- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,583

BA BÀI THƠ ĐA MI

17 Tháng Mười Hai 201512:10 SA(Xem: 16388)

DA MI
Thi sĩ Đa Mi















CÁI NẬM RƯỢU MÀU NGỌC

Yết giá mình bằng ba bài thơ
Đừng đòi nhau chùm hạt dẻ
Những bài thơ buồn như ngày Em Nắng Trời tạ thế
Hay cũng có thể buồn như hoàng hôn chú mục đồng bên sông

Yết giá mình một nậm rượu
Rượu không ngon
Nhưng cái bầu nậm xanh màu ngọc
Cứ kể là màu mắt trời cho
Đành vậy!

Bài thơ thứ nhất
Không có xiêm áo (hay là không cần xiêm áo
Vì lão mục đồng già xứ Lebanon nói
Hãy để da thịt người gần hơn với đất trời
Xiêm áo mà làm chi)

Bài thơ thứ hai
Cũng không có đôi hài màu huyết dụ
Mình cứ chân trần (đâu cần đi vào lịch sử
chỉ cần đi vào đời nhau)
Chạy thênh thênh buổi trung du
Em Nghé ọ gọi hoài mùa lạc mẹ

Bài thơ thứ ba
Con ngựa già còm cõi
Đã qua đời sau mấy muôn năm chinh chiến
Khi màu nàng ngự trên yên
Những bánh xe xưa mục rã chân cầu
Chỉ còn lại cái nậm rượu màu ngọc bích
Của trời cho em có lấy không?

 

TRÊN CÁNH ĐỒNG CHỮ TÔI

Thương như một nỗi buồn
những chữ hoàng hôn rưng rưng lạc mẹ
những chữ còng lưng đi còng lưng gánh còng lưng cày
chữ ròng mồ hôi
chữ sôi nước mắt

chữ chật chội tù muôn niên
chữ u u địa ngục
những chữ nào lê bước đi đày
rồi đột tử
chữ nào ôm chặt trong tim chôn sống chính mình
chữ nào đốt lửa tự hoại
đòi một mầm xanh
ôi chữ

Thương như cánh đồng tôi mùa đạo ôn
cây mạ non mục ruỗng rồi
chùm rễ trồi lên đòi dưỡng khí
chữ tôi suy dinh dưỡng
ốm và đói
(ngày trung bình đường trung bình chữ trung bình
nhàn nhạt những khát khao)
những người gieo chữ
lần khân tra hột giống buồn buồn
làm sao gặt được nguồn vui

Thương như thương vô chừng
chữ em tôi bươn bã
đạp xuống những thánh thần anh em bè bạn
chữ buôn may bán đắt
chữ trèo lên tới đỉnh để cao hơn đèo
(những đèo cao không quá tầm mắt nhìn)
em ơi...

Trên cánh đồng dân tôi
chữ nào cho ấm
chữ nào cho thương
chữ nào cho tiếng cười tươi như nụ cười
chữ nào vẽ một mặt trời
chữ nào no đủ mùa vụ
chữ nào chính đạo đè chết gian tà
chữ nào chữ nào
trả chữ cho tôi
trong triệu triệu mùa và màu hôn ám

Thương như tang lễ chiều mưa
ướt lướt thướt những người đưa tiễn
chữ ơi
chữ rụng
chữ rời
cả cánh đồng thôi
buồn hiu mùa gặt chữ

Ngày rằm
đưa chữ ăn chay...

 

 

QUYỀN LỰC (*)

Có cái loại quyền lực gọi là quyền lực ngó liếc
không phải
không phải
không phải anh được quyền liếc em

mà ngó quanh
liếc quanh
ta xử thế nào thì đẹp dạ quan anh quan em

Có cái loại tình yêu goi là tình yêu tập thể
không phải
không phải
không phải ta yêu tất thảy loài người
mà là ta phải yêu và ghét giống như quan anh quan em đang ghét và yêu

Có cái loại anh hùng gọi là anh hùng thời đại
không phải
không phải
thời đại nào chả rực rỡ anh hùng
ta anh hùng chỉ riêng thời đại ta rực rỡ biết đặt lợi ích thế giới đại đồng trước lợi ích riêng ta
ta anh hùng khi biết nhân nhượng biết im lặng biết nhẫn nhục chờ con cháu lớn lên thay ta mà đánh giặc

Có cái loại tài hoa gọi là tài hoa dân tộc
không phải
không phải
dân tộc nào mà chẳng tài hoa
chỉ bởi ta tài hoa quá đỗi tài hoa đi trước rất xa trí tuệ nhân tạo
nên ta chấp tất cả sự phát triển tiến hóa bay xa bay cao
đủng đỉnh mà đi tắt đón đầu

Có cái loại hạnh phúc gọi là hy sinh
không phải
không phải
cái mất mát chưa từng là khổ đau lịch sử
quá đỗi tự hào

Có cái loại tự hào gọi là tự hào tiên phối giống với rồng
không phải
không phải
con ngựa mần con lừa vẫn ra con la
người mần người đôi khi vẫn sinh ra con khỉ
nòi giống không cần cao
không cần to
không cần tốt
chỉ cần biết vỗ ngực tự hào cháu con trong một bọc trăm cái trứng

Có cái gọi là
và có nhiều cái gọi là
rất bát ngát
rất dài và rất xa
viết hoài không bao giờ hết!

 

ĐA MI

(*) Tựa Hợp Lưu

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 991)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1069)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1778)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5804)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5790)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13154)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29994)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81094)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20216)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 299)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”