- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tên chữ Hán của Hồ Quý Ly là 胡季犛 hay 胡季釐(厘)?

02 Tháng Mười Một 20141:53 SA(Xem: 67495)
Thành Thang Long
Thành Thăng Long-Hà Nội

       

                                                                                                  

           Hồ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào  đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này, làm  trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Huấn. Sau Hồ Quý Ly thay ngôi nhà Trần, đặt quốc hiệu là Đại Ngu và cải lại họ Hồ.[4] Theo Bùi Bá Kỳ viết trong Cáo nạn biểu [12] đã cho biết Quý Ly là con quan Kinh lược sứ đời Trần là Lê Quốc Kỳ [1]. Do đó trong trong sử sách Hồ Quý Ly còn được gọi là Lê Quý Ly.

           Tên chữ Hán của  Lê Quý Ly hay Hồ Qúy Ly theo thư tịch cổ Hán và Việt nói chung đều viết là 黎季犛 hay 胡季犛 và các sách sử học sau này đa số cũng viết như thế, chẳng hạn như trong Việt Nam sử Lược (1927) [8] của Trần Trọng Kim cũng viết là Hồ Quý Ly 胡季犛. Các chữ Hồ , Lê , Quý trong họ và tên của vua nhà Hồ nói chung về tự dạng không thay đổi, chỉ riêng chữ LY là có. Chúng tôi thấy trong văn bản chữ Nôm Thiên Nam ngữ Lục ngoại kỷ 天南語錄外紀 [5] (AB.478, khuyết danh, hql1khoảng thế kỷ 17), soạn giả này lại viết họ tên Hồ Quý Ly là  胡季 厘 (H.1), LY không viết là  mà là 厘. Xem thêm Giản yếu Hán Việt từ điển (1932) [1] của Đào Duy Anh ở mục từ Hồ, Hồ Quý Ly cũng thấy viết là 胡季釐 (theo từ thư Hán, là dạng khác của ). Có điều gì không ổn  về tự dạng?  Vua nhà Hồ tên là LY thật ra viết chữ Hán là hay ()? Đây có phải là hiện tượng đồng âm dị tự, hoặc còn  nguyên do nào khác? Từ trước đến nay, vấn đề này hình như chưa từng được bàn đến. Người viết thử tìm hiểu xem thực hư ra sao?


            Văn bản chữ Hán sớm nhất hiện còn liên quan đến họ tên Hồ Quý Ly có lẽ là ở bài Cáo nạn biểu của Bùi Bá Kỳ, họ ngoại của nhà Trần, làm quan đến ngũ phẩm và từng là một tỳ tướng của Trần Khát Chân, trong truyền bản này viết rõ tên Quý Ly là LY犛, đối chiếu nội dung bài biểu này trong Minh sử [2]明史, cũng thấy hql2chép là LY犛. Sau đến bộ Đại Việt sử Ký Toàn Thư  大  越  史  記  全   (bản Chính Hòa thứ 18, năm 1697) [10] , trong đó tên của vua nhà Hồ là  LY khắc là (H.2) nhưng về tự dạng không đúng dạng vì  ở phần trên, bên trái không phải là chữ mà là chữ , xem thêm bản ĐVSKTT khắc in sau bản Chính Hòa 18, là bản Quốc Tử Giám thời vua Tự Đức Triều Nguyễn (1848-1884) [3] cũng thấy cùng một dạng chữ.

 

             Tra Dị thể tự tự điển[4], thấy chữ có một dạng dị thể như sau: . So sánh tự dạng chữ LY từ ĐVSKTT và  chữ dị thể  ta thấy thực ra là cùng một dạng nhưng do kiểu chữ khắc in của ĐVSKTT nên có dị biệt đôi chút.  Khảo sát thêm các văn bản chữ Hán khác liên quan đến Hồ Quý Ly thì thấy đúng như vậy. Sách Truyền kì mạn lục 傳奇漫錄 (Bản chép tay R.424.NLVNPF-1263), bản này viết chữ LY theo dạng dị thể là . Xem thêm trong Quốc sử toản yếu: Nam sử toản yếu 國史纂要: 南史纂要. (R.112.NLVNPF-0115, bản đời Lê do nhà Thạc Đình 碩亭 Nguyễn Huy Oánh 阮輝瑩 tự khắc in); bản  Việt giám thông khảo 越鑑通考 (R.1663.NLVNPF-0116, đây có thể là bản chép tay từ bản năm Hồng Thuận thứ 3 (1511) của Vũ Quỳnh) và bản Đại Việt sử ký tiệp lục tổng tự 大越史記捷綠總序 (R.2254.NLVNPF-0105, bản in đời Tây Sơn) thì ở các sách này chữ LY đều viết đúng dạng dị thể là . Đặc biệt ở  bản  Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên 欽定越史通鑑綱目正編 (q.11-12) Quốc sử quán triều Nguyễn (R.544 . NLVNPF-0174-08), và  Đại Nam quốc sử diễn ca [5]大南國史演歌 của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái  (nlvnpf-0102, R.303, bản in năm 1870) chữ LY khắc chính thể là chứ không dùng dị thể.

          Ở văn bản chữ Nôm thì thấy, bản Nôm Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa [6]指南玉音解義 (khoảng thế hql 3kỷ 17) tuy không trực tiếp liên quan đến Hồ Quý Ly nhưng trong mục từ ly (mao) ngưu thì chữ LY 犛 (H.3)  khắc giống như dạng chữ ở ĐVSKTT nhưng thiếu nét 厂, chắc là do thợ khắc chữ sai sót (bản Nôm này khắc rất nhiều chữ Hán và Nôm sai) hoặc do cách viết “tục tự” của nhà Nho Việt xưa. Tìm hiểu kỹ thì trong Đại Việt lịch đại sử tổng luận 大越歷代史總論 (NLVNPF-0104, R.1744, là bài tổng luận về lịch sử Việt Nam từ khi khai thiên lập địa cho đến hết triều Lê, dĩ nhiên bản này chỉ xuất hiện sau Lê)[7] thì tất cả những chữ LY đều được người chép tay viết cả 2hql 4 dạng như ĐVSKTT và CNNÂGN (H.4), thế thì đã rõ, chữ LY trong CNNÂGN đơn giản là một kiểu tục tự (chữ thông tục trái với chính tự) của chữ  mà thôi. Ở bản Nôm  Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca [8]越史 衍 義 四 字 歌  thấy chữ LY viết đúng dạng 犛.

          Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: “ mao:  Mao ngưu 犛牛, một loài trâu đuôi rất dài, ngày xưa dùng làm ngù cờ”. Cũng đọc là chữ ly.” Với một nghĩa không mấy đẹp liên quan đến loài trâu. Tục ngữ, ca dao  người Việt thường nói: “Khổ như trâu”, “Tưởng rằng danh giá những gì, Kiếp trâu khốn nạn vẫn là kiếp trâu” và người Hán có thành ngữ như: “Ngưu đầu mã diện” (đầu trâu mặt ngựa, quỷ sứ âm ty), “Ngưu nhân mã nhân (người làm việc nhu trâu, ngựa; bọn nô lệ), …thật khó hiểu tại sao thân phụ của Hồ Quý Ly vốn là Kinh lược sứ họ Lê lại đặt tên cho con mình là LY trái với truyền thống đặt tên của quan lại xưa, thường chọn tên chữ có ý nghĩa hay, đẹp, hiếm? Khảo sát tên  của các bậc vua chúa trước khi sáng lập các triều đại độc lập tự chủ trong chính sử Việt Nam xưa nay như Ngô Quyền 權, Đinh Bộ Lĩnh , Lê Hoàn,  Lý Công Uẩn 公蘊, Trần Cảnh 煚, Lê Lợi 利, Mạc Đăng Dung 登庸, Trịnh Kiểm 檢, Nguyễn Hoàng , Nguyễn Huệ , Nguyễn Phúc Ánh 福暎, đều không hề thấy một tên chữ nào mang nghĩa xấu, không tốt cả. Nhưng chỉ riêng mỗi tên của Hồ Quý Ly, người sáng lập nên vương triều Hồ lại thật bất hạnh vì được viết bằng chữ LY ! Thế mà xưa nay sử gia, văn nhân cứ thản nhiên viết mà không chút băn khoăn, hoài nghi! Phải chăng có một uẩn khúc gì? Như  trên đã dẫn Thiên Nam ngữ Lục, đã viết tên vua nhà Hồ là  LY , theo Khang Hy tự điển  có các nghĩa chính là Phúc, Sửa sang, Cai trị. Với ý nghĩa hay, tốt như vậy, thực ra mới xứng đáng với tên của con trai quan Kinh lược sứ. Nhưng tại sao lại xuất hiện 2 dạng chữ LY ?  Đây là cách viết đồng âm dị tự?  Tuy về nguyên tắc, tự dạng có thể dùng thay nhau theo kiểu đồng âm dị tự, nhưng nếu là tên của người dân bình thường thì có thể và không có gì đáng nói, đằng này đây lại là tên của vua nhà Hồ,  việc dùng một chữ đồng âm dị tự mang nghĩa xấu, tầm thường để viết tên của vua nhà Hồ chắc chắn khó lòng xảy ra và không thể nào qua mắt được Hồ Quý Ly lẫn các quan lại thâm Nho, nếu bị phát hiện sẽ mang tội  khi quân! Như vậy, cần phải tìm một hướng khác để lý giải cho hiện tượng này.

 

          Theo quan điểm chính thống của vua quan các triều đại từ nhà Hậu Lê đến nhà Nguyễn, cũng như dư luận dân gian  thì Hồ Quý Ly bị lên án, phỉ nhổ, gọi Hồ Quý Ly là “Hồ tặc”… bằng chứng rõ nhất là Nguyễn Trãi [11] đã viết về Hồ Quý Ly và nhà Hồ như sau: họ Hồ chính sự phiền hà. Để trong nước lòng dân oán hận(Đại cáo bình Ngô), “họ Hồ thất đức”; “họ Hồ dối trời gạt dân”; “cướp nước hiếp lòng dân” (Quân trung từ mệnh tập) và sử thần Ngô Sĩ Liên phê phán Hồ Quý Ly là: “Bọn loạn thần tặc tử…”,        “ Quý Ly đến đây tội ác đã chất đầy rồi” (ĐVSKTT). Trong sách Những chuyện lạ thi cử thời xưa [6], có kể một chuyện lạ như sau, vào khoa thi Hội năm Canh Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ I (1680), có hai cặp thầy trò và cha con dự thi. Đó là Vũ Đình Phúc với người con là Vũ Đình Thiều và học trò của ông Phúc là Phạm Hữu Dung nhưng trong khoa thi Hội này, đầu văn sách có câu hỏi về nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly, thí sinh phải tuân theo quan niệm chính thống của tầng lớp nho sĩ và xã hội đương thời, khi viết tên Hồ Quý Ly, phải biết chọn chữ như thế nào, để biểu thị sự khinh bỉ, chê bai nhân vật lịch sử này, theo đúng quan điểm của người ra đề. Ông Thiều và ông Dung dùng chữ “ Ngưu” là “ Trâu” và khung cả bốn phía ngoài, tượng trưng cho cái chuồng để tạo thành chữ “Ly”. Còn ông Phúc thì vẫn viết đúng chữ Ly và cũng khung lại bên ngoài. Kết quả thật bất ngờ, đến kỳ xướng danh hai ông Vũ Đình Thiều (1658-1727) và Phạm Hữu Dung (1652-?) đều đỗ tiến sĩ. Còn thầy học Vũ Đình Phúc thị bị đánh hỏng, chỉ vì chữ “Ly” tên của nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly không viết là “Ngưu”, có nghĩa là “con trâu”! Như thế, qua câu chuyện này ta thấy rõ việc viết tên của Hồ Quý Ly vào năm  khoa thi Hội năm 1680 là  một cách chơi chữ nhằm khinh bỉ, chê bai. Chi tiết về chữ NGƯU (trâu) đã góp phần lý giải cho sự xuất hiện phổ biến chữ (có chữ ) trong các sách sử từ ĐVSKTT (Chính Hòa thứ 18) và các sách hql 5khác sau này. Theo suy luận của chúng tôi, rất có khả năng tên của vua nhà Hồ thật ra nguyên gốc viết là  LY hay (có chữ chứ không phải là ) và  bản Nôm Thiên Nam ngữ Lục có thể đã dựa vào một nguồn thư tịch (trung thành với chữ gốc thời Hồ) khác với ĐVSKTT  để phục nguyên lại tên chữ của Hồ Quý Ly. Tuy nhiên để xác minh lập luận này cần phải có thêm chứng từ khách quan khác có giá trị thuyết phục. Người viết đã truy tìm dấu vết tên của vua nhà Hồ trong thư tịch Trung Quốc và nhận thấy, ngoài chữ LY (tên của vua nhà Hồ) xuất hiện phổ biến trong các sách quan trọng như Minh sử, Bình An Nam chiếu, Bình định giao Nam lục, Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư,chúng tôi đã tìm thấy trong sách Đại sử 岱史 [9] là sách địa phương chí của Tra Chí Long 查志隆 (biên soạn vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 14, năm 1586), Nghiêu sơn đường ngoại kỷ 堯山堂外紀[9] là sách thông sử của Tưởng Nhất Quỳ蒋一葵 (đỗ Tiến sĩ năm Vạn Lịch thứ 25 (1594) đời Minh) Xích nhã 赤雅[10] là sách ghi chép về phong tục của dân tộc Quảng Tây của Quảng Lộ 鄺露 (1602-1648, người Quảng Đông, đời Minh), khi viết về vua nhà Hồ đã viết rõ ràng là Lê Quý Ly 黎季(H.5), LY chứ không phải là LY . Không thể biết nguồn thông tin nào khiến cho Tra Chí Long, Tưởng Nhất Quỳ và Quảng Lộ đã viết tên của vua nhà Hồ khác với các sách vở chính thống của nhà Minh nhưng chắc chắn không thể lấy thông tin từ TNNL Có thể gián tiếp từ Lưỡng Quảng, biên giới Việt Nam và Trung Quốc họ đã tiếp cận được thông tin chân thật hơn về Hồ Quý Ly? Dù sao sự khác thường này cũng là một dấu chứng quan trọng (3 tác phẩm này ra đời vào đời Minh, khoảng thế kỷ 16, 17) xác nhận cho TNNL không phải là một hiện tượng “chữ tác đánh chữ tộ” hay  là kiểu “đồng âm dị tự” tùy tiện và như thế tên vua nhà Hồ là LY hay có khả năng là một chữ nguyên gốc đời Hồ. Tra Khang Hy tự điển [2]: “: [廣韻]里之切, [集韻], [韻會] 陵之切,音釐.義同 (Ly: (Quảng vận) lí chi thiết, (Tập vận), (Vận hội) lăng chi thiết, âm như ly, nghĩa đồng ), vậy 2 chữ là đồng âm, đồng nghĩa nhưng khác tự dạng, về nguyên tắc có khả năng dùng thông nhau. Như đã dẫn về câu chuyện văn tự liên quan đến tên của vua nhà Hồ ở khoa thi Hội năm 1680, về lô gích, chữ chính là chữ gốc, chữ là chữ phái sinh theo diễn biến 釐 -> . Từ đây có thể suy luận như sau: Khả năng thứ nhất là,  từ chữ LY gốc, cổ nhân thời Trần - Hồ do bất bình, khinh ghét Hồ Quý Ly, một gian thần cướp nước hại dân nên đã cố ý dùng chữ (đồng âm, đồng nghĩa với   ly 釐) có chứa chữ ngưu (trâu) ở trong, hàm ý miệt thị như đồ súc vật.  Trong Minh sử (biên soạn khoảng đời Thanh), có thuật lại vụ Bùi Bá Kỳ, cựu thần họ ngoại nhà Trần sau khi bị Hồ Quý Ly soán ngôi, đã đến tận cửa cung nhà Minh khóc lóc dâng bài biểu  Cáo nạn cho vua Minh Thành tổ để xin cầu viện giúp khôi phục cơ nghiệp nhà Trần, ta thấy tên của vua nhà Hồ được viết là Quý Ly 季犛. Vậy phải chăng Bùi Bá Kỳ do căm phẫn nên cố ý dùng chữ thay cho chữ như một cách tỏ ý khinh miệt Hồ Quý Ly? Một kiểu chơi chữ rất sắc bén, thâm thúy! Nhưng đây chỉ là suy đoán chứ không có chứng cứ gì vì chưa chắc bài Cáo nạn còn nguyên dạng chữ gốc của Bùi Bá Kỳ qua truyền bản ở Việt Nam cũng như khi được chép lại trong Minh sử . Khả năng thứ hai sau đây có lẽ hợp tình lý và thuyết phục hơn, sự thật lịch sử cho thấy tướng Tống Binh Quốc Công Chu Năng  đã thay vua nhà Minh với danh nghĩa “Phù Trần diệt Hồ” công bố bảng văn cáo những tội của vua nhà Hồ như: ”cướp ngôi, giết vua và tông thất nhà Trần, coi nước và nhân dân như thù địch” và bài chiếu của Minh Thành Tổ (sau khi đánh bại nhà Hồ) đã luận tội danh Hồ Quý Ly: “Nó tỏ ra lừa thánh, khinh trời, không có luân lý gì nữa”…[4] Cha con Hồ Quý Ly bị bại trận rồi sau bị quân Minh bắt giam cầm, lưu đày tận Kim Lăng (Trung Quốc), trong bối cảnh này rất có thể vua quan thiên triều Đại Minh đã có chủ ý chơi chữ khi cố tình dùng chữ (có chữ ngưu ) để dùng thay chữ (dựa theo vận thư, đồng âm, nghĩa với ) là tên chữ gốc của vua nhà Hồ  như một sự nhạo báng, sỉ nhục Hồ Quý Ly chỉ là lũ trâu bò nô lệ mà thôi, như thế thì quả là một lối chơi chữ quá thâm hiểm của người Hán! Kiểu chơi chữ này,  một lần nữa lại được cá sử gia, văn nhân Đại Việt từ Hậu Lê đến Nguyễn với quan điểm chính thống khinh miệt nhà Hồ nên đã dùng theo như một sự đồng lõa. Tóm lại, tên vua nhà Hồ là LY hay có khả năng là một chữ nguyên gốc đời Hồ,  sau đó vì lý do chính trị, tâm lý nên người xưa đã cố ý dùng chữ viết thay cho nhưng hàm ý không tốt, khinh miệt.

 

          Gần đây, nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Đức Thọ, một chuyên gia nổi tiếng về chữ húy Việt Nam đã hầu như xác nhận chữ húy vua nhà Hồ là LY, mặc dù ông chưa thật sự công bố một chuyên khảohql6 nghiên cứu khoa học nào trên sách, báo nhưng qua các bài viết gửi trên mạng truyền thông internet, Ông Ngô Đức Thọ (NĐT) đã có chủ  ý như vậy khi viết như sau: Sau khi xuất bản cuốn Nghiên cứu chữ huý Việt Nam... Sau đó, trong khi nghiên cứu niên đại của sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa tôi đã phát hiện được chữ viết kiêng huý tiểu tự (tên trước khi làm vua) của Hồ Hán Thương, Sau đó trong khi hoàn thành bản thảo công trình nghiên cứu văn bản học tôi chọn việc giải mã niên đại CNNÂ để thuyết minh phương pháp vận dụng tị huý học vào việc nghiên cứu văn bản Hán Nôm, tôi đã đưa thêm cả phát hiện và khảo chứng về chữ Ly là tên huý của Hồ Quý Ly nữa. Kể như hoàn chỉnh thêm được một chương về Chữ huý thời Hồ chưa  có trong cuốn sách đã công bố. “ (Bổ sung nghiên cứu chữ húy thời Trần: Trinh& Thiên )[11] Chữ huý của nhà Hồ mà tác giả nói, đó là chữ LY trong Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa qua mục từ ly (mao) ngưu, Ngô Đức Thọ còn viết trong Kẻ Chợ - Kattigara xa xăm thân yêu [12] như sau: “9. … cả chữ kiêng huý Hồ Quý Ly cũng được tìm thấy (Chỉ nam ngọc âm,  5b)” cùng với ghi chú trong bài viết (xem hình). Sự thật có phải như NĐT đã xác nhận không? Mấu chốt quan trọng khiến cho Gs Ngô Đức Thọ tin tưởng có chữ húy nhà Hồ chỉ là dựa vào hiện tượng chữ khắc in lạ thường xuất hiện trong văn bản CNNÂGN với chữ LY khắc giống dạng chữ  ở ĐVSKTT  nhưng thiếu nét 厂[13], trùng tên Hồ Quý Ly. Chắc hẳn NĐT xác định nó là một chữ viết húy Ngự danh, (tên vua nhà Hồ) kiểu khuyết bút (lược nét) như phép kỵ húy triều Trần [3], nhưng  nếu ông từng xem bản Đại Việt lịch đại sử tổng luận (bản này chắc chắn có niên đại muộn hơn ĐVSKTT và  CNNÂGN) mà người viết đã dẫn ở trên, trong sách này, chữ LY viết cả 2 dạng như trong ĐVSKTT và CNNÂGN, 2 tự dạng này đã trở thành một bằng chứng quan trọng để phủ nhận chữ LY của CNNÂGN là  chữ viết húy vua nhà Hồ mà thật ra chỉ đơn giản là một dạng viết tục tự của nhà Nho xưa. Chưa kể chữ LY , theo luận cứ của chúng tôi chỉ là một chữ dùng thay cho chữ 釐(chữ gốc tên của Hồ Quý Ly) theo ý đồ chính trị nhằm hạ thấp nhân cách của vua nhà Hồ.

 

          Hồ Quý Ly, người sáng lập ra một triều đại mới là nhà Hồ, là vua của nước Đại Ngu, thế mà cái tên LY của ông, lại được các sử gia Trung Quốc lẫn Việt Nam xưa kia đã viết bằng một chữ Hán có ý nghĩa tầm thường, xấu liên quan  loài trâu như chữ !  Thân phụ Hồ Quý Ly là Lê Quốc Kỳ, vốn dòng quan lại quý tộc, từng giữ chức Kinh lược sứ triều Trần, dĩ nhiên cũng là một bậc túc Nho, không thể nào chọn một chữ LY như vậy để đặt tên cho con trai mình. Trong lịch sử, tên nhà vua có thể viết khác đi ở trường hợp như để ngoại giao nhà vua có thể thay tên giả hoặc do lệnh kiêng húy tên vua, chứ không thấy hiện tượng tùy tiện dùng chữ khác thay chữ gốc tên của vua, nhất là lại dùng một chữ mang nghĩa xấu dễ dẫn đến họa sát thân vì phạm thượng. Rất may, thư tịch còn để lại chứng cứ về một cách viết khác của tên vua nhà Hồ đó là sách Đại sử, Nghiêu sơn đường ngoại kỷ, Xích nhã (Trung Quốc) và Thiên Nam ngữ lục (Việt Nam) với chữ LY viết là hay 厘. Đây là một chữ mang nghĩa tốt đẹp hơn chữ vì vậy chúng tôi cho rằng chữ LY  này mới đích thực là tên của Vua nhà Hồ,  rồi sau do biến động của lịch sử, chữ đã xảy ra diễn biến 釐 -> thông qua một dụng ý văn tự của một người hay tập thể nhằm thỏa mãn mục đích riêng.

 

          Do đó, qua khảo chứng này, rất có thể người viết đã phát hiện ra tên của vua nhà Hồ là LY, nguyên gốc viết chữ Hán là  () chứ không phải là chữ như trong thư tịch Hoa và Việt xưa nay. Qua đó, vừa  phục nguyên lại chữ viết khai sinh họ tên của Hồ (Lê) Quý Ly là 胡 (黎)季釐 trong sử sách, gia phả họ Hồ từ nay về sau và cũng là vừa khôi phục lại danh dự, nhân cách của một nhân vật lịch sử nổi tiếng suốt bao thể kỷ qua, đã chịu oan khuất trong bóng tối khi bị sỉ nhục bằng một lối chơi chữ đầy ác ý, thâm hiểm của người xưa mà không ai hay biết. Nhiều khả năng tác giả của lối chơi chữ tinh ma để hạ nhục Hồ Quý Ly này chính là vua quan nhà Minh trên quan điểm, thái độ về chính trị và tâm lý cao ngạo, khinh miệt của nước thiên triều đối với nước phụ thuộc, qua chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” mà thực chất là âm mưu xâm lược, thôn tính Việt Nam.

 


ĐINH VĂN TUẤN
Biên Hòa ngày 24 tháng 3 năm 2012

               

 

Tài liệu tham khảo chính  

  1. Đào Duy Anh, Giản Yếu Hán Việt từ điển,. NXB Tiếng Dân. Huế 1932
  2. Khang Hy tự điển , Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã 1997
  3. Ngô Đức Thọ. Chữ húy Việt Nam qua các triều đại,. NXB Văn Hóa 1997
  4. Nguyễn Danh Phiệt, Hồ Quý Ly, Viện Sử Học & NXB Văn Hóa – Thông Tin , Hà Nội 1997
  5. Nguyễn Thị Lâm (Phiên chú), Thiên Nam ngữ lục (thơ Nôm), NXB văn học, 2001
  6. Quốc Chấn, Những chuyện lạ thi cử thời xưa, NXB Thanh Hóa, 2006
  7. Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, NXB Đuốc Tuệ. Hà Nội 1942
  8. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (1919), Trung Tâm Học liệu tái bản 1971
  9. Tục tu tứ khố toàn thư, Sử bộ - Địa Lý loại. 3. Đại sử, Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 2002
  10. Viện Khoa Học Xã Hội,  Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993
  11. Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn tập. NXB  Khoa học Xã hội,  Hà Nội 1976
  12. Viện Văn học: Thơ Văn Lý - Trần, tập 111, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978

 

(Đăng lần đầu trên Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 7. 2012)

 

 

 

 



[1] Nhưng theo Minh sử , tên của Kinh Lược sứ là Lê Quốc Mao 黎國髦 chứ không phải là Lê Quốc Kỳ 黎國耆 như truyền bản ở VN.

[2] Nguồn, http://www.archive.org/details/02079216.cn

[3] Nguồn, http://nomfoundation.org/nom-project/History-of-Greater-Vietnam

[5] Dự án số hóa kho tàng thư tịch cổ Văn hiến Hán Nôm , website: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/

[6] Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, bản sao chụp  từ  bản ở Thư  viện Hội  Châu  Á, do anh Lê Sơn Thanh cung cấp.

[7] http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/114/

[9] Nguồn, http://www.archive.org/details/02079216.cn 

[11] Ngô Đức Thọ Blog:  http://vn.360plus.yahoo.com/ngoducthohannom/article?mid=357)

[12] Nguồn: www.viet-studies.info/NgoDucTho_KeCho.pdf

[13] Riêng về tên húy Hồ Hán Thương là HỎA 火, 踝 thì sau khi đọc bài tham luận Thông tin mới nhất về Chỉ Nam ngọc âm cũng của Ngô Đức Thọ. (Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm Ngày 12-13 tháng 11 năm 2004),  người viết (bút danh là Đinh Tuấn) cùng với các thành viên (huongho, Khúc Thần…) trong Diễn đàn Viện Việt Học :  http://www.viethoc.org/phorum/read.php?11,32369,  đã mở ra chủ đề: Chữ huý   trong Chỉ Nam Ngọc Âm ? để bàn thảo và xem xét khả năng có  chữ húy nhà Hồ trong CNNÂGN hay không?  Kết quả là không. Do khuôn khổ bài viết, người viết không tiện đi sâu về tên húy của Hồ Hán Thương trong CNNÂGN nên dự định sẽ viết một bài riêng về tên húy của Hồ Hán Thương. 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Năm 20151:56 SA(Xem: 60360)
Tôi vớt tôi mùa ngược nắng Mang bão bùng đi qua Chớp bể mưa nguồn biến động Tôi còn chấp chới phong ba
26 Tháng Năm 20151:17 SA(Xem: 56534)
Trời đầu tháng năm Cali nắng chan hòa ngoài đường nhưng Thanh còn thấy lạnh. Thế này dù sao cũng còn đỡ hơn ba tháng trước thật nhiều khi Thanh mới theo chồng từ quê nhà sang Mỹ vào đúng giữa mùa đông. Đồng hồ trên lò microwave chỉ mười giờ sáng. Trong vòng vài phút thế nào Thanh sẽ thấy con bé tóc vàng ở nhà cuối đường đẩy xe có đứa bé trai tóc đen đi ngang qua.
23 Tháng Năm 20153:54 SA(Xem: 60141)
Nền văn chương minh họa và phải đạo bén rễ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) kéo dài hơn hai mươi năm bỗng hóa thân vào thời đầu Đổi Mới năm 87- 89 với những tác phẩm vượt trội. Xin tri ân tướng Trần Độ. Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc. Cả hai vị này đã phà duỡng khí hồi sinh vào thây ma của thứ văn chươngvô hồn rập khuôn chính sách văn hóa Liên-Xô đã tạo ra những Quần Đảo Ngục Tù ( goulag) rồi còn lại kẹp thêm tính Mao-nhiều &Mao-ít hậu phong kiến đội tên giả là xã hội chủ nghĩa.
22 Tháng Năm 20153:47 SA(Xem: 71498)
Xung quanh câu chuyện Nguyễn Thị Lộ (NTL) và mối hoạ chu di của dòng họ Nguyễn Trãi quả đã không ít giấy mực bàn cãi, kể cả lý luận, nghiên cứu cho đến văn , thơ, kịch... đã có đến hàng trăm bài viết. Nhìn chung các loại ý kiến chưa thật thống nhất và tính thuyết phục chưa thật cao (1)...Chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều về nghi án này với quan điểm không để tình cảm, thiên kiến lấn át sự thật.
22 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 110068)
Đã 40 năm trôi qua, kể từ mùa Xuân-Hè rực lửa 1972. Trận đánh còn to hơn Điện Biên Phủ 1954 này—thí dụ như sử dụng tới hơn 90,000 quân, so với 40,000 trong trận Điện Biên Phủ—chưa được nghiên cứu tường tận. Một trong những lý do chính là tài liệu; chính xác hơn, thiếu tài liệu khả tín, và quá nhiều cung văn hay đào mộ. Trận chiến Quốc-Cộng 1945-1975 là một trận chiến bị ô nhiễm nặng hệ tuyên truyền kiểu Maoist—tức phe tự nhận “Cộng Sản” không thể thua, chỉ có thể toàn thắng, vô địch...Ở lần hiệu đính thứ sáu này, chúng tôi sử dụng tên thật các tác nhân CSVN hơn bí danh cách mạng của họ. Như Linov Nguyễn Sinh Côn thay vì Hồ Chí Minh, Phan Đình Khải thay vì Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Yến Sa thay vì Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Chấn mà không Trần Văn Trà, Phạm Văn Thiện, không Phạm Hùng, v.. v ..
21 Tháng Năm 20151:56 SA(Xem: 59709)
"Nếu dưới góc độ tình nghĩa , sự phủ nhận những gì đã nuôi dưỡng mình thời trẻ là điều đáng trách thì nhìn từ góc độ khác - góc độ nhận thức chẳng hạn - sự từ bỏ những gì có thời mình đã ngoan ngoãn tiếp nhận đôi khi lại là điều đáng mong đợi. Lấy ví dụ như những người từng học ở Trường Plekhanov chuyên dậy quản lý kinh tế theo phương pháp kế hoạch hóa - tập trung bao cấp thì đạt điểm càng cao sau này càng dễ gây tác hại (!) khi làm việc trên thực tế. Họ chỉ có thể ăn nên làm ra khi “phản tỉnh”, ngộ ra một điều đơn giản : kinh tế thị trường là thành quả lớn lao của trí tuệ loài người."(Phan Hồng Giang)
21 Tháng Năm 201512:52 SA(Xem: 57455)
Em thật thà,hay cố tình không biết Thơ anh làm,đâu phải chỉ cho em Thơ không tội,tình yêu không có lổi Chỉ có lòng tin,em vội đặt nhầm
17 Tháng Năm 20155:10 SA(Xem: 56332)
…Tôi bước lên những bậc thềm mịn rêu, bước chậm, sợ mình sẽ bị trượt ra sau, cái ngã ngửa chẳng khác nào cái rớt xuống trần gian đầy ngỡ ngàng của hai chàng Lưu Nguyễn. Tôi chưa muốn thế, tôi đang muốn sống cõi phi thực kia với từng rung động e dè chậm chậm, để nghe chạm vào cánh cổng đã hoen rỉ tháng năm, và dù nhẹ nhàng đến thế nào cũng sẽ ghê răng bởi tiếng rít của một cánh cửa lâu ngày không mở.
14 Tháng Năm 201511:28 CH(Xem: 61451)
Trăng đang vỡ trên ngọn đồi ký ức Bóng tim tôi vướng nhánh giao mùa Tiếng hát ai vỡ tràn đêm đắng Tôi vỡ vô vàn trong ánh trăng xanh
14 Tháng Năm 201510:01 CH(Xem: 56788)
Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Việt Thanh với lối viết nhẹ nhàng và sâu lắng sẽ đưa chúng ta trở về nông thôn Việt Nam bằng những “Ao làng”, “Nắm lá ngày Đoan ngọ”, và lối đánh bắt cá độc đáo của rất ít người và bây giờ cũng không còn ai sử dụng nữa đó là “Bơi dể”. Chúng tôi trân trọng gởi đến quí văn hữu và độc giả những tản văn của Nguyễn Việt Thanh.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15691)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16123)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1257)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3190)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2961)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1104)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5168)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7153)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6465)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 586)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 451)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1222)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2530)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2355)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2190)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2363)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2391)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 975)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13476)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29572)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35671)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10655)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12614)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3193)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3350)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4040)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7064)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9780)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.