- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,821

Như Một Giấc Mơ Dài

10 Tháng Mười Hai 20141:48 SA(Xem: 19687)



buu y 2

Bửu Ý ký tặng sách cho Đinh Cường, Lữ Quỳnh.


huế chiều chạng vạng hàng me

ý ơi bạn vẫn mùng che giấc sầu

Đinh Cường

 

Khoảng mùa hè năm 1985, Bửu Ý vào chơi Sài Gòn. Ở thành phố này, thời gian của anh thường dành cho, quanh quẩn, với những người bạn thân Đinh Cường, La Quang Thanh, Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Văn… Trong một lần ngồi với nhau, uống rượu, nói nhiều chuyện lan man từ trưa đến chiều, bỗng câu chuyện bất ngờ chuyển đề tài về vợ con. Một bạn nói, Bửu Ý lần này trở về Huế nên tính chuyện cưới vợ đi. Anh em cười hưởng ứng, trong khi Bửu Ý nói chậm rãi, không đâu, moa cũng như Sơn, không có tính gì chuyện vợ con đâu. Cuộc rượu vui vẻ khép lại trong không khí tình thân, ấm áp.

Tuần sau Bửu Ý về Huế, và chỉ hơn một tuần sau nữa, thì có tin nhắn của anh cho Trịnh Công Sơn, moa quyết định cưới vợ; và ngày làm đám cưới cũng cận kề. Thế là anh em ở Sài Gòn, vừa rất vui và cũng vừa lo sốt vó. Lữ Quỳnh lấy chiếc PC của Sơn chạy thông báo bạn bè, còn nhớ trong số đó có anh Đăng Ngọc Hồ và Hồ Đăng Lễ. Anh Hồ đang khám bệnh ở phòng mạch, còn anh Lễ đang ngồi uống bia với các bạn ở gần nhà.

Sau này nghe kể lại, đám cưới của Bửu Ý ở Huế đẹp lắm. Cô dâu không lạ với các bạn. Chị Lợi làm việc văn phòng trường đại học Sư Phạm. Chị rất thân thiện với bạn bè của anh. Các cháu Mưa và Tây lần lược chào đời.  Cháu gái đầu lòng lớn lên rất xinh đẹp và giống mẹ, cháu học giỏi, tốt nghiệp ban Pháp văn, du học Pháp. Hiện nay là giáo sư Pháp văn, theo nghiệp cha ở trường đại học Huế. Tây, cháu trai thứ hai, cũng giỏi dang, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật, có nhiều tranh, cháu sinh năm 1988, sau khi Bửu Ý đi giảng dạy ở Pháp về.

Có thể nói gia đình anh Bửu Ý rất đẹp, đầm ấm, hạnh phúc vô cùng. Cho đến một ngày trong năm 2005, tôi choáng váng nhận tin chị Lợi mất vì ung thư. Tôi phone, email chia buồn với anh. Lần về thăm nhà sau đó, tôi ra Huế thắp hương cho chị và ngồi nghe anh kể chuyện. Thật buồn.

Với Bửu Ý, cũng như Đinh Cường, Trịnh Công Sơn là những người bạn lớn, người anh cả của gia đình tôi. Các anh đã san sẻ những khó khăn của tôi, đã tham dự vào sinh hoạt nghèo khó, buồn vui của tôi và các cháu. Qua các anh dường như tôi đã trưởng thành hơn, biết sống từ bi và độ lượng hơn. Không thể quên những lúc nửa đêm Trinh Công Sơn lên đập tay vào cánh cỗng bằng tôn ở căn phòng tôi thuê, thức tôi dậy, bắc hai chiếc ghế đẩu nhỏ, ngồi dưới mái hiên lạnh lẽo để uống với nhau những ly vodka, mà đôi khi chẳng nói với nhau lời nào. Tôi vẫn không quên một buổi chiều mùa đông cuối năm 1976 ở thành nội Huế, Đinh Cường đi bộ đem qua cho cháu BêLa bấy giờ vừa tròn tuổi, nửa chiếc bánh ga-tô lớn, nói, nhà làm có một chiếc bánh, chia hai, một nửa biếu người lớn tuổi nhất là ông cụ của Võ Đình và người nhỏ tuổi nhất là cháu BêLa đây. Tôi quá xúc động và nhớ mãi.

Rồi còn biết bao kỷ niệm buồn vui với các bạn Định Giang, Bửu Chỉ, Tôn Thất Văn…

buu y-1

NĐThuần, ĐCường, Bửu Ý, Lữ Quỳnh, Siphani.

Bửu Ý có một thời làm thư ký toà soạn báo Mai, ở Sàigòn, hình như năm 1963. Anh sáng tác Kịch, viết khảo luận, viết tạp văn. Anh dịch nhiều sách , có những cuốn mà sau 1985, khi liên kết với nhà xuất bản Văn Nghệ, tôi đã xin phép tái bản như Vườn Đá Tảng của Nikos Kazantzaki, Con Lừa Và Tôi của Juan Ramon Jimenez… Nhưng chỉ được in cuốn Con Lừa Và Tôi.

Tháng 11 năm 2013, tôi về thăm nhà, theo Đinh Cường ra Huế dự triển lãm tranh của anh bày ở căn hộ nhà cũ của Trịnh Công Sơn, nay là Gác Trịnh, nơi lưu niệm một số di vật và hình ảnh của anh. Thật vui lần này có Siphani ở Pháp về, có họa sĩ Nguyễn Đình Thuần từ California, có Ban Mai ở Quy Nhơn ra.

Thật cảm động trong bữa tiệc tối trên sân thượng Câu Lạc Bộ thể thao, Bửu Ý đã đứng dậy, trịnh trọng nói lời chào mừng họa sĩ Đinh Cường và các bạn ở xa về đây. Anh lo tuổi tác và sức khỏe của anh em, không biết có còn được gặp lại nhau như thế này một lần nữa trong thời gian tới? Tối hôm đó có các anh Dương Đình Châu, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An, Bửu Nam... Đêm xuống, Huế se lạnh. Bỗng Bửu Ý gọi với, vì tôi ngồi ở cuối bàn: Lữ Quỳnh hãy quay lưng lại, nhìn dòng sông…Tôi nghe lời anh và nhìn ra cả một dòng sông lấp lánh ánh đèn thật thơ mộng, nhìn một lần để rồi nhớ mãi. Thì ra anh không bỏ sót một điều gì để tặng bạn mình.

Bây giờ cách nhau nửa vòng trái đất ở xa anh, tôi và Đinh Cường (cũng không gần gũi gì, phải mất sáu giờ bay nếu muốn gặp mặt) luôn nghĩ đến anh. Vẫn mong có dịp về lại Huế, về lại con đường Hàng Me, nay có nhà hàng Gecko của các cháu.  Rất vui thấy anh an bình ngồi giữa các bạn ở chiếc bàn cuối quán. Một Bửu Ý không bao giờ thấy thay đổi, một Bửu Ý nhìn vào để kính trọng và tin cậy trao đổi, học hỏi.

San Jose đang mùa đông, suốt tuần qua mưa nhiều và tầng mây thấp. Sáng nay trời ửng nắng, ngồi viết những giòng này, để kịp gửi về cho Quán Văn. Có cháu Hải qua, vội nhờ scan mấy tấm hình của bác Bửu Ý.  

Anh Ý ơi, hãy giữ sức khỏe. Anh bây giờ có nhiều niềm vui hơn, vì vừa có cháu ngoại kháu khỉnh,bên cạnh vợ chồng Mưa tài năng và Tây nghệ sĩ. Nghĩ về anh, đôi khi Quỳnh liên tưởng đến một giấc mơ dài, một giấc mơ êm đềm, hiền hậu, ấm áp. Quỳnh vẫn thường có những giấc mơ, mà lạ thay, những giấc mơ kỳ diệu, luôn lặp lại nhiều lần. Trong đó quanh quẩn, vẫn là hình bóng bạn bè, để lúc tỉnh ra bao giờ cũng cảm thấy nuối tiếc và yêu mến nhẹ nhàng đời sống hơn.

 

San Jose, December 8- 2014

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1070)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1148)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1835)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5868)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30068)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81207)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 366)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối