- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,732

DẤU CHẤM TRÊN ĐẦU CHỮ I

29 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 3220)


Le Chieu Giang-minh hoa


N
hư những cô học trò nhỏ, áo trắng điệu đà tha thướt. Tôi còn có thêm giọng nói êm êm, thanh thoát và dịu dàng. Chúng tôi, những cô thiếu nữ đẹp như trăng, sáng rỡ và líu lo những khi tới lớp, những lúc tan trường…

 

Thày đứng lớp Kim Văn, hai lần một tuần. Chúng tôi chờ giờ của Thày, như đợi chờ để được nghe những vần thơ trác tuyệt và để học trong cuốn sách đặc sắc, mỏng, nhưng tràn đầy những nét tinh hoa...

 Thày không giáo điều, không nhất định cứ giảng dạy đúng theo chương trình của Bộ Giáo Dục đưa ra. Những thứ mà với chúng tôi đã gần như nhàm chán. Ngoại trừ có lần Thày giảng và bàn rất vui, rất dí dỏm về Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên trong Kim Bình Mai…

 

Giáo Sư, mà Thày trông rất giang hồ. Tóc dài với áo Pull, quần Jean. Vừa giảng thơ văn, Thày vừa hút thuốc, loại thuốc trong pipe, đã làm đám học trò chúng tôi ghiền luôn cái hương rất thơm tho, nồng nàn. Thày thả đầy khói trên bục giảng trông lãng đãng, đẹp và hay hay... Thày lái xe bạt mạng, len lách với xe học trò ngay trong sân trường.

 Đám thiếu nữ chúng tôi bàn về Thày nhiều hơn nói về….Cao Bá Quát hay Nguyễn Công Trứ…

 

Không biết Thày để ý tôi từ bao giờ. Chỉ biết khi giảng bài, Thày không nhìn ai khác, mà mắt cứ hướng về phía tôi, cô bé ngồi bàn cuối lớp. Mắt Thày đưa xuống tận chỗ tôi ngồi như một tín hiệu bí mật, một tín hiệu chắc phải là vô cùng thầm kín. Cũng có khi tôi tinh nghịch, liếc đôi mắt đẹp, “ kên kên “ lại Thày chút xíu.

 

Thầy thì “thầm kín”, “bí mật”, mà cả lớp như biết hết, để theo dõi, rồi bàn tán, rồi xôn xao…Có đứa còn lén viết tên Thày bên cạnh tên tôi trên bảng, trong giờ ra chơi.

Tôi ngượng ngùng, tính chuyện đổi trường cho niên học mới.

“Đổi trường”, cũng vì tôi phải thuận theo ý của BaMẹ. Trường cũ, nơi toàn những đứa vừa học vừa chơi. Có đứa vui tay, còn tính thêm cả chuyện múa bút, sa đà vô những giấc mơ hãi hùng, đầy tai ương. Mộng làm...Văn hào hay Thi sĩ.

BaMẹ bắt tôi ghi tên học trường của những vị Linh Mục, những Ông Cha “dễ sợ” và có khi còn thêm cả “ dễ ghét”, của tụi học trò. Tiện thể, tôi cũng nghĩ , nếu cứ theo học dưới “ Mái trường rong chơi “ này,  thì thi rớt và học dốt là điều không thể tránh. Bởi đi thi thì không phải chỉ có môn Kim Văn của Thày…

                                                         ********

 

Tôi gặp lại Thày ngay lớp mới, của trường mới. Chỉ sau 3 tháng hè rời xa trường cũ.

Là một Giáo Sư xuất sắc, trường nào cũng muốn Thày đứng lớp. Tôi chỉ ngạc nhiên khi Thày chẳng thắc mắc chút nào, lúc nhìn thấy tôi đứng vo vo vạt áo trắng, cúi đầu ngượng ngập chào Thày. Và trong đôi mắt, tôi ngây thơ ngước nhìn Thày với mọi thứ dấu hỏi. ..

Nhất là tôi đã không dám nghĩ, Thày tìm dậy đúng lớp tôi mới học, lại chính chỉ vì...tôi.?

 

Tiếng Pháp, một ngôn ngữ đẹp như văn chương, và bàng bạc như một tiếng hát.

Hôm nay, trong khói thuốc ngạt ngào và vẫn bằng một giọng đam mê, đầy chất Thi Sĩ. Thày đọc cho cả lớp nghe bài “Ballade à la lune” của Alfred de Musset.

 

C’ était, dans la nuit brune

Sur Le clocher jauni

La lune

Comme un point sur Le” i ”....

 

Trăng chơi vơi

Trong một đêm nâu

Trên tháp chuông vàng

Mặt trăng tròn

Như dấu chấm trên đầu một chữ “ i “

 

Giọng Thày quyến rũ và truyền cảm đến nỗi tôi nhìn ra vầng trăng sáng rực rỡ trong mắt Thày.

Đôi mắt bí ẩn của trăng soi, đôi mắt chỉ nhìn thấy riêng có tôi, qua làn khói thuốc mờ ảo, cùng với những bài giảng cũ, mới...

 

Cảm động vì bài thơ thì ít mà bởi chất giọng miên man của Thày thì nhiều, tan lớp rồi mà tôi vẫn cứ ngồi ngẩn ngơ nơi cuối lớp. Thày bước xuống khi chỉ còn có một mình tôi. Khoan thai, Thày cúi xuống thở lên tóc tôi, cùng với một lời...trìu mến.

Thày bỏ về rồi, mà tôi còn ngồi bàng hoàng với những cảm giác lạ lùng, không hiểu...

Đêm đó tôi ngủ với mùi thuốc của Thày thơm nhè nhẹ trên tóc, ngủ với mùi hương dịu dàng mà Thày đã thở trên mái tóc rất dài, đẹp mượt mà.

 

                                                                  **********

 

Tôi tham dự buổi vinh danh những Thày, Cô giáo cũ chỉ vì ham vui, và tiện thể cho một số công việc sau đó.

California những ngày chớm xuân, dọc theo những freeway tôi ngang qua, là rất nhiều hoa đang chớm nở. Nắng của sáng sớm rực rỡ, luôn làm tôi cảm thấy đời sống đầy ắp những tươi vui và mời gọi.

Với lòng hân hoan đó, tôi rộn rã hàn huyên cùng bạn bè cũ, mới, trong buổi họp mặt rất đông thiên hạ.

 

Tôi đã không nhận ra là ai, cho đến khi Thày phải giới thiệu lại cả họ, lẫn tên.

 Riêng Thày, nhận ra tôi bởi giọng nói. Âm thanh của những líu lo ngày xưa, thuở đi học, giờ vẫn chưa nhiều thay đổi.

Đứng trước mặt tôi, không còn cái vẻ giang hồ, lang bạt của người thày cũ. Lưng Thày hơi cong xuống, cho tôi nhìn ra sự xô lệch nhanh chóng của đời người. Thêm mái tóc lưa thưa, bạc trắng và đặc biệt là tiếng nói.

Cái âm thanh khàn đục làm tôi phải khó khăn lắm mới nghĩ ra Thày đang nói gì.

Trong tất cả những kỷ niệm mà đôi khi tôi nghĩ, nhớ về Thày. Duy nhất là mùi hương êm ái mà Thày đã thở trên tóc tôi, trong một chiều tan lớp. Kèm theo một câu nói đầu đời tôi được nghe, nghe lần thứ nhất, với đầy mê đắm, và chao đảo.

Thày nói có vài câu mà sao tôi thơ thẩn cả một thời gian dài, và cảm xúc đã làm tôi lạnh hết đôi tay mỗi khi nhớ đến. Nhưng cuối cùng, tất cả đã như gió bay đi.

Tuổi trẻ, chúng ta dễ quên hết mọi thứ, mọi điều. Như một ánh chớp loé sáng, rồi loãng tan theo cùng với những tung tăng, những vui đùa, và mưa nắng của đời...

Tôi đã không thủy chung theo đôi mắt chìm đắm của Thày, đôi mắt đẹp như trăng sáng.

Tôi cũng đã quên mất giọng trầm ấm, nồng nàn, khi Thày đọc những vần thơ mơ màng của Alfred de Musset.

 

Tôi mê những bức Tranh.

Tôi đã quyết liệt và quyết tâm. Tôi bước những gót chân nhẹ nhàng, rón rén, nhưng vô cùng liều mạng. Theo một người Họa Sĩ tài hoa, dù cho có nghèo nhất thế giới.

Chúng tôi đã sống cùng nhau cho đến ngày, chỉ còn có nỗi Chết mới là sự phân chia, mới là lời vĩnh biệt…

****

Buổi họp mặt cứ nấn ná như chẳng ai còn muốn ra về. Tôi và Thày bỏ bữa tiệc không muốn tàn, tìm ra một quán nhỏ.

Chúng tôi ngồi với Trăng, hướng nhìn xa xa là ngôi Thánh Đường đẹp nhất California: Christ Cathedral.

Tôi nhắc với Thày về những buổi học ngày xưa, những bài thơ Thày hay đọc.Thày hỏi tôi có còn muốn nghe lại bài thơ về vầng trăng, của những năm tháng cũ?

 

“ Lune, quel esprit sombre

Promène au bout d’un fil

Dans l’ombre…”

“ Trăng ơi, hồn tăm tối

Lắng sâu trên sợi chỉ mong manh

Và, đêm thâu…”

 

Tôi nhìn ánh trăng tròn, nằm mơ màng trên tháp nhà thờ. Tiếng Thày đọc khàn câm, lan man về những âm ỉ của quá khứ.

 

Thày khóc.

Nước mắt tôi cũng nhạt nhòa. Ánh trăng như chợt tối tăm ướt, theo nước mắt của Thày, và của tôi.

 Trăng như một chiếc lá trong gió đêm, theo cùng với nước mắt. Trăng lung lay qua phải, Trăng vậ̣t vờ sang trái…

 

Trăng.

 Rồi chẳng còn có bao giờ nữa, tôi thấy lại Trăng của những ngày tháng cũ.

Ánh Trăng xưa, sẽ mãi mãi không còn đứng giữa đỉnh tháp nhà thờ, như dấu chấm trên đầu của một chữ “ I “

 

Lê Chiều Giang

 

*Thơ:”Ballade à la lune”, Alfred de Musset (1810-1857)

 Chuyển ngữ: Phạm Vũ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5814)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5799)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13158)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30002)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81104)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”