Việt Nam tạo nên những lỗ hổng khổng lồ cho công quĩ chính phủ Liên Bang. Chỉ một thiểu số đại tư bản Mỹ cùng những quốc gia thứ ba như Nhật, Nam Hàn, Sư Tử Thành [Singapore], Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, v.. v... hưởng lợi. Cảm nhận chung của giới chính trị Mỹ–kể cả Richard M. Nixon lẫn Henry A. Kissinger–là nước Mỹ bắt đầu suy thoái, cần thay đổi chiến lược trong một thế giới mới. Mỹ không thể tiếp tục làm nhà từ thiện toàn cầu, cung cấp viện trợ rộng rãi cho các "thân chủ đồng minh," mà phải thắt lưng, buộc bụng và lựa chọn kỹ càng hơn. Khuynh hướng cắt giảm viện trợ kinh tế và hạn chế ngân quĩ quốc phòng trở thành một nhu cầu hơn thuần hậu quả của chủ thuyết "tự cô lập mới" [neo-isolationism].(2)

Tại Á Châu, Trung Đông, Phi Châu và vùng Mỹ Latin (tức Trung và Nam Mỹ) nhiều quốc gia mới được khai sinh, thay đổi hẳn cuộc diện chính trị thế giới cũng như thế cân bằng quyền lực do hai siêu cường Mỹ-Nga thống trị. Thực tế này cho phép nghĩ đến một thí nghiệm "đa cực" [multipolarity] thay vì "lưỡng cực" [bipolarity] đang trở thành lỗi thời. (3)

Trong khi đó, khối Cộng Sản bắt đầu rạn nứt dài theo sự khác biệt trong việc ứng dụng chủ thuyết Marxist-Leninism ("xét lại" v/s "giáo điều")–dù trên thực chất là sự tranh chấp quyền lợi và lãnh thổ trong bối cảnh "cuộc cách mạng văn hóa," cùng sự tranh giành quyền lực giữa hai phe "Tứ Nhân Bang" và "cải cách" do Đặng Tiểu Bình cầm đầu tại Trung Nam Hải.(4)

Về phương diện chính trị, phong trào phản chiến ngày một lan tràn. Mặc dầu tổng số lính Mỹ tử trận suốt 8 năm tham chiến không bằng số người chết vì tai nạn lưu thông hàng năm trên nước Mỹ, màn ảnh truyền hình đã mang vào hàng chục triệu phòng khách Mỹ mỗi sáng, mỗi tối những hình ảnh ghê rợn của chiến tranh. Cuộc sống cô lập, xa rời thế giới của dân chúng Mỹ bị xáo trộn, đưa đến những phân hóa khó tránh. Các cơ quan tuyên truyền tinh vi của Cộng sản cũng tìm đủ cách khai thác. Bởi thế, phong trào phản chiến bùng lên, đưa bạo lực và rối loạn vào các khuôn viên Đại học–nơi giới sinh viên luôn bị ám ảnh của lệnh nhập ngũ. Phong trào đòi nhân quyền cho dân da đen của Mục sư Martin Luther King cũng rải rắc bạo lực trên đường phố các thị xã lớn. (5)

Về phương diện quân sự, viễn ảnh chiến thắng ngoài tầm tay. Vì thế chiến lược hoàn cầu cũng như khu vực, người Mỹ tự trói mình trong cuộc chiến tranh giới hạn để duy trì hai nước Việt Nam. Nỗ lực của người Mỹ chỉ có thể đạt được với hai điều kiện–xây dựng một chế độ vững mạnh ở miền Nam; và, đập nát tham vọng nhất thống đất nước của Hà Nội. Nhưng, vì nhiều lý do, cả hai mục đích trên đều không đạt được. Đảng Lao Động (Cộng Sản) Việt Nam [LĐVN] lì lợm tiếp tục cuộc chiến, bất kể sự thiệt hại nặng nề về nhân mạng và vật chất, hay cắt đất cắt lãnh hải cho Trung Cộng để xin viện trợ. Trong khi đó, VNCH như đứa trẻ bệnh hoạn từ thuở sơ sinh, ngày càng tùy thuộc vào viện trợ Mỹ, không thể đứng vững hai chân. Phương cách duy nhất là triệt thoái. Vấn đề chỉ còn là cách nào.

Trên bình diện quốc tế, các nước Tây Âu cực lực chống đối sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Charles de Gaulle (1890-1970)–người đáng lẽ phải bị truy tố ra truớc Tòa án Hình sự Quốc tế vì đã châm ngòi cuộc chiến Đông Dương từ năm 1944-1945 với ảo vọng tìm lại cho đế quốc Pháp vinh quang của thời tiền chiến, khi thế giới còn nỗ lực biện minh cho chính sách thực dân như một sứ mệnh khai hoá(6)–không ngừng kêu gọi trung lập hoá miền Nam và yêu cầu Mỹ rút quân.

Bri-tên, một đồng minh ruột thịt của Mỹ, hạt nhân của chủ nghĩa Anglo-Saxonism, cũng miễn cưỡng trong việc ủng hộ sự tham chiến của Mỹ; và trên thực tế, từ năm 1965, đóng góp không nhỏ trong nỗ lực tìm giải pháp chính trị. Ngay Vatican–tử thù của chủ thuyết Marxist-Leninism, nguồn yểm trợ tinh thần và nhân vật lực bản xứ cho chiến lược hoàn cầu chống Cộng từ cuối thập niên 1920–cũng "cầu nguyện cho hoà bình." (7)

Trong khi đó, biến loạn lan tràn tới Trung Đông–kho "vàng đen" của thế giới; nguồn gốc của nhiều biến động vào cuối thế kỷ XX–nơi Mỹ có một đồng minh tí hon, nhưng được sự ủng hộ nhiệt thành của các cộng đồng Jews [Do Thái] giàu có và chi phối giới truyền thông cũng như các khuôn viên Đại học Mỹ nói riêng, và Tây phương nói chung. Ngay tại châu Mỹ, các phong trào vũ trang tả phái cũng nổi lên ở một số quốc gia thân Mỹ.

Chính phủ Richard M. Nixon (1969-1974) là chính phủ Mỹ đầu tiên phải trực diện điều mệnh danh là "hội chứng Việt Nam" [the Vietnam Syndrome]–tức sự miễn cưỡng của dân Mỹ trong việc thủ diễn một vai trò chủ động trên thế giới. Nixon cùng các cộng sự viên muốn giải kết, triệt thoái khỏi Việt Nam, nhưng vẫn hy vọng đạt được hòa bình trong thế mạnh. Đây là bước xuống thang đáng kể so với hy vọng "chiến thắng" của John F. Kennedy hay Lyndon B. Johnson. Nó dựa trên thực tế mới của thế giới, nhưng vẫn hy vọng duy trì được uy tín [credibility] của Mỹ.( 8)

Để thực hiện chính sách giải kết, Nixon–bên cạnh những nỗ lực ngoại giao chân vạc Mỹ-Nga-Trung Cộng–phát động kế hoạch Việt-Nam-hóa chiến tranh. Ý niệm căn bản chẳng có gì lạ, chỉ là bước phải có tiếp theo những gì đã thực hiện từ năm 1950-1951: Jean de Lattre de Tassigny khai sinh ra Quân Đội QGVN–rồi, cố vấn Mỹ huấn luyện và tái tổ chức–và, cuối cùng, Westmoreland rồi Abrams cận đại hóa nó.( 9)

Phi cơ, tàu biển, tăng pháo được chở tới Nam Việt Nam cùng hàng tỉ Mỹ kim quân trang, quân dụng, đạn dược. Sĩ quan, Hạ sĩ quan và binh sĩ được đào tạo tại miền Nam, hay gửi sang Okinawa, Philippines, Malaya, hay Mỹ tu nghiệp. Trên lý thuyết, với hơn triệu tay súng thuộc đủ các quân binh chủng, và cảnh sát, an ninh, Quân lực VNCH phải đủ sức cầm cự ít nữa cũng 5, 10 năm sau ngày Mỹ "rút lui trong danh dự."

Thực tế, đạo quân khổng lồ này hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ Mỹ, đạn dược, xăng nhớt Mỹ–và, ngay cả kỹ thuật tác chiến Mỹ. Mặc dù sau 30 năm chiến tranh Quân lực VNCH đã có một số cán bộ trung cấp cừ khôi, khả năng Nam quân tùy thuộc vào tiếp vận và hỏa lực yểm trợ. Đáng sợ hơn nữa–và đó là mầm mống của đại họa–VNCH không có lãnh đạo. Người được Mỹ đưa lên cầm quyền năm 1967 và ra sức bảo vệ ở Hội Nghị Paris, chỉ là một loại đánh thuê không hơn, không kém–giống như cái khởi đầu binh nghiệp thông ngôn Pháp chưa xa. Chính sách, từ lớn xuống bé, đều do Tòa Đại sứ, cơ quan MACV và, sau này, cơ quan DAO, hoặc USAID soạn thảo, đôn đốc thực hiện. Đại sứ Ellsworth Bunker và rồi Graham Martin chẳng là gì khác hơn những "Toàn quyền" một thời chưa xa–dù VNCH không ngừng tự xưng là Đồng Minh của Mỹ.

Để chính sách giải kết có được cái vẻ ngoài "danh dự," ngày 27/1/1973, Mỹ và "ba phe" lâm chiến tại Việt Nam–qua những cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ, với sự tiếp tay của Nga và Trung Cộng–chính thức ký hai văn bản Hiệp ước chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình Paris. Năm tháng sau, khi những cuộc bắn giết để "bảo vệ hoà bình" ngày một gia tăng, Mỹ và Hà Nội lại ra thêm hai tuyên cáo La Celle St. Cloud. Những cuộc thảo luận song phương giữa những người điếc vẫn tiếp diễn ở Sài Gòn và Paris cho tới năm 1975. Về phần Mỹ, ít nữa với cách suy nghĩ của Kissinger, và những người phản chiến, vậy đã đủ. Sự triệt thoái của Mỹ rất êm thấm. Một số tù binh Mỹ được trao trả. Bạch Cung không còn phải bận tâm vì những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh nữa. Chế độ Thiệu-Hương-Khiêm vẫn tại chức ngày người lính Mỹ và tù binh Mỹ cuối cùng rời Việt Nam. Cá nhân Kissinger còn được Hàn Lâm Viện Sweden [Thụy Điển] trao tặng nửa giải thưởng Nobel Hòa Bình, và vào cuối tháng 8/1973, được Nixon mời làm Bộ Trưởng Ngoại Giao–một thành đạt hiếm người tị nạn thực hiện được trong lịch sử Mỹ. Dù trên thực tế Kissinger và chủ thuyết Nixon chỉ giúp Nam Việt Nam không bị bỏ rơi đột ngột như một củ khoai nóng, bất chấp hậu quả, nhưng giai đoạn khởi đầu của đoạn kết đã điểm. Mỹ không thắng, không đạt được mục tiêu mong muốn, nhưng cũng chẳng hề bại trận.

Nhưng cái giá mà người Việt phải trả–Bắc cũng như Nam–quá đắt. Hơn 40 năm tuổi đảng, vào tù ra khám hay ăn bờ, ngủ bụi hàng chục năm, những Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng v.. v... khó thể khoanh tay nhìn miền Nam, miếng mồi ngon đầy quyến rũ. Nên dù Oat-shinh-tân đưa ra món lợi viện trợ tái thiết hậu chiến lên tới 3.25 tỉ Mỹ Kim, và Mat-scơ-va cũng như Bắc Kinh không ngừng khuyên răn nên nghỉ ngơi, đình chiến ít năm, từ tháng 7/1973, Lê Duẩn vẫn khua chiêng, gõ trống cho "bạo lực cách mạng," quyết dùng họng súng để nhất thống hai miền. Phần Thiệu cũng biết ngày tàn đã điểm. Hệ thống kinh doanh hoạt động mạnh mẽ hơn, vơ vét lần cuối. Để che dấu việc làm bất chính của vợ chồng, họ hàng, phe đảng mình, Thiệu cho lệnh văn công lập đi lập lại "lập trường nhất định bốn không" của "Nguyễn Tổng Thống"–những lời dối trá trơ trẽn. Chỉ có đám đông thầm lặng–những nông dân, công nhân, công chức và quân nhân thấp cổ, bé họng, mà cuộc sống chẳng khác gì cảnh huống những người đứng giữa giòng nước luôn luôn ngập đến cổ, chỉ một đợt sóng gợn nho nhỏ đủ sặc sụa nếu chưa chết đuối–vẫn phải nai lưng chịu đựng hậu quả của tham vọng các tập đoàn cai thầu bản xứ. Tóm lại, chiến thắng quân sự của CSBV ngày 30/4/1975 là hậu quả dĩ nhiên sau khi Mỹ đã tìm được "hoà bình trong danh dự."

Về phương diện quân sự, quân đội Mỹ có thể truy diệt quân CSBV tại bất cứ nơi nào các cấp chỉ huy muốn. Với vũ khí tối tân, hỏa lực hùng hậu–nếu tin được Hà Nội–Mỹ khiến 300,000 bộ đội CSBV mất tích, và khoảng 1 triệu người chết hoặc thương tật. Tuy nhiên, đạo quân viễn chinh Mỹ khó thể mang lại chiến thắng trong một thời gan ngắn. Và dư luận Mỹ không có sự kiên nhẫn ấy.

Cuộc chiến Việt Nam, nếu VNCH muốn có hy vọng chiến thắng–song song với sự tiếp tay của Liên Bang Mỹ–phải được phát động trên bốn mặt trận cơ bản chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, và quân sự.

 

Về phương diện chính trị, mẫu số chung của VNCH là chống Cộng. Nhưng chống Cộng chỉ là lập trường và chính sách, chưa bao giờ được hỗ trợ bằng một học thuyết có đủ chiều sâu triết lý. Không ít người hùng hổ la hét đòi chống Cộng, dù họ chẳng biết Cộng Sản là gì. Giống như những con bò tót lao mình về phía mà bất cứ ai gọi là Cộng Sản. (Chính sách thông tin và giáo dục nhồi sọ tại miền Nam là một lý do). Hơn nữa, "Cộng Sản" ở Việt Nam thực ra chưa là Cộng Sản chính danh–nó là một niềm tin vào bình đẳng kinh tế và xã hội, lồng khung trong cuộc chiến chống thực dân Pháp và tinh thần bài ngoại. Lãnh đạo tổ chức Cộng Sản đa số thuộc giới tiểu trí thức xuất thân tiểu tư sản, phú nông hoặc quan lại cấp thấp bản xứ. Nếu xét kỹ lý lịch ba đời các lãnh đạo và cán bộ Cộng Sản trung cấp trở lên, tất cả đều lôi thôi, có vấn đề. Cha Hồ Chí Minh, tức Phó bảng Nguyễn Sanh Huy, làm tri huyện Bình Khê (Bình Định, năm 1908-1909), trước khi bị cách chức, tống giam vì "nghiện rượu và tàn ác với dân chúng." Cha Phạm Văn Đồng làm quan tại Huế, và gửi Đồng ra Hà Nội học trường Bưởi, chờ ngày thi Tú Tài. Võ [Nguyên] Giáp, thuộc gia đình "phú nông," vừa dạy học, làm báo, vừa ghi danh học trường Luật. Đặng Xuân Khu, cha thuộc thành phần phú nông, bị trục xuất khỏi trường Cao Đẳng thương mại sau khi tham dự những cuộc bãi khóa xin ân xá cho Phan Bội Châu, làm quốc tang cho Phan Châu Trinh, và rồi gia nhập Đảng CSĐD năm 1929. (10)

Đa số những người yêu nước chân chính bị đặt vào thế tấn thoái lưỡng nan–không thể sống chung với những kẻ chẳng cần dấu diếm ý định bắt họ phải ngừng hiện hữu, và thẳng tay tàn sát, cướp đoạt công lao đánh Pháp giành độc lập cùng tài sản ruộng vườn của họ; nhưng phía bên này, phe ta, nhá nhem đủ loại bóng tối và sức ly tâm. Chiêu bài "quốc gia" mà người Pháp, và rồi "quốc gia thực sự" người Mỹ lo xây dựng, bảo vệ chỉ có hình thức. Chế độ QGVN của Bảo Đại (1949-1955) không có được sự độc lập và chủ quyền tối thiết. Mãi tới giữa năm 1953, khi đại đa số quốc dân Pháp đã đòi hỏi chấm dứt cuộc chiến tranh đắt giá, Paris mới cho phép "kiện toàn" nền độc lập của QGVN, và phải tới ngày 4/6/1954, Hiệp ước Kiện toàn Độc lập mới được ký tắt giữa Thủ tướng Joseph Daniel và Bửu Lộc, để thay thế Hiệp ước Elysée (8/3/1949) và Pau (1950). Đây là nỗi khổ tâm và bối rối cho rất nhiều người không Cộng Sản. Họ chẳng có lựa chọn nào khác hơn là cố gắng vun đắp cho chế độ, chống lại chiến thắng của Cộng Sản, trong khả năng hạn hẹp của mình, với hy vọng ngày càng biến thành ảo vọng là chế độ sẽ cải thiện, hiệu lực hơn. Nhưng những cá nhân và tổ chức yêu nước chân chính bị loại sang bên lề lịch sử, với những danh hiệu như trùm chăn, hay kinh niên bất mãn. Từ năm 1946, phất cao ngọn cờ chống Cộng tại các dinh thự, công viên, nhà hát lớn nhỏ là thành phần cựu công chức, quan lại, quân nhân của thực dân Pháp, với những chồng hồ sơ bảo đảm sự trung thành của họ với mẫu quốc, cùng những kẻ thời cơ và hủ Tây.

Thêm vào đó là những tổ chức tôn giáo–do chỉ thị từ ngoài nước như Ki-tô giáo từ cuối thập niên 1920, hoặc do hận thù cá nhân như Hòa Hảo sau cái chết của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1919-1947), hay do nhiều lý do cá biệt như Cao Đài. Nhiều tăng sĩ Phật giáo như Hòa thượng Tố Liên, Tâm Châu, Quảng Độ, v.. v... từng là nạn nhân của "bạo lực cách mạng"–tức những hành vi chôn sống, cắt cổ mổ bụng, khoét mắt, cắt lưỡi man rợ những người không theo Cộng Sản, cùng các nhà tu hành. Chiêu bài sính dụng nhất cho các nhóm này là lấy niềm tin tôn giáo (tín ngưỡng) chống lại chủ thuyết vô thần. Từ một mắt nhìn nào đó, lập trường này có căn bản vững chắc và khả năng thuyết phục. Karl Marx và đệ tử công khai ví tôn giáo như thuốc phiện; và ngay chính Hồ Chí Minh đã tuyên bố tại Mat-scơ-va năm 1923-1924 là tại Việt Nam vừa có thuốc phiện thực sự, vừa có Ki-tô giáo (thuốc phiện tinh thần), cùng với tư bản và thực dân đóng góp vào việc "câu rút" giới nông dân nghèo khổ.(11)

Yếu tố niềm tin tôn giáo này thủ diễn vai trò quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam; và hầu như chẳng ai dám giải thích cho họ rằng Cộng Sản tự nó cũng là một thứ học thuyết mang tính cách tôn giáo–nhưng khuyết điểm và sự ham hố của Marx là hứa hẹn một thiên đường trong tương lai trên mặt đất, một điều bất khả, và cũng chẳng ai dám đoan chắc chuyện gì đã xảy ra ở cái gọi là cộng đồng xã hội nguyên thủy mà Marx dùng làm tiền đề. Tôn giáo thì khôn ngoan hơn, rao giảng về tương lai ở cõi chết, một điều không ai có thể tri nghiệm để cổ võ hay bài bác. (12)

Hiệp ước Geneva 20-21/7/1954–qui định hai vùng tập trung với vĩ tuyến 17 làm ranh giới ngưng bắn trong vòng 2 năm–đánh dấu một khúc quanh mới của cuộc chiến. Người Mỹ sử dụng Ngô Đình Diệm (1897-1963) để xây dựng miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống Cộng hầu "bao vây, ngăn chặn" [containment] sự bành trướng của chủ thuyết Cộng Sản xuống Đông Nam Á, vựa lúa, kho dầu hỏa cùng các tài nguyên thiên nhiên khác như thiếc, kẽm, cao-su v.. v... cần thiết cho các nước kỹ-nghệ-hoá ở phương Tây. Từ ngày 7/7/1955, sau khi đã nhất thống miền Nam qua việc đánh dẹp ba sứ quân Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cùng các đảng phái, Diệm biến chống Cộng thành ý thức hệ và quốc sách của miền Nam. Ngô Đình Nhu, với sự tiếp tay của vài linh mục Ki-tô, đưa ra thuyết "Nhân Vị"–một thứ chow mein, gồm những mảnh vụn của thuyết "personalisme" của Emmanuel Mounier, đạo đức học Ki-tô giáo, Khổng giáo, và nhất là tàn tích "phong trào cách mạng quốc gia" dưới thời Toàn quyền Jean Decoux (1940-1945).

Qua thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975), vẫn chưa có lý thuyết gia nhà nước nào xuất hiện, nên đôi người lục lọi mớ cổ thi Trung Hoa để tìm cho truyền thống dân tộc một lớp son triết lý "vơ vào," kiểu Khổng học hay Nho giáo vốn là của người Việt. Có người còn luẩn quẩn, lạc đường với những câu trừu tượng "một mà trăm, trăm mà một" của bộ sách bói toán mang tên Kinh Dịch. Niềm tin phổ biến nhất, là phong thủy, tử vi, tướng số. Tướng cầm quân xuất trận phải nhờ "chiêm tinh gia" khuyên bảo giờ tốt, giờ xấu, hay hướng xuất quân. Bàn ghế, cửa sổ, cửa ra vào ở các văn phòng các cấp chỉ huy phải đặt đúng hướng "địa lý".

Người Mỹ và giai tầng cầm quyền chỉ chú tâm vào thực dụng–tức săn đuổi, truy đánh các đơn vị Cộng Sản, nâng cao hiệu lực và tinh thần đạo quân sấp sỉ một triệu người, cùng nỗ lực bình định nông thôn. Để có lý do duy trì đạo quân khổng lồ trên, người Mỹ rao giảng về chế độ dân chủ, tự do kiểu tư sản. Nam Việt Nam lại có Quốc Hội, Hội Đồng tỉnh và thị xã, hội đồng xã, thôn, Giám sát viện. Hành pháp trung ương thì có Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, v.. v... Nhưng sau cái hình thức dân chủ vàng mã phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, Thiệu khẳng định–"Hành pháp và lập pháp phải là một."

Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi ngày 1-2/10/1967, Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho 2 biệt đoàn Cảnh Sát Dã Chiến bao vây Quốc Hội thảo luận việc phê chuẩn kết quả cuộc bầu cử Tổng thống 3/9/1967, "chuẩn bị hốt trọn ổ;" hay, lực lượng an ninh khiêng bắt một Dân biểu, cựu tỉnh trưởng khỏi Quốc Hội như một con vật bị bệnh truyền nhiễm. Đa số Nghị sĩ, Dân biểu biến thành "gia nô" của chính quyền. Phần đệ tam quyền, tức Tư pháp, trở thành công cụ, nha trảo của hành pháp từ lâu. Pháp đình và mọi thứ luật, kể cả bản Hiến pháp được Johnson phê chuẩn trước khi ban hành ngày 1/4/1967, chỉ được sử dụng để trừng trị những ai chống đối chế độ, hay người nghèo khổ. Những tội phạm chiến tranh như Đặng Sỹ, Nguyễn Mâu, Dương Văn Hiếu, Nguyễn Thiện Dzai được giảm án và phóng thích vì nhu cầu chính trị–trước áp lực Ki-tô giáo–mà không dựa theo một căn bản pháp lý nào. Tóm lại, người ta sử dụng độc tài giáo phiệt, rồi quân phiệt chống lại độc tài Cộng Sản–dùng dịch tả chống dịch hạch. (Tướng Edward Lansdale từng đưa ra nhận xét: "Từ khởi thủy, muốn tạo ra một chế độ quân phiệt, cách nào trách nó không dân chủ!")

Ngay đến sinh viên dự bị Triết học và Chính trị học cũng hiểu rằng sức mạnh căn bản của Cộng sản là tổ chức. Lenin từng nói: "Tôi có ba bảo bối: Tổ chức-tổ chức-và tổ chức." Dĩ nhiên, để chống Cộng, VNCH cũng có nhiều tổ chức. Nhưng căn bản nhất vẫn là hai cơ quan tuyên truyền và an ninh-cảnh sát. Dưới sự bảo trợ và huấn luyện của chuyên viên Mỹ, dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, hai cơ quan trên tiến bộ đáng kể so với thời Ngô Đình Diệm. Mặc dù cán bộ Cần Lao-Nhân Vị được khai phục, nhưng hệ thống công an, mật vụ nới rộng cho những thành phần xã hội khác. Người Mỹ tận dụng được một số hồi chính viên vào mặt trận đấu tranh chính trị. Hàng ngàn cán bộ chiêu hồi vô danh trong các toán bình định nông thôn (PRU) và chiến dịch Phượng Hoàng (Phoenix) do cơ quan CIA chỉ huy một thời làm bừng lên chút sinh khí trong mặt trận đấu tranh chính trị.

Sự cải thiện các phương tiện thông tin–đặc biệt là truyền thanh và rồi truyền hình–cũng đóng góp vào quốc sách chống Cộng. Những chương trình Dạ Lan của Đài Phát thanh Quân đội hay Thẩm Thúy Hằng của Đài Sài Gòn–dù không thể so sánh với các đài Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Cứu Quốc v.. v... do cơ quan Thông tin Mỹ điều khiển–quyến rũ hàng triệu thính giả. Các toán văn nghệ lưu động của Cục Chính Huấn cũng mang lại nhiều niềm vui cho các binh sĩ tiền đồn và đặc biệt là cấp chỉ huy hào hoa. Nhưng đó chỉ là một vài cánh én, không đủ mang đến mùa Xuân. Đại bộ phận đấu tranh chính trị thường nặng về hình thức, và chịu ảnh hưởng nặng nề của guồng máy thư lại cùng tình cảm cá nhân. Bởi vậy, trên giấy tờ, việc tổ chức khá chi li, kỹ càng, nhưng thực tế chỉ là những bộ xương khô.

Về nhân sự, càng nhiều vấn nạn. Ở thượng tầng, không có một nhân vật nào đủ tài đức thu phục nhân tâm. Trong hai năm 1954-1955, người ta đã tưởng Ngô Đình Diệm có thể là một đáp số. Nhưng chỉ sau ít năm cầm quyền, "Winston Churchill của Đông Nam Á Châu" bộc lộ dần bản chất–Diệm chỉ có thể là một Tuần vũ tốt hay thanh liêm, chưa đủ tài đức cầm quyền một nước, đặc biệt là một tiền đồn thế giới tự do. Trong khi thói quen quan lại Ki-tô thuộc địa khiến anh em Diệm bắt báo chí ngoại quốc phải gọi mình là "Ngô tổng thống" hay "Ngô cố vấn," và cơ quan tuyên truyền trong nước tung hô "muôn năm," xưng tụng như "cứu tinh," văn thư, tài liệu chính thức Mỹ cho thấy Diệm chỉ như một thứ "ngựa" [horses] mà Mỹ nhiều hơn một lần cứu xét việc thay thế. Diệm lại chỉ tin tưởng và trọng dụng những người đồng đạo và cùng quê miền Trung, nhất là Huế và Quảng Bình.

Những người thay thế Diệm, dù trẻ trung hơn, càng yếu kém hơn nữa. Tất cả đều lên nắm quyền theo sự yêu thích của các Đại sứ hay những nhân vật quyền thế Mỹ; nhưng không có được cái uy thế cá nhân của Diệm. Đại sứ Taylor từng gọi nhóm "Young Turks" (Thiệu, Kỳ, Thi, Cang) vào Tòa Đại sứ, mắng nhiếc thậm tệ về hung tính ưa đảo chính, đi ngược lại những lời dặn dò của Taylor là cần ổn định chính trị bằng mọi giá. Tổng thống Johnson muốn Taylor có được "our boy" để điều khiển guồng máy chính quyền hầu như không hiện hữu trong giai đoạn 1963-1967. Trong khi Kỳ thích tạo hình ảnh một cậu chăn bò Trung cổ Mỹ–với hai súng Colt bá ngà trễ xuống ngang hông, ham đàn bà, cò bạc, rượu, và sử dụng bạo lực–Thiệu cũng thích gái và quyền lực, nhưng ưa nói chuyện tiếu lâm và thâm trầm, trí trá hơn. Hành động không gửi đại diện tới hội nghị Paris trước ngày bầu cử Tổng thống năm 1968 để lấy bớt gió của liên danh Humphrey chỉ là một trong những yếu tố khiến Thứ trưởng Ngoại Giao Bill Bundy gọi Thiệu-Kỳ là "cặn bã" [bottom of the barrel, absolutely the bottom of the barrel.]. Kissinger, người tận dụng mọi nỗ lực để duy trì chế độ Thiệu sau ngày ký Hiệp ước Paris 1973, thường gọi Thiệu là "son of a bitch." (13) Nhận xét của một chuyên viên Pháp, về tương lai miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 1950, quả đã được chứng thực bằng giòng lịch sử–người có khả năng lãnh đạo một miền Nam Việt Nam chống Cộng "hoặc đã chết, đang còn ở tuổi ấu thơ, hay chưa sinh ra đời." Cao Văn Viên–một trong những người tích cực đóng góp vào sự yếu đuối chính trị cũng như quân sự của miền Nam–cũng phải thú nhận sự trống vắng lãnh đạo này.

(Bấm vào đây xem tiếp phần 1 B)

Chính Đạo

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 8945)
(Xem: 7644)
(Xem: 7780)
(Xem: 7218)
(Xem: 6807)
(Xem: 6336)
(Xem: 6867)
(Xem: 7730)
(Xem: 7401)
(Xem: 7551)