- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đầu làng có cây vông

08 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 123409)

w-hopluu102-final-final-138_0_142x300_1 

LTS: Hai mươi tuổi ngồi vào bàn viết, tuổi trẻ hôm nay viết gì? Thường là câu hỏi của những ai quan tâm đến văn học và sáng tác trẻ. Mang trên vai tuổi đôi mươi cùng ý thức hành văn khá sớm, Lữ Thị Mai sinh 1988 là một trường hợp khá lạ. Khác các bạn đồng hành, không lao vào hậu hiện đại, không tìm kiếm cách tân chữ nghĩa, cũng không cấu trúc kỹ thuật tân kỳ, Lữ Thị Mai chọn một giọng văn cổ điển. Một chọn lựa khó khi cách kể chuyện và miêu tả nhân vật đòi hỏi sự quan sát tỉ mỉ và chậm rãi. Qua hai truyện ngắn đầu tay «Đầu làng có cây vông, Vết son từ Thẩm Quyến,» người đọc dễ dàng nhận ra những câu văn chắc tay mà ngữ điệu với thanh âm toát ra trên từng chữ. Các dấu chấm phẩy được chọn lựa để làm nên tiết tấu.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

Nội dung của «Đầu làng có cây vông» hãy còn êm dịu. Sang đến «Vết son từ Thẩm Quyến» tác giả đột ngột đưa vào truyện hoạt cảnh «Chát» đầy tinh quái của đời sống. Như một cách nháy mắt với thời đại.

Văn là người, nhưng văn của Lữ Thị Mai già dặn khác thường hứa hẹn sự đặc sắc trong các truyện kế tiếp. Có thể, với thêm nhiều liều lĩnh, đào sâu thêm đề tài, xoáy vào tận cùng xã hội, Lữ Thị Mai sẽ tận dụng trọn vẹn khả năng vận chuyển của lối văn miêu tả mạnh, gẫy gọn, nhịp nhàng mà ngòi bút này đang sở hữu.

 

Cha tôi ngồi ngoài hiên nhìn trân trân vào khoảng không trước mắt, chỉ có nắng, chỉ có gió và những sợi khói thuốc lào vất vưởng. Ông không nói gì cả. Chị Thu tôi đã đi rồi. Chị đi tìm người đàn ông ấy. Tôi nhớ lắm buổi chiều mùa hạ nhá nhem cha tôi cầm cái đòn gánh dứ dứ vào mặt chị mà đay nghiến: "Quân lăng loàn, mày lăng loàn hệt con mẹ mày. Cút!". Bên kia hàng rào cúc tần có những cặp mắt xoi mói, những tiếng xì xào bàn tán. Rồi chị đi. Chị không mang theo gì ngoài mấy bộ quần áo cũ gói trong chiếc túi vải nhàu ố. Tôi đưa chị đến đầu làng nơi có cây vông đang trổ hoa đỏ như lửa.

- Chị định đi đâu?

- Không biết...

Tôi nhìn vào mắt chị, cặp mắt ướt át có những sợi lông mi dài và cong, nội tôi bảo đó là cặp mắt đa tình và cả tin. Chị tôi đẹp. Chị giống mẹ tôi, nhất là đôi mắt. Còn nhớ, ngày nhỏ hai chị em tôi dẫn nhau đi chơi người trong làng thường nhìn chị thở dài. Kẻ hiền lành bảo: "hồng nhan bạc phận", cũng có người nguýt dài cạnh khoé: "Mẹ nào con nấy, đĩ một vành".

Buổi chiều ấy, đôi mắt chị như có lửa, ôi chao là buồn. Lửa như cháy rần rật trong mắt chị. Như ngày còn bé thơ, chị dang rộng vòng tay choàng qua cổ tôi, hôn lên mái tóc vàng hoe khét nắng của tôi. Chị khóc. Từ nhỏ, hiếm khi thấy chị khóc bao giờ. Gió từ cánh đồng thổi hun hút vây lấy tán vông bứt rụng những cánh hoa đỏ thắm. Chúng chao đảo rồi đáp xuống mặt đất và cuộn mình trong lớp bụi đường.

- Bao giờ chị về?

- Không biết...

Tôi nhìn xuống bụng chị. Cái bụng đã lộ rõ sau lớp áo màu xanh cánh trả. Cách đây hai hôm, nếu cha tôi không kéo tấm vải chị quấn quanh bụng xé toạc thì chắc tôi sẽ không thể biết cái thai của chị đã được hơn bốn tháng. Tôi không mấy để tâm dù đôi lần bắt gặp chị đi từ bờ ao vào với dăm quả khế trên tay hay có những hôm đang may vá chị chạy nhoài ra giếng nôn thốc, nôn tháo. Chị đi, đôi chân chị nặng nề kéo lê trên mặt đường đất, gót chân nhuốm phèn vàng cạch, rạn nứt của chị hất lên những cánh hoa vông. Buổi chiều ấy sao mà nhiều gió...

*

Anh bảo: "Em đừng nhặt hoa vông nữa". Tôi vẫn bướng bỉnh: "Em nhặt hết lần này thôi, mở đường rồi người ta sẽ chặt cây vông...". Đêm nay rằm, trăng soi sáng cả những đoạn đường làng mấp mô để lại những đốm đen lỗ chỗ trên mặt đất. Hoa vông rụng nhiều như chưa bao giờ rụng nhiều như thế. Anh thở dài. Anh cố đợi. Tôi vẫn dán mắt vào những cánh hoa đỏ thẫm xoè ra như những ngón tay. Mẹ tôi giờ ở đâu? Tôi không biết. Chị tôi ở đâu, đứa con trong bụng chị tôi ra sao? Tôi không biết. Tôi bình thản nhặt hoa vông không một mảy may. Anh là người của đoàn kĩ sư giám sát việc thi công làm đường, có lẽ cây vông cổ thụ chỉ làm chướng mắt anh. Anh muốn chặt nó sớm ngày nào hay ngày ấy. Mặc kệ! Tôi mặc kệ tất cả. Những cánh hoa vông như nặng đi trên tay tôi. Tôi không hiểu sao lại như thế. Có thể đó chỉ là cảm giác. Bàn tay tôi như bị ghì xuống mặt đường, đầu óc tôi như bị thôi miên trong sắc đỏ. Hình như có máu, có máu đang rỉ ra qua kẽ tay tôi.

"Em đừng nhặt hoa vông nữa". Anh nắm ghì lấy bàn tay tôi. Đôi mắt quắc như muốn nhắc nhắc tôi đó là mệnh lệnh. Tôi bướng bỉnh xòe rộng bàn tay hơn để nắm giữ những bông hoa…

Anh đi, bóng anh khuất dần trên con đường dẫn về nhà ông trưởng thôn. Anh không đủ kiên nhẫn để đợi tôi. Anh bỏ mặc tôi với những cánh hoa định mệnh. Gió thổi mạnh hơn, thấy có cảm giác lành lạnh vuốt dọc sống lưng, mơn trớn bầu ngực căng tròn của tôi sau lớp áo cánh mỏng... "Ngày rằm chớ nhặt hoa vông, ma nó theo về nhà đó", lời nói của nội tôi vẳng lại bên tai nghe ù ù buốt nhói. Mặc kệ! Tôi vốn bướng bỉnh.

Trở về nhà, trên tay tôi không cầm một bông hoa vông nào nhưng tôi biết mình đã nhặt hết số hoa rụng trên mặt đường làng. Chỉ mình tôi biết. Tôi cất nó vào đâu. Không biết! Có thể cất trong cái gọi là bướng bỉnh kia.

*

Còn mồ mả nội tôi, bà nhai trầu chậm rãi rồi nhìn xoáy vào từng nét trên mặt tôi chép miệng lắc lắc mái đầu bạc trắng: "Thằng Lập nhà này vô phúc." Lớn lên chút nữa tôi mới biết mình không phải là con cha tôi. Mấy gã hàng xóm đặt cho cha tôi cái biệt danh là "Lập ngố", người ta bảo cha tôi ngố tới mức hai đứa con gái không biết đứa nào là con mình. Quanh năm cha chỉ quần quật lo làm ăn, cha theo chuyến bè ông Tính đi buôn gỗ, mùa màng lại quay về đỡ đần vợ con. Mấy chuyện hàng xóm láng giềng đồn đại không phải cha không biết. Cha biết nhưng im lặng. Chiều chiều, ông lại nhâm nhi nỗi buồn với cút rượu suông, dăm điếu thuốc lào. Ông là người khó hiểu. Ngày mẹ tôi bỏ nhà đi theo người đàn ông hay đi cân gạo làng bên, cha cũng chỉ thở dài. Hai chị em tôi chạy ra đầu làng ngóng mẹ. Cha đứng sau lưng chị em tôi giọng nói chùng xuống nặng như chì: "Con Thu dẫn em về, con mẹ mày nó không về nữa đâu." Chị em tôi khóc đỏ mắt. Ngay tối hôm ấy, cha lục dưới đáy chiếc hòm gỗ cũ một cái áo. Đã có lần mẹ tôi mang cái áo ấy ra hong nắng, mẹ kể đó là chiếc áo cưới mà bà nội dẫn mẹ đi bộ mất nửa ngày lên tận chợ huyện đo vải. Chiếc áo của mẹ màu đỏ hoa vông. Tôi chưa nhìn thấy mẹ mặc lần nào nhưng các cô tôi bảo ngày cưới mẹ mặc chiếc áo ấy tôn lên nước da trắng bóc trông mẹ lộng lẫy lắm.

Tôi đứng nép bên vách nhìn cha cầm chiếc áo trên tay, ông miết những ngón tay lên mặt vải, lên từng đường kim khâu. Rồi ông ấp chiếc áo lên lồng ngực trần đen bóng của mình mà khóc. Cha tôi khóc vụng về, ông đưa những ngón tay thô kệch lên chùi nước mắt. Ông tẩm dầu đốt cái áo cháy khét lẹt một góc sân. Tôi trở vào căn buồng ngột ngạt tối om, nhìn qua cửa sổ dưới ánh trăng sáng lạnh bóng cha đổ dài trên mặt sân đất.

*

Tôi vẫn đi học. Trường cấp ba cách nhà gần hai mươi cây số. Từ ngày mẹ tôi theo người đàn ông ấy, chị Thu chửa hoang phải bỏ làng đi, tôi vẫn lủi thủi một mình đạp xe đi học trên con đường đất dẫn lên phố huyện. Mùa này hoa vông nở nhiều vô kể. Cây vông đầu làng tôi chẳng biết có từ bao giờ chỉ biết thân nó to đến mấy người ôm. Trên huyện người ta trồng nhiều vông lắm nhưng chẳng cây nào to và rực rỡ như cây vông làng tôi. Cánh vông xoè ra hệt những ngón tay, khi hoa vông nở chẳng thấy lá đâu chỉ có những cành cây già nua sừng sững và toàn hoa là hoa. Đi học về, tôi thường dựng xe bên đường nhặt hoa vông. Có lần cha tôi say rượu, ông vào buồng nhìn thấy mấy bông hoa trên bàn học mắt ông trợn ngược, vằn lên tia nhìn dữ tợn: "Mày vứt ngay cái thứ hoa vong tình ấy đi". Tôi không đáp lại, mắt tôi nhìn vào mấy chiếc hoa vông mình nhặt ban chiều. "Con kia, mày điếc hả?"

Ông quờ tay với cái phích nước ở góc nhà ném choang, nghe những âm thanh đổ vỡ, tôi biết ông đã ném tất cả những gì ông vớ được. Ông xông vào bóp mạnh hai bờ vai tôi lắc lắc. Bàn tay hộ pháp của cha giật mái tóc tôi quấn mấy vòng quanh cánh tay. Miệng ông gào lên: "Quân vong tình, quân phản bội...". Trong cơn say, ông gọi tên mẹ tôi bằng cái giọng chát bứ hẫng hụt. Tôi chỉ biết lặng im. Chỉ biết đau đớn hứng trọn những cái tát của ông. Ông cầm tóc tôi giật mạnh về đằng sau để mặt tôi ngửa lên, rồi bàn tay ông lại vơ nắm hoa vông nhét vào miệng tôi. Tôi không thấy đau. Tôi không gào khóc, chỉ thấy đắng ngắt trong miệng. Ừ! Hoa vông có vị đắng, lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra hoa vông đắng thật. Vị đắng như chảy tràn xuống tận cuống họng tôi. Hồi lâu như đã mệt, ông loạng choạng đổ người vào xó nhà bỏ mặc tôi ngồi lặng trong bóng tối. Những cánh hoa vông đã nát, vị đắng tan loãng trên môi. Về sau chính tôi cũng không hiểu sao buổi tối hôm ấy mình không khóc.

*

Cha cấm tôi mang hoa vông về nhà. Ông cấm tôi nhặt hoa vông nhưng không thể cấm tôi đi qua đầu làng khi đi học hay lúc làm đồng. Tôi bướng bỉnh. Phải! Có ai cấm được tôi làm mọi việc theo ý mình vì tôi mang dòng máu của mẹ tôi, giống chị Thu tôi. Cây vông vẫn còn đó. Gió vẫn thổi bạt trên tán cây. Mười bảy tuổi, tôi vẫn nhặt hoa vông như là để tưởng niệm nỗi xót xa, để thỉnh cầu sự bình an cho những người đã ra đi. "Ngày rằm chớ nhặt hoa vông ma nó theo về nhà đó". Tôi mặc kệ lời nội. Nội tôi đi xa đã mấy năm rồi, tôi cũng để lời nội tan cùng với gió...

Tôi vẫn nhặt hoa vông ngay cả ngày rằm. Tôi nhặt hoa cho mình, nhặt cả phần cho mẹ, cho chị Thu, hai người phụ nữ đi qua đời tôi bằng nỗi đau đớn.

Đẩy cánh cửa cổng làm bằng mấy thanh tre, tôi dắt xe đạp vào khoảng sân hẹp phơi đầy củi xoan khô. Cha tôi đang ngồi hút thuốc lào. Bao giờ cũng thế, ông tiễn chiều qua bằng khói thuốc. Mâm cơm đậy lồng bàn để trên chiếc chõng đã nguội ngắt.

- Sao cha không ăn cơm trước đi.

Cha không nói gì. Từ lâu lắm, tôi quen với sự im lặng của cha. Đôi mắt ông nheo nheo trong ánh chiều chạng vạng. Sau làn khói thuốc mỏng tang, cảnh vật như liêu xiêu mờ nhạt.

- Hình như người ta sắp mở đường qua chỗ cây vông ấy.

Rõ ràng là cha nói mà tôi nghe tựa hồ giọng nói của ai. "Mở đường", "Cây vông"... Có thể lắm. Chiều nay, lúc đi học về tôi có thấy mấy người cầm thước đo đạc rồi bàn tán gì đó... Lẽ nào người ta mở đường thật.

*

 

Những sợi khói thuốc xanh bạc vẽ vòng trong buổi chiều nằng nặng, oi oi cuối hè. Mắt cha đăm đắm nhìn xuống những ngón chân thô kệch của mình ông nói vợ chồng tôi: "Nghe bà Nhài xóm bên bảo con Thu đã lấy chồng, đứa nhỏ ngày ấy cũng không giữ được nữa, hai vợ chồng mày sang hỏi bà ấy xem thế nào rồi thu xếp đi thăm nó một chuyến." Cha nhìn tôi, tôi quay đi tránh cái nhìn của ông đùng đục, hình như có nước... Ba năm, con đường đổ xong, tôi tốt nghiệp phổ thông rồi lên tỉnh học may và trở thành vợ anh, người đàn ông chưa khi nào đủ kiên nhẫn đợi tôi nhặt hoa vông mỗi đêm hò hẹn. Cũng lạ, hò hẹn với anh mà tôi không biết làm gì ngoài việc nhặt hoa vông. Có đêm, tôi chôn chân ngồi miết dưới gốc vông, thấy vẳng bên tai lời ru của mẹ:

"Hoa vông rụng suốt đêm rằm

Tình là sợi mắc chim giăng ngang trời.. À ơi…

Tình là sợi mắc, chim giăng ngang trời..."

Ngẩng đầu lên thì đã không thấy anh đâu. Tôi toát mồ hôi. Mẹ tôi, những người phụ nữ quê tôi vẫn ru con bằng câu hát ấy. Dưới ánh trăng hai bàn chân tôi trắng toát, rõ ràng chân mình tôi vẫn tưởng chân ai. Đám hoa vông vây kín đôi chân tôi, một lớp keo vô hình nào gắn chặt đôi chân khiến tôi không bước đi được. Bãi hoang giữa cánh đồng đen kịt nổi lên những đốm trắng của mồ mả. Nội nằm ngoài kia. "Ngày rằm đừng nhặt hoa vông, ma nó theo về nhà đó". Tôi chạy một mạch về nhà. Anh vẫn còn đợi tôi trước ngõ, anh nhìn tôi đăm đăm, mắt anh như đựng gió khuya qua cái nhìn xa lắc. Sau đêm ấy tôi không ra gốc vông đầu làng nữa.

 

*

Đứa nhỏ da đen bóng dắt con nghé bên vệ đường chỉ cho vợ chồng tôi nhà chị Thu:

- Đó! Cái nhà lợp ngói đó cô.

Tôi vuốt tóc rồi cười với nó. Anh đưa tay lau những giọt mồ hôi đọng trên trán tôi. Tôi và anh đi về phía cái ao nước xanh lét, một bức tường dài mới xây xong còn sặc mùi vôi vữa bao quanh căn nhà nhỏ. Có tiếng võng đưa kẽo kẹt, có tiếng ru khàn khàn:

"Hoa vông rụng suốt đêm rằm

Tình là sợi mắc chim giăng ngang trời

À ơi!..."

Tôi như ngã quỵ, tiếng ru của chị Thu nặng nề đưa theo cánh võng. Tôi đưa tay ngăn anh, anh đang định gọi người trong nhà ra mở cổng.

"Mình về!" Tôi nói rồi chúi mũi bước về phía trước, tôi bước nhanh như cố chạy trốn điều gì, lời ru của chị níu chân tôi trầy trật. Những cánh hoa vông như phủ lên ngập bước chân tôi. Màu đỏ tươi chảy lan trong mắt. Bóng tôi và anh đổ dài trên mảnh ruộng rì rào sóng lúa. Phía đầu làng, nơi con đường mới rải nhựa loang loáng vắt qua cánh đồng tôi thấy có cây vông sừng sững thắp lên búp lửa.

 

 

Vết son từ

Thẩm Quyến

 

Tôi bước lên từng bậc cầu thang dẫn lên ban công đầy gió. Bức tường đêm như sán lại gần tôi, phì phò thở, màu xanh len lét của đèn neon như ma trơi chập chờn xui những ý nghĩ mông mị của tôi lóe lên. Chợt thấy như có bàn tay vô hình nào đó kéo tôi đi. Người tôi nhẹ bẫng. Đứa con trong bụng tôi như bốc hơi đi đâu mất khiến bước chân tôi bước trên cầu thang nhẹ nhàng đến lạ. Đưa bàn tay lên xoa bụng thấy nao nao cơn chóng mặt lại dội lên. Một cảm giác chộn rộn quấn lấy tôi và cả đứa con bé bỏng chưa kịp chào đời. Cái bụng của tôi sắp tới ngày sinh vậy mà chẳng hiểu sao nó cứ im lìm đến khó chịu. Con tôi không chịu đạp, cũng không cựa khẽ một chút để tôi yên tâm. Tôi nói với chồng, Tường bảo: "Con chúng mình nó thương em, biết em không chịu được đau nên nó ngủ ngoan vậy đó thôi. Con mà đạp em lại chẳng kêu toáng lên ấy." Tôi nở nụ cười nhàn nhạt nhìn khuôn mặt lấm tấm mồ hôi của anh sau giờ tan sở lại tất bật lên xe phóng về ôm lấy tôi, áp tai vào bụng do thám đứa con trai chắc hãy còn đang ngủ. Gió thổi u u, gió như đến từ một nơi nào xa lắm.

 

*

 

Ông bác sĩ già là chỗ thân cận bên gia đình chồng nhìn tôi cười:

- Cô nhà cứ an tâm, thai khỏe phát triển bình thường chỉ đợi tới ngày sinh thôi.

- Nhưng cháu chẳng thấy nó đạp gì cả.

Tôi chau mày lo âu trong khi gương mặt Tường lại bình thản đến lạ lùng khi anh quay sang nhìn ông bác sĩ:

- Không sao đâu. Xem ra cu cậu nhà mình ngoan từ trong trứng… Đúng là con nhà tông…

Ông cười xòa, Tường đỡ tôi đứng dậy ân cần:

- Đấy! Anh đã bảo em mà. Em cứ lo âu vậy chứ có chuyện gì đâu.

Tường thanh toán tiền khám thai rồi cùng tôi cúi chào ông bác sỹ nhân hậu. Một tay anh cầm giùm tôi cái túi xách một tay anh dìu tôi ra chiếc taxi đợi sẵn bên đường. Tôi biết có những cái nhìn ngưỡng mộ đằng sau chúng tôi. Nghe thấy tiếng của một cô gái trẻ chao chát:

- Đời con gái sao nhiều người họ sướng thế không biết. Chả bù cho mình, chửa vượt mặt còn…

Mấy băng ghế dài có đến hơn hai chục người phụ nữ đợi tới lượt mình. Họ xì xào bàn tán và kết thúc cho tất cả tôi nghe rõ lắm, là một tiếng thở dài thườn thượt.

Cánh cửa taxi đóng sập lại, tôi tựa vào vai Tường thiếp đi. Trong cảm giác mê man tôi nghe thấy tiếng anh nhỏ nhẹ: "Tối nay anh gặp đối tác về muộn, em và con ở nhà nghe". "Anh mở cửa ra đi". Tường im lặng đưa cánh tay săn chắc đẩy cánh cửa taxi ra một chút. Chiếc xe lao đi vun vút tôi cố nhắm mắt, cố nén cảm giác bất an trong lòng.

*

 

23 giờ, Tường chưa về. Chị giúp việc ngủ ở phòng bên tiếng ngáy phè phè nặng nhọc. Tôi lên mạng, bạn bè tôi không ai lên mạng giờ này. Những biểu tượng mặt người trở nên xám xịt. Đang định Out thì một cái nick lạ nhảy vào với lời chào là một dãy số 2 quen thuộc.

hanhnguyen: Ai vậy?

nguoitinhthamquyen: A! mà cô không biết tôi đâu.

hanhnguyen: Lạ thật đấy.

nguoitinhthamquyen: Ừ! Lạ… Người ấy trả lời lấp lửng.

hanhnguyen: Ai vậy? Tôi nhắc lại câu hỏi đồng thời khi ấy cái cảm giác bất an lại quay lại với tôi. Đơn giản là anh vẫn chưa về vả lại từ ngày lấy chồng tôi đã bỏ thói quen online vào lúc đêm khuya.

nguoitinhthamquyen: Chồng cô vẫn gọi tôi là "người tình Thẩm Quyến". Cô cứ gọi tôi là Lý Tiểu Đam. Mà thôi, gọi Tiểu Đam thôi gọi cả họ tên vậy nghe hình sự quá.

Tôi thở dài. "Ừ! Người tình Thẩm Quyến". Lại một cô gái Trung Hoa có quan hệ với chồng tôi. Những chuyện như thế tôi chẳng lạ gì. Nhưng điều gây ngạc nhiên cho tôi là trong số các cô gái Trung Hoa anh quen biết có lẽ cô này là thạo tiếng Việt. Thú vị đây!

nguoitinhthamquyen: Con cô sắp chào đời rồi phải không?

hanhnguyen: Sao cô biết?

nguoitinhthamquyen: Tường bảo.

hanhnguyen: Tường bảo, nghe hay nhỉ!

Tôi nhắc lại câu của cô gái Trung Hoa xa lạ rồi Out. Cô ta thực sự làm tôi khó chịu. Tiếng chuông điện thoại đổ dồn, tôi nặng nề đứng lên nghe máy, chưa kịp a lô thì tiếng thằng Nam, em chồng tôi đã léo nhéo bên tai:

- Anh Tường say quá ngủ lại chỗ em, báo để chị an tâm. Ngủ ngon nhé bà chị.

Cũng chưa kịp dặn thêm nó lời nào thì đầu máy bên kia đã nghe tiếng "tút tút…"ong cả tai.

 

*

 

Chị Nết giúp việc cẩn trọng nhìn trước ngó sau rồi chìa ra cho tôi cái áo sơ mi hiệu Pierre Cardin của chồng tôi. Tôi bình thản đưa tay đón lấy cái áo rồi hướng ra cửa sổ. Thật dễ dàng nhận thấy vết son môi ở cổ áo của anh. Vết son màu hồng sáng. Tôi nhìn khuôn mặt căng thẳng lo âu của chị giúp việc mà mỉm cười độ lượng:

- Giống như màu son Docteur Glamour của E’Zup ấy nhỉ?

- Tới nước này mà cô còn đùa sao? Tôi cho vào máy giặt mà không sạch được.

Tôi không có ý định đùa một người phụ nữ quê chất phác như chị làm gì. Năm năm làm vợ anh, làm con dâu trưởng của một gia đình quyền quý những năm anh du học, mẹ chồng đã răn dạy tôi phải làm những gì để tròn bổn phận người vợ, bổn phận dâu con trong dòng tộc nhà anh.

- Giặt máy không sạch được. Để tôi giặt bằng tay. Khiếp! Son mới chả phấn! Hại người! Chị giúp việc làu bàu trong miệng.

- Chị vứt nó đi!

Tôi vung tay đưa cái áo về phía chị rồi trở vào phòng ngủ. Buổi chiều mùa hè oi ả. Trong căn phòng gắn máy điều hòa lạnh âm âm. Tôi đưa tay khẽ kéo chiếc váy lên, dưới lớp da trắng mịn nổi lên những đường gân xanh xao nghi hoặc. Con trai tôi vẫn ngủ. "Đạp một chút đi con! Mẹ không sợ đau đâu. Con cứ ngoan một cách đáng ngờ như thế mẹ buồn…" Tôi vỗ vỗ nhẹ vào bụng mình cưng nựng. Cứ thắc mắc sao nó ngủ nhiều đến vậy, sao cái bụng tôi cứ im ắng, sự im ắng làm tôi lo âu sợ hãi. Tôi nhắm nghiền mắt. Cảm giác mồ hôi đang rịn ra khắp lưng tôi. Bức bối đến ngột thở. Giấc ngủ mê man của tôi lởn vởn những hài nhi co quắp trong bọc nước ối. Chúng cựa quậy, chúng quẫy đạp, giãy giụa… nhưng không khóc! Đơn giản bởi chúng còn nằm trong cơ thể sản phụ, chúng chưa có quyền khóc chào đời khi chưa đến ngày đến tháng.

- Mẹ! Mẹ! Có người cứ muốn đánh dấu vào con đây này!

Cái thai đã rõ hình hài đứa trẻ giãy giụa. Nó mở to đôi mắt u uất phẫn nộ cầu cứu. M..á..u! Thấy toàn máu là máu. Máu cứ chảy và cái thai oằn mình giữa vũng máu chống đỡ cái dấu nào đó, mà một con người nào đó, đang dằn nó ra để đóng vào… trông nó tựa như sợi dây thừng cỡ lớn vặn mình trặt trẹo.

- Không!

Tôi thức dậy khi chị Nết đưa hai bàn tay thô ráp giữ chặt vai tôi. Tôi bật dậy, bất giác đưa ngay tay xuống bụng. Cái bụng vẫn lùm lùm sau lớp váy lụa hồng mát rượi. Mạch máu như rân rân giật đều từ bụng tôi lan khắp cơ thể. Người tôi tứa mồ hôi:

- Cô gặp ác mộng à? Đàn bà mang thai hầu như ai cũng thế. Mà sao nay cô lại ngủ chiều?

- Không! Không! Đầu óc tôi váng vất bởi sự ám ảnh cái thai oằn mình giữa vũng máu. Ai đóng dấu con tôi? Đóng dấu cái gì chứ? Ngày còn bé tôi có một cái bớt ở lưng, mẹ tôi bảo là bà mụ đánh dấu. Bà mụ mà đánh dấu trẻ con chắc không tới mức con tôi phải quằn quại như thế…

Chị giúp việc chườm chiếc khăn lạnh lên trán tôi, rồi xuống cổ, xuống đôi tay thon gầy làm tôi tỉnh lại. Thấy ong ong trong đầu. Ô cửa sổ khép hờ để ánh nắng chiếu xéo thành vệt dài trên chiếc giường có tấm gar màu xanh lơ. Ngoài kia, có tiếng ô tô đỗ xịch trước cửa, tiếng chuông cổng réo inh tai. Cái kiểu ấn chuông ấy chỉ có thể là Tường.

 

*

 

nguoitinhthamquyen: Lại gặp cô rồi! Cô khỏe chứ?

hanhnguyen: Cảm ơn, tôi khỏe. Cô thế nào?

Tôi nhắn dòng tin gửi cho nhân vật mình vốn không thiện cảm. Tiếng nước trong bồn tắm ào ạt chảy. Hình như Tường đang hát, bài hát ngày xưa anh sáng tác cho tôi: "Như là bên anh, biển gió vỗ vào khát khao, như là bên anh lắng trong hơi thở hạt cát nhu mì…"

- Em yêu, đang làm gì thế?

- Chát cùng người tình Trung Hoa của anh.

- Vớ vẩn, Out đi, anh ra bây giờ.

Tôi cười đưa tay vuốt lại mấy sợi tóc rũ xuống trán. Bất chợt một hơi nóng xốc ngược từ bụng tôi lên tận đỉnh đầu nhức buốt. Tôi thở hắt ra. Quờ tay lên bàn phím tôi chào cô ta cho qua chuyện:

hanhnguyen: Thôi, chào cô nhé! Chúc vui!

nguoitinhthamquyen: Khoan đã! Tôi muốn thương lượng với cô.

hanhnguyen: Lại gì nữa đây NGƯỜI TÌNH THẨM QUYẾN? Tôi vẫn còn đủ bình tĩnh viết hoa cụm từ ấy như một sự mai mỉa.

nguoitinhthamquyen: Một là cái giá chồng cô đáng phải trả, hai là để tôi hôn đứa con trai cô.

hanhnguyen: Khó hiểu quá! Cô điên rồi!? Không bao giờ… Ngớ ngẩn.

 

Tôi tắt nick.

*

 

Tính ngày đã quá hai hôm mà vẫn chưa thấy gì. Đêm nay Tường cứ đòi hát trọn bài hát ấy cho tôi nghe, anh bảo: "Không chỉ có em nghe đâu, con chúng mình nghe nữa đấy. Nó sẽ thấy gia đình mình hạnh phúc biết nhường nào". Trong vòng tay anh, giai điệu êm ái đưa tôi chìm vào giấc ngủ họa hoằn ma mị. Người con gái tôi chưa gặp bao giờ, cô ta quẳng về phía tôi ánh nhìn sắc lạnh. Cả khuôn mặt cô ta trắng bệch nổi bật lên là đôi môi căng mọng màu hồng sáng hệt màu son môi trên cổ áo anh. Cái thai mở to miệng ngáp trong bất lực, nó không cất tiếng khóc mà nói rõ ràng bằng chất giọng đầy phẫn uất: "Người ta đòi đánh dấu con". Cặp môi cô ta nhập nhèm màu đỏ của sự khát máu. Khẽ lia đầu lưỡi lên đôi môi, cô ta nhìn tôi cười thách thức. Cố vươn đôi tay bé nhỏ yếu ớt về phía đứa con tội nghiệp tôi càng thấy nó xa tôi. Nó như bị cuốn chảy phăng phăng theo một dòng sông đỏ thẫm. Dòng sông màu máu, có những lúc ánh lên màu son xa lạ trên cổ áo của Tường. Vết son di chuyển nhập nhằng trong bóng đêm… Có tiếng trẻ con khóc ré lên và một dòng máu chảy dài…

- Trả con lại cho tôi. Con ơi! Tôi gào lên vô vọng. Tiếng cười man dại của người con gái kì dị ấy xé toạc nỗi đau đớn của tôi.

- Em! Em sao vậy, con mình làm sao? Em!

Tôi nhìn Tường trân trân, anh lấy lại vẻ điềm nhiên xoa vào bụng dưới của tôi trấn an. Vùng khỏi vòng tay anh, tôi chạy bổ xuống cầu thang hốt hoảng lớn tiếng gọi người giúp việc:

- Chị Nết! Chị Nết đâu! Chị…

- Sao thế cô? Ấy ấy, cô đứng yên trên đó.

Chị Nết hấp tấp từ phòng khách bước lên cầu thang mập mờ dưới ánh đèn neon.

- Chị… Chị… đã… vứt chiếc áo kia… ở đâu rồi?

Mặt chị ta đột nhiên giãn ra tỉnh bơ:

- Ôi dào! Đúng là người ăn chẳng hết kẻ lần không ra… Chiếc áo mới thế tôi không vứt đang ngâm dưới kia kìa.

Tôi thất thần gào lên:

- Tôi đã bảo chị vứt nó đi cơ mà.

- Được rồi. Cô cứ bình tĩnh lại. Rõ khổ, đến ngày đến tháng mà nó không chịu ra nên cáu bẳn đấy mà.

Tường đã kịp xuất hiện trước cầu thang. Vẫn bằng cái điệu bộ điềm đạm muôn thưở. Anh dìu tôi lên phòng. Một sức mạnh vô hình đè lên tôi.

*

 

Tôi cùng mẹ chồng lên chùa. Bà vận chiếc áo dài nâu chỉ dành cho những hôm đi lễ. Miệng bà lầm rầm khấn, hồi lâu bà sụp xuống vái lạy. Mùi nhang những ngày rằm, ngày tết ấm áp là vậy mà sao ngày dưng tôi thấy rờn rợn, buồn nôn. Tiếng chuông cũng không còn vang lên thanh tịnh bình an nữa mà chung chiêng váng vất. Quay bốn phía chỉ thấy rặt những pho tượng sơn son thiếp vàng chối mắt. Có cái gì nặng nặng âm khí quanh quẩn đâu đây. Tôi nhắm mắt, chắp tay lại thành tâm để tìm một sự giải tỏa. Các pho tượng, khóm hải đường, mẫu đơn sao rặt một màu đỏ, như vết son định mệnh ấy, như dòng sông của những cơn hôn mê quyện đặc màu máu… Tất cả trôi về phía tôi… Đôi chân tôi tê cứng, tôi đứng chôn chân cạnh cây cột lớn chạm trổ rồng phượng mà thấy dòng chảy đỏ ối quấn lấy chân mình nhớp nhúa. Đứa con tôi không còn cất lên lời cầu cứu. Có một người nhấc nó lên hôn. Đôi môi sắc lẹm bật lên lời nguyền thú tính: "Tôi phải hôn được con cô". Đứa bé rũ đi trên tay người ấy, thân thể mềm nhũn khẽ cựa quậy.

- Con sao thế? Vào chùa mà đầu óc cứ để đâu đâu.

Câu nói của mẹ chồng tôi kéo tôi về với thực tại. Tôi không biết rằng bà đã gọi tôi đến lần thứ ba, khi quay lại tôi nhận được cái liếc xéo. Bà quét cái nhìn khắp người tôi…

- Tới ngày sinh nở phải biết giữ gìn. Con nên chuẩn bị tâm lý làm mẹ đi đừng suy nghĩ vẩn vơ.

Tôi "Dạ" rồi quay ra nhìn khoảng sân chùa đầy nắng tránh cái nhìn dò xét của bà. Đặt tay lên bụng vẫn không tìm thấy gì ngoài sự im lặng. Tôi bắt đầu sợ hãi. Có khi nào bào thai tôi mang trong mình không phải là đứa con trai mà nhà chồng mong đợi. Có khi nào nó chỉ là một bọc nước, một khối thịt không rõ hình hài… Có khi nào… Chẳng biết sao tôi lại suy nghĩ lung tung thế!

 

*

 

- Chúc mừng chị, chị đã sinh một bé trai

-Con tôi đâu? Tôi mấp máy đôi môi khô rát, khẽ nhích cơ thể đau ê ẩm. Cô y tá bế đứa trẻ đưa qua tay chị Nết đến tôi. Nước mắt tôi giàn giụa chảy cả xuống gương mặt bé xíu còn nguyên những nếp nhăn sơ sinh. Đôi tay cũng bé xíu cựa quậy, nó khóc…

- Oe..Oe.

- Con tôi khóc mất rồi, chắc nó lạnh đây mà, ừ mẹ thương để mẹ quấn tã lại cho con…

Tôi cưng nựng vỗ về đứa con trai bé bỏng. Chị Nết xun xoe hết chạy mua thứ này lại thứ khác.

- Chị đã gọi cho anh Tường chưa?

- Tôi gọi nhưng không liên lạc được.

- Chị đưa máy cho tôi!

Đón chiếc điện thoại từ tay chị tôi bấm số của Tường. Cánh cửa phòng mở toang, không phải anh, cậu Nam thất thần chạy tới:

- Chị! Anh Tường bị bắt rồi!

Chiếc điện thoại từ trên tay tôi rơi xuống nền nhà. Mấy người sản phụ giường bên giương mắt lên nhìn đầy vẻ ngạc nhiên khó hiểu.

- Chú nói rõ xem nào.

- Anh bị tình nghi có liên quan tới cái chết của cô Lý Tiểu Đam người Thẩm Quyến, Trung Quốc tại một hộp đêm ở Thượng Hải cách đây hơn hai năm. Cảnh sát Trung Quốc đã lật lại vụ án. Cô ta chết không phải do sốc thuốc.

- Hơn hai năm, có nhầm không? Tôi nói chuyện với cô ta mới tối hôm kia cơ mà.

- Có thể do chị yếu, tâm lý không tốt thôi.

- Không thể nào.

Tôi giằng lấy đứa con ôm chặt vào lòng. Ngoài kia bóng đêm ma quái bao trùm khoảng sân bệnh viện, bọc lấy những vòm cây. Trong phút giây choáng váng tôi kịp nghe tiếng giày dép gấp gáp, tiếng chuông báo động ngoài hành lang, tiếng con trai tôi khóc thét lên vì khát sữa.

*

 

Tôi ôm con trong vòng tay rã rời nhìn mẹ chồng tôi mòn mỏi tựa đầu vào vai chị Nết. Gia đình chồng tôi ngồi đầy phòng khách. Họ im lặng, không nói câu gì với tôi cũng không nói chuyện với nhau. Hồi lâu, khi đứa con tội nghiệp của tôi no sữa đã thiu thiu ngủ mới thấy mẹ chồng tôi thở dài:

- Chiều qua thằng Nam vừa chở mẹ đi Từ Sơn, Bắc Ninh. Người ta đồn ở đó có ông thầy giỏi lắm… vừa bước vào ông ta đã cao giọng quở: "Con trai nhà người xuất ngoại mà trở về lại đem cả dấu son kĩ nữ nên nó chết nó vẫn theo…". Bà chưa kể hết đã lấy khăn chấm nước mắt rồi quay đi.

Tôi buông thõng cánh tay ngước đôi mắt khô ran nhìn lên trần nhà. Tôi và cô ta đã từng có một cuộc thương lượng. 

Lữ Thị Mai
(Hà Nội)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113002)
Những cái chết sau quá khứ về sau vẫn tiếp tục tiếp diễn mãi cho đến tận bây giờ. Những cái chết trên biển, bên kia biển, và bên này đất liền.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 139228)
Tháng Mười chơi trò xếp đặt Những con rồng được tạc bằng xương người Những con rắn cong khô trên bếp than cời Dưới nền trời xám và khô Phố phường mạ bằng vàng mã Người người ướp lạnh.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 105017)
T rước năm 1975, mỗi dịp Tết âm lịch, văn gia và dân chúng miền nam thường làm lễ kỷ niệm chiến thắng Tết Kỷ Dậu (31/1/1789) của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792). Đây là một trong những võ công vệ quốc lịch sử của dân tộc Việt chống lại âm mưu thôn tính của bắc phương từ ngày giành được độc lập năm 939–sau khi Ngô Quyền (898-944) phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (theo Nguyễn Trãi, còn gọi là sông Vân Cừ), khai sinh ra một vương quốc mới, tức Đại Việt (từ năm 1054) hay Việt Nam (từ năm 1804). (1)
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 103024)
Từ xưa đến nay, tình mẫu tử luôn là đề tài sáng tác vô tận cho thơ ca nói riêng và văn chương nghệ thuật nói chung. Một cách tự nhiên, Nguyễn Xuân Tường Vy đã chinh phục độc giả bằng chính những dòng viết giản dị, chân thật về tình cảm muôn thuở ấy.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 115651)
Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, tháng 4/1975 như vết nước mắt loang dài của miền Trung ngắn dần đi khi dân chúng di tản vào Nam kiệt sức đến không còn nước mắt khóc cho những xác người ven đường.
21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 108527)
Ông Nguyễn Hưng Quốc là người rất xục xạo đã lôi ra được những vấn đề văn học độc đáo. Cũng trong một bài viết blog, ông đã phát giác ra là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp rất thích cái thứ chúng ta thường thả vào bồn cầu! Ông viết : “Trong các truyện ngắn, ông (Nguyễn Huy Thiệp) cho chữ (cứt) ấy xuất hiện khá nhiều, một cách trần trụi, hung hãn, đầy bạo động.
21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 87491)
Nói như Viện Hàn lâm Thụy điển vào đúng 13 giờ thứ năm 07/10/2010, theo lời thư kí Peter Englund khi ông công bố giải văn chương Nobel 2010 trao tặng cho (Jorje) Mario (Petro) Vargas Llosa, là như sau. Nhà văn xứ Pêru này trúng giải nhờ đã: « Thể hiện và phác họa toàn diện cơ cấu quyền lực và hình ảnh sắc cạnh chạm khắc nỗ lực kháng cự, tinh thần phẫn nộ và thành bại của cá nhơn con người. » Về mặt nghệ thuật: « Ông là nhà văn đã triển khai thuật kể chuyện theo phong cách quả tình kì ảo. » Về mặt con người của mình: « Qua tác phẩm, ta biết ngay ông là một con người say sưa trong hành xử. Hễ thấy mình phản ứng rập theo bổn sắc ấy, ông tỏ ra hết sức rung động và lấy làm vui vô cùng. »
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113860)
Tôi đi ở cho tộc Trần từ lâu lắm. Từ cuối đời Lý. Lúc Trần Thị chỉ vừa cắt nhau. Đêm tháo thai, sống cảnh sinh nở đầu đời nên tâm hồn tôi ngập kinh hãi. Máu từ cửa mình vợ Trần Lý chảy xối, bắn phun tung tóe như bát canh rau dền rơi vãi trên đất. Thứ canh đỏ thẫm, lợn cợn những nhau, thịt, chất nhờn. Trần Thị giẫy, vùng, đôi tay chới với cào cấu vươn tới trong động tác nắm tìm sự sống. Đã biết đi vào đời là đi vào khổ đau, nhưng tôi cũng không ngờ khổ đau to lớn tàn phá đến rách bươm cửa mình vợ Trần Lý. Mỗi cái quẫy mình là mỗi một vũng máu, trào ra, trào cho đến đầy thau. Máu bê bết chẳng khác một pháp trường.
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 110072)
Ngày 11/03/2011 , Bẫy rồng bộ phim Việt Nam (action movie) được chờ đợi nhất sau thành công vang dội của Dòng máu anh hùng sẽ chính thức được trình chiếu . Bộ phim được hy vọng sẽ tạo ra một diện mạo mới cho dòng phim action Việt Nam và chứng tỏ sự trưởng thành cũng như sức mạnh của một đội ngũ những nhà làm phim mới, trẻ và nhiều sức sáng tạo.
18 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 127587)
Tôi lên Mã Pì Lèng dạy học. Từ dưới chân núi, tôi cứ nhằm theo chòm bản thấp thoáng trong mỏm đá, tán cây mà leo lên. Trời nóng như đốt nương, vượt dốc, cổ họng khô rát, tưởng như mồ hôi đã cạn kiệt không thể chảy ra được nữa, thì bất chợt gặp một dòng nước từ trên núi chảy xuống, tràn qua cả mặt đường đá. Tôi hồ hởi phanh ngực áo, bỏ ca-táp, cởi dép rọ, đứng một lúc cho mát dịu lại, rồi mới thong thả rửa tay, rửa chân, xúc miệng ba lần, uống một ngụm, xong rồi mới lau mình, gội đầu...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9478)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16347)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15292)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15667)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1885)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1961)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1993)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2348)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4400)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6213)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5538)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6133)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1644)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1863)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2064)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1930)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1733)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1739)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1724)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12504)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28705)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35251)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35117)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10038)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12091)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1377)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1961)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2348)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2485)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2879)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7142)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6561)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8603)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.