- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,482

TRUYỆN NGẮN LÝ MINH KỲ

10 Tháng Bảy 201810:24 CH(Xem: 11914)



Thiếu nữ và Hoa Quỳnh, sơn dầu trên bố 40'' x 52'', 2000 -MC 10A
Thiếu Nữ Và Hoa Quỳnh- tranh Mai Chửng



LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Lý Minh Kỳ sống và làm việc tại Sài Gòn. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quý độc giả và văn hữu những sáng tác mới nhất của Lý Minh Kỳ.

 

TẠP CHÍ HỢP LƯU

 

 



truyện ngắn Lý Minh Kỳ

Mười Bảy Ngỡ Như Ngày Hôm Qua

 

Trung độc hành trên con phố khuya. Gió dắt người đi. Nụ trăng vừa nhú, gió vờn đong đưa. Trung, hai mươi bảy tuổi, rời khỏi nhà, trầm mình vào đêm. Hai mươi bảy tuổi, xã hội rù rì sau lưng như đấm vào tai anh, “giời ạ, đàn ông gì mà sợ vợ ra mặt, nhìn thành công hào nhoáng thế chứ thực ra do ông già vợ nâng đỡ thôi,…”.

Cú đêm ọ ọe. Cú đêm gầm gừ. Cành cây khô răng rắc, những cánh dơi chao liệng. Sương rơi trên những sợi cỏ non, nhọn hoắc, đòi đâm toạc bụng trời. Có lẽ trời đau thật, tuôn từng dòng máu đen xuống mặt đất, tanh tanh, ngập ngụa. Trung thở dài, tiếng thở dài thách thức bọn cú đêm. Đàn dơi tíu tít, rủ nhau dự đại tiệc, bỏ mặc Trung giữa không gian đặc quánh tiếng cú. Cú sẽ nói, “này anh kia, sao tối đến còn tranh giành đời sống riêng tư của chúng tôi? Về với văn minh của anh đi!”.

Trung ngồi bệt xuống hè, nhìn trăng mà than thở. Nhưng trăng xa quá đâu nghe thấu lời Trung. Cú đêm gầm gừ đáp trả, “con người sống chật vật quá, thế mà cũng tự hào hai tiếng tình người!”. Hai mươi bảy tuổi, Trung đau đớn nhận ra, cuộc đời này tàn ác quá. Bố vợ vừa mắng trận lôi đình vì một chút sơ sẩy đã làm thất thoát bạc triệu của cơ quan. Cô vợ thơm tho, quần là áo lượt thì cứ than vãn, “sao anh không còn âu yếm em như ngày mới cưới? Anh đang quen với con điếm nào tươi mơn mởn hơn em? Thứ đường chợ rác rến!” Trung thở dài thầm trách, người nhà mà còn không hiểu cho nhau, thương yêu nhau thì người dưng còn tàn ác cỡ nào? Thằng cấp dưới cứ giả vờ nịnh nọt trước mặt, chứ sau lưng nó bĩu môi, đồn ầm lên, Trung nuôi gái, nuốt tiền cơ quan… Chỉ bấy nhiêu đó thôi, cũng đủ khiến Trung phải trốn khỏi nhà lúc nửa đêm, ngâm mình vào chốn tối tăm chỉ có gió và cú.

Gió thều thào những lời vô nghĩa. Đàn dơi dự tiệc trở về, nhếch mép, “vẫn còn ngồi đó à, sợ về nhà vợ cằn nhằn à?”.

Sương ngày một dầy, u ám, se lạnh. Trung chợt nhận ra, mình ngồi cạnh cái miếu hoang từ lúc nào. Cái miếu thân quen năm ấy. Miếu vẫn còn đó, trơ trơ, rêu trên mái cũng dầy hơn. Dáng đứng đã hao gầy hơn xưa. Rồi lòng Trung bừng sáng. Trung nhớ lại cái tuổi mười bảy. Than ôi, cái tuổi mười bảy tươi đẹp ấy đã vụt qua tự bao giờ, Trung không thể níu giữ. Mười năm mà ngỡ như ngày hôm qua.

Cái buổi trưa nắng gắt, dưới tán bạch dương dịu dàng, Trung ngắm nhìn những giọt lệ ngọc ngà của Bích, “thôi đừng khóc nữa, anh sẽ học tốt và có việc làm thật tốt, tương lai đôi ta…”

“Em chỉ sợ mai này sang giàu, anh tham phú, phụ bần.”

“Bích, mai này dù có thành công hay thất bại anh vẫn mãi yêu em, tìm về với em”

Họ tản bộ trên con hè vắng. Bích thôi sụt sùi, ánh mắt ngời sáng, “hai ta hãy thề nguyền chờ đợi nhau đi, tại ngôi miếu này!”. “Em không tin anh sao?”, Trung ngước mắt nhìn; một ngôi miếu cũ kỹ, cánh cửa gỗ khóc ré lên khi anh đẩy nhẹ, bước vào. Không một nén hương, không một người giữ miếu. Ngôi miếu bị bỏ hoang từ bao giờ? Trung quỳ gối, nhìn lên bức tượng bụi và rêu phủ đầy. Bích khấn nguyện, rồi ngước lên nhìn tượng Mẫu, “Mẹ ơi, Mẹ hãy thương những người phụ nữ thiệt thòi trong tình yêu như con…”.

Trăng tròn, những mảnh rơi loảng xoảng trên nền đất, trăm mảnh tan tành có ai thèm nhặt nhạnh. Cú cười cợt, “đấy, trăng rơi rớt xuống đây nghe anh than vãn rồi đấy”. Trung nhìn quanh, nhận ra cây bạch dương nơi góc đường đã khô héo rồi. Gió quật mạnh, những cành khô răng rắc, cú mèo xù lông, rũ rượi. Trung rờn rợn khi nhìn vào đôi mắt sáng quắc của con cú già.

Trăng rơi trong sân miếu. Trung đứng dậy, đẩy cửa bước vào. Cánh cửa khóc ré lên, vừa tức tối, vừa oán trách, dỗi hờn. Miếu không còn bị bỏ hoang. Ai đó đã thắp hương. Từng sợi khói ngát thơm. Trung khom lưng nhặt từng mảnh trăng, ôm chúng vào lòng. Anh ngồi bệt xuống nền đất. Tượng Mẫu sạch bụi, gió luồn lách, hát điệu hát ai oán tình sầu.

Mười năm trước, sau lời thề nguyền, Bích đã trao đời mình cho Trung, trong ngôi miếu này. Nắng bứt rứt, Trung ngậm đầu vú ngọt ngào của Bích; dòng sữa trinh nữ cuộn trào. Bích cong lưng, Trung thỏ thẻ những lời yêu vụng dại… Sau cơn mê man, Trung không quên lời hứa hẹn, “hãy đợi anh, anh sẽ quay về và cưới em”. Và thế là Trung rời đi khi vũng máu trên nền hãy còn ấm.

Mười năm sau, Trung đã quay về. Ôi, mười bảy ngỡ như ngày hôm qua. Bích đã sống ra sao suốt mười năm? Trung đã quên Bích suốt mười năm. Bích còn nhớ lời hẹn buổi trưa ấy? Trung nghĩ ngợi và lo sợ, tự tay đánh rơi những mảnh trăng, loảng xoảng. Trăng vỡ tan tành rồi. Trung nhận ra mình là thằng tồi, là thằng tham phú phụ bần.

Có tiếng trở mình tỉnh giấc, tiếng guốc lộc cộc bước ra, một người đàn bà phủ đầy bóng tối. Người đàn bà đưa ngọn nến ra phía trước mặt. Trung và Bích. Khuôn mặt Trung dầy gió dạn sương, mấy phen va vấp trên đường đời. Bích cười, nụ cười sáng như trăng rằm, “em biết anh sẽ trở về…”. Nghe lại cái giọng nói dịu dàng như thời trinh nữ ấy, Trung bỗng nghe đau dữ dội. Bích vẫn còn đây, vẫn là của Trung. Còn Trung thì đã bán mình cho kim tiền.

Họ ngồi dưới chân tượng Mẫu, Trung ước gì được trở lại mười năm về trước, trở lại cái tuổi mười bảy dại khờ ấy. Ôi, mười bảy ngỡ như ngày hôm qua, “anh trót nợ em một đời, không riêng gì tuổi mười bảy!”.



BÓNG TỐI SỤP ĐỔ

Tôi chạy sâu vào phố phường, đêm ba mươi, để bảo toàn tính mạng. Hà Nội ứa máu đen, đặt sệt, buốt xót. Bố bắt tôi gỡ bỏ hình xăm nhằng nhịt. Không! Hình xăm không nhằng nhịt. Tôi xăm tên người tôi yêu không yêu tôi.

Trận gió nào tang tóc nhào nặn Hà Nội. Tôi lang thang, tìm nguồn máu đen ngập ứa. Tôi rơi vào chiếc hộp, vùi mình trong đen thẳm. Tôi vùng vẫy giữa bao tử bóng tối. Tôi khóc thét, bóng đêm không đáp lại. Mình tôi trong tối!

Tôi nhìn quanh, thấp thoáng đằng kia, N tươi cười với cô gái ấy. Tim tôi vụn vỡ. Tôi gọi N trong nức nở. N không quay lại nhìn. Tôi biết N rất yêu cô gái ấy, hôm nào chẳng đắm chìm trong nụ cười mơ hồ ấy. N từng nhìn hình xăm của tôi và cười cợt những đường nét nhằng nhịt. Tôi từng bảo với N tôi yêu N. N vô tư đáp N không thể yêu tôi, không thể yêu người cùng phái. Tôi lặng lẽ đứng sau màn sương, nhìn N yêu người con gái ấy.

Tôi chớp mắt, cựa mình. N chìm vào màn sương. Bóng tối đặc quánh, tôi mò mẫm không tìm thấy N nữa. Thế giới tôi đang tồn tại đen tối. Thế giới của N sương trắng. Nước mắt trào, đâu ai thấy tôi khóc. Những vết lằn roi mây nhức nhối. Tôi gồng mình, càng nhức. Những vết lằn roi mây bố giáng. Tôi gồng mình, chống đối. Mơ hay thực? Người đàn ông có hàm răng trắng loáng, dỗ ngọt tôi. Người đàn ông ấy trao cho tôi những nụ hôn trần trụi và cả căn bệnh thế kỷ. Tôi vừa yêu N, vừa hận N và buông mình. Bố tôi chửi rủa, mày là đồ chó chết. Tôi chạy ra khỏi nhà như chó. Tôi tự chôn mình, hay Hà Nội chôn tôi vào chiếc hộp đầy ắp bóng tối? Liệu một ngày nào đó, N sẽ nháo nhác tìm tôi dưới những nấm mồ tối?

Tim tôi vụn vỡ. Hình xăm bong tróc. N cười khanh khách hạnh phúc. Bố tôi nghiến răng. Người đàn ông bệnh tật thều thào cầu cứu. Tôi lấy hết sức, vùng dậy, bóng tối sụp đổ. Tôi lang thang đi tìm cuộc đời mới, phía mây hồng.

 

Lý Minh Kỳ

Tháng Ba, 2017.

 

 

 

 

 

Rồi cha sẽ tỉnh rượu

*Cảm tác Đời thừa (Nam Cao)

 

Cha đi suốt đêm. Trước khi bước chân ra khỏi ngưỡng cửa, cha xoay người lại, nhìn tôi. Mắt cha ngời lên niềm lạc quan trong lúc nói. Cha đi, đi kiếm tiền, tối nay các con sẽ được ăn thịt lợn quay, xôi nóng. Cha nói với vào trong, tôi đi mình nhá! Tôi hân hoan đứng dậy. Mẹ tôi vội lên nhà trước tiễn cha, anh chóng về nhá. Đứa em tôi như hiểu chuyện, cũng hòa vào niềm vui của gia đình, quẫy người. Mẹ tôi âu yếm cái má phính của nó, cha đi rồi cha về, mang sữa về cho con nhá, con đừng quấy nhá.

Tiếng honda nặng nề lết khỏi hẻm vắng, nắng đong đưa, đại lộ rộn rã, Hà Nội năm 2000. Mẹ nhớ lại những năm chín mươi, ngày cha cưới mẹ, một chiều gió mùa đông bắc se lòng. Hà Nội mười ba độ buốt! Những phố dài sưng rộp vì gió thốc, bải hoải chờ đợi vì thiếu thốn những ngày mưa. Mẹ kể, mẹ trở dạ vào một đêm cuối xuân, tiết trời dễ chịu. Vừa cất tiếng khóc chào đời, tôi đã thụ hưởng nắng ấm mùa xuân. Ra đời, tôi có khác gì em mình hiện tại, vẫn chịu cảnh đói sữa, khát cháo. Mẹ chắt chiu từng đồng nuôi tôi lớn, cho tôi vào lớp một, học con chữ. Em tôi! Mẹ chỉ mong em tôi cũng được biết con chữ. Mẹ chỉ mong chúng tôi đều thành người được xã hội trọng dụng.

Nắng nức nở, bốn giờ chiều, cha vẫn chưa về. Tôi tựa cửa trông. Em tôi rung cái xúc xắc, ngồi bệt cạnh rổ rau của mẹ. Mẹ vừa nhặt rau, vừa hân hoan, vừa trông ngóng đến hao gầy. Mẹ lại nhớ về những buổi chiều đông mấy năm trước. Hà Nội mười ba độ buốt! Ấy mà chẳng thấm tháp gì với dân Hà Nội chính cống. Quê mẹ có khi chỉ còn sáu độ. Hà Nội chật chội, bức bối, hãy còn ấm so với quê nghèo. Mẹ nên duyên nợ với một anh thợ, một anh thợ Hà Nội, cứu vớt mẹ khỏi cảnh quê nghèo. Mẹ luôn tựa cửa trông cha đi làm về. Năm giờ chiều cha vẫn chưa về, mẹ vẫn vừa nhặt rau vừa đợi. Mẹ nhớ quê, muốn ngóng về quê cho đỡ nhớ. Nhưng biết ngóng đằng nào? Hà Nội nhộn nhịp, đường sá mẹ còn không thuộc. Muốn ngóng về quê cho đỡ nhớ nhưng biết ngóng đằng nào?

Tiếng còi ô tô, còi xe honda. Hà Nội chiều chật chội. Cha vẫn chưa về. Mẹ luộc rau, mẹ thổi cơm. Cơm ít lắm vì gạo đã hết. Mẹ và tôi ngóng ra đầu ngõ. Mẹ nói mẹ ngày một chán Hà Nội. Mẹ thích Hà Nội những năm chín mươi. Em tôi chán xúc xắc, lăn kềnh ra ngủ, đói sữa rồi nên tạm mút tay. Cha vẫn chưa về. Cha đi đâu giữa phố mênh mang? Cha đi kiếm tiền con ạ. Hôm nay cha nhận việc mới, ông chủ tốt lắm, sẽ trả nhiều tiền. Ráng chiều mùa hạ, mồ kê em tôi vã ra. Nó lăn lộn rồi khóc, đòi sữa.

Em tôi quấy khóc trên cánh tay gầy gùa của mẹ. Mẹ vừa dỗ vừa ngóng, đợi chờ tiếng xe ành ạch xé toang lòng hẻm nhỏ. Mẹ bồng em xuống bếp, tôi ở lại gánh trọng trách chờ đợi tiếng xe ành ạch, đem về nào là thịt lợn quay, xôi thơm, sữa béo. Cha sẽ cười khi thấy tôi nhai nhồm nhoàm, nhem nhuốc, sẽ bồng em tôi, cho nó ăn sữa. Mẹ tôi sẽ được ăn bữa cơm tử tế. Nhưng chỉ là những ảo tưởng đang dỗ ngọt, còn thực tại thì hụt hẫng. Em tôi uống nước cơm, mẹ và tôi rau chấm mắm. Cha vẫn chưa về.

Cha đi suốt đêm. Mẹ nằm trăn trở, tôi nằm khóc. Tôi biết cha chè chén, bỏ mặc mẹ con tôi. Sao tôi đã có người cha nghèo rồi mà phải chịu thêm người cha tệ bạc? Mẹ có biết cha đi đâu không? Mẹ không biết. Mẹ có nghĩ cha quá chén rồi nằm lăn ra đâu ngủ không? Tôi cũng không biết giống mẹ. Mẹ gắng chờ tiếng xe, tôi gắng chờ tiếng cha đập cửa lè nhè. Tôi không muốn cái cảnh ấy diễn ra. Nhưng tôi cũng muốn được khóc thét vào mặt cha nếu cảnh tượng ấy xảy ra. Tôi rỉ thêm vài giọt nước mắt nữa, ôm mẹ chặt hơn. Tôi sợ cha xảy ra chuyện gì không hay, mẹ sợ còn hơn tôi. Tôi thiếp đi. Cha ơi, sao cha chưa về? Mờ mịt quá, tôi cố chạy lại phía cha. Cha đang đứng đó xách gói xôi, gói thịt. Em tôi cười khanh khách. Tôi nhai nhồm nhoàm. Mẹ tôi nhỏ giọt nước mắt hạnh phúc. Cha ơi, mẹ gầy quá!

Tám giờ sáng cha mới về. Người cha bủng beo. Chén rượu làm cha bủng beo. Xôi, thịt, cả sữa nữa, sao không có, cha? Cha không trả lời. Cha mệt nhọc vào giường nằm. Cổng nhà mở toang. Tôi ngồi bệt trước nhà, mếu máo. Em tôi cầm xúc xắc, chập chững đến dỗ tôi. Tôi ôm nó mà khóc. Nó rung rinh cái má phính, bặp bẹ bảo thương tôi. Tôi không thèm thịt lợn quay, thèm xôi nóng nữa. Tôi chỉ cần em tôi no sữa. Nhưng cha đã no rượu, thay vì em tôi no sữa. Tại sao mẹ tôi lại lấy người đàn ông tệ bạc? Tại sao cha tôi lại tệ bạc như thế? Cha ơi, mẹ gầy quá! Cha ơi, em đói sữa. Cha ơi, con cần một người cha!

Mẹ lạo xạo làm nước gừng cho cha uống giã rượu. Có thứ nước nào làm cha quên rượu không? Có thứ nước nào giã tan tiếng khóc nức nở của mẹ, nỗi sợ, sự hụt hẫng trong tôi không? Tôi sợ tiếng khóc của mẹ còn hơn tiếng quát tháo của cha. Mẹ ơi đừng òa khóc. Tôi ơi đừng khóc, em tôi thương tôi lắm, tôi ơi đừng khóc! Chúng tôi phải khổ bao lâu nữa? Tôi ôm em tôi thật chặt. Tôi cố ghìm tiếng khóc. Tôi sợ rồi một ngày em tôi cũng sợ tiếng khóc của tôi. Tôi thương nó.

Mẹ tôi cầm tạm vài đồng còn sót trong túi áo của cha mua bó rau, bát gạo và miếng đậu. Trưa, em tôi sẽ phải uống nước cơm. Mẹ tôi lúi húi thổi cơm dưới căn bếp tồi tàn, khét lẹt. Em tôi chơi xúc xắc, đôi má ửng hồng nhem nhuốc đói nghèo. Tôi nằm vắt chân đọc vanh vách mấy đoạn thơ trong sách. Rồi cha sẽ tỉnh rượu, rồi cha sẽ thấy cái cảnh nghèo đói. Rồi cha sẽ biết đêm qua cha no rượu thay vì chúng tôi no xôi, thịt.

Trưa, nắng rưng rưng. Miếng đậu rán thơm lừng đánh thức cha dậy.

 

- Lý Minh Kỳ -

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 981)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1063)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1768)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5794)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5775)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13145)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29984)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81085)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20210)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 274)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”