- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,797

Thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư

07 Tháng Mười 20145:30 SA(Xem: 19883)
NgHoangAnhThu-2014-ThoBW
Nguyễn Hoàng Anh Thư - 2014


Thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư

 

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Hoàng Anh Thư hiện ở Huế, có nhiều tác phẩm đăng ở các báo trong và ngoài nước. Thơ của Thư có sự mềm mại thi ca và quyến rũ trí tuệ. Chúng tôi trân trọng gởi đến quí  bạn đọc và văn hữu của Hợp Lưu những thi phẩm của Nguyễn Hoàng Anh Thư.

Tạp Chí Hợp Lưu


Con Chữ thứ 17 của vần Quốc ngữ

Nó chính là phụ âm thứ 13
R

mà khi phát âm

lưỡi của bạn bị uốn về phía sau

cuống họng sẽ run

như khi bạn run rẩy

khi ra tay tế độ trầm luân

 

R

không phải ai cũng ra sức hết lòng cứu nước

nó phải run lên

khi phải kê khai lòng can đảm

trên bảng vàng

 

R

có thể bạn run khi chiếc lưỡi uốn hình chiếc móc câu

ra rả tiếng cuốc kêu

trong lùm cỏ

mà bạn nghe nhầm như tiếng bìm bịp ra ràng

cong như chùm râu của đổng trác

 

R

lưỡi bạn cứ cong lên

ràng rịt khi trời ràng rạng sáng

rối mù trong tiếng cắt kính ré lên

như tiếng cười khan

 

 

Điểm dừng, có thể từ ngày hôm qua

 

Có thể bắt đầu lại suy nghĩ

không phải bạn hành hương trên cát

có thể là dòng sông

lời sóng cuộn dưới đôi bàn chân

 

Có thể bạn chạm đầu ngọn sóng,

nghe chúng nói với bạn rằng

là không thể

Chúng lách mình qua những vi mạch của sự đắn đo

làm bạn trượt ngã

suy nghĩ của ngày hôm qua

 

Những ngọn sóng tích hợp những lý do

thoái thác cho một điều không hiểu

và bạn tò mò

từ đáy sâu nghìn trùng của đại dương

 

Bạn hỏi bạn là ai, có thể như vậy

hãy nhìn vào khoảng cách

không nằm ở đôi bàn chân

 

Tìm kiếm bạn trong một đống đổ nát

có thể bạn là một mảnh

của lập trình thời gian

Để đi vào thế giới

 

 

Cái chết của một bài thơ

 

Tôi viết một bài thơ lên giữa ban ngày

khi nhìn thấy sĩ diện của những con người cần biện luận cho hạn sử dụng trên cái nhãn hiệu của mình

những gương mặt dài thuỗn được ướp đủ thứ gia vị nhằng nhịt

nuốt những bình an trên những ngã tư đường

 

Tôi viết bài thơ giữa ban ngày

nỗi sợ hãi làm giấc mơ bị trói

và bài thơ nói

chúng đã cướp đi vẻ đẹp của hoa hồng

tôi đặt bài thơ trong quả bóng tròn

( và đoán rằng chúng bị nổ tung khi chưa kịp bay lên)

 

Và bài thơ chẳng kịp chèn

những dự cảm về ngọn triều cho mùa trăng mới

nó bèn ngụy biện cho sự sợ hãi

khi thấy Nick Vujicic đã khoác lên mình cả thế giới trong cái hình hài giấc mơ bị trói

tôi khoác hình hài trong bài thơ khuyết tật

bài thơ ép xác nỗi đau của loài thành mật

và liếm môi

 

Tôi đặt bài thơ giữa ngày

những con chữ kiêu hãnh bắt đầu hoại tử trong ổ bụng

theo tiếng thở dài

và trôi

 

Vắt xác trên những đám bụi cuối ngày

 

 

Văn xuôi về cuộc đời

 

Một ngày cuộc đời sao chép các thể loại

nhận xét về thành tích

viết đơn xin giải thưởng

để về hưu

 

Giải thưởng có mười hai loại

mười hai cuộc đời con giáp

khỉ phá phách, hổ khát máu và những con ngựa trở chứng đá bậy

cuộc đời nhìn con trâu tin cậy

kéo rồng cày rắn

đùa chó giỡn mèo

gặm nhấm trên hai chiếc răng của loài chuột chũi

và ngủ say như con lợn điếc trong chuồng

có con dê chợt nửa đêm thức giấc

lúc trâu đang nhai lại chuẩn bị đi cày

lúc khỉ thích hú đua nhau bắt chước

lúc những con chuột lúc nhúc trong những khoang dạ dày

cũng vừa lúc con gà cất tiếng gáy vắt vẻo đỉnh sương

 

Cuộc đời sao chép tất cả các ngày lành tháng tốt một cách tinh tường

sao chép giờ khắc của những ngày lên đường

sao chép những gương mặt từng như đã gặp, từng như đã quen

họ cười và khóc qua từng trang

bài văn xuôi về cuộc đời vốn thế

hẳn nhiên như một chiếc lá vàng tự kể

về những chiếc lá kim, lá bỏng, lá tròn, lá gai, lá dài như hình lưỡi kiếm

những chiếc lá sống trong tuyết và đi qua sa mạc

để lắng nghe và viết mẫu văn xuôi về cuộc đời đãi bạc

lắng chìm, nổi trôi

 

Mười hai con giáp đang lắng nghe câu chuyện văn xuôi

chúng dỏng tai mà buồn rười rượi

chúng nói với con người:

đừng gắn chúng cho những thể loại sao chép của con người.

 

Đưa tang nỗi buồn

 

Bước chậm hơn

để kịp nhìn ra phía sau lần cuối

rằng để thấy chuyến đi cần dài hơn

cuộc sống không muốn cam kết tội lỗi với nỗi buồn

 

Chiếc đồng hồ

những con số La Mã vừa gạch chéo cho một kết thúc

lũ khủng long

và quỹ đạo lìa xa mặt trăng

 

Đưa tang nỗi buồn

trong một sáng bình minh sương

( dĩ nhiên, cả bạn và tôi đều muốn)

chầm chậm thôi

nỗi buồn đắn đo thèm ngủ thêm chốc nữa

 

Đưa tang nỗi buồn

 

chiếc đồng hồ xói mòn cơ

chúng chỉ dừng lại và đếm

đánh rơi nỗi nghi ngờ mấy tiếng

 

Đưa tang nỗi buồn

dừng lại và nghe bên trong chiếc túi

nỗi buồn đang thở gấp

chúng muốn chứng thực trong quyển sách nói về ánh sáng hôm qua

lần cuối.

 

 

Cho một phóng tác

 

Những câu chữ cày xới hình vóc

cho một vụ mưa

những hạt giống kì quái

bài trí sự lạnh lùng trong những sáo ngôn bên trong khung chữ

nhúm nhó giấc mơ của sọ dừa

 

Những chữ nghĩa lang thang

những con người lang thang

du mục qua những cánh rừng

dễ dãi, chung chạ và trần truồng

khi cơn mưa ướt mèm chữ nghĩa

cho một phóng tác

 

Những câu chữ cày xới hình vóc

chuẩn bị âm mưu cướp ngôi của giấc mơ

nó lơ láo nhìn

sự bài trí của những sáo ngôn

rồi cười khì

NGUYỄN HOÀNG ANH THƯ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1111)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1180)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1861)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5899)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5878)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13211)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30118)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81244)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20263)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 36)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down