- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Phỏng vấn Nguyễn Hữu Hồng Minh và Trần Vũ về thơ và văn xuôi VN đương đại… (Phần 1 / 2)

17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 54334)
 

LTS: Dưới đây là bài “Nguyễn Hữu Hồng Minh - Nhà thơ hiện nay như con sói trụi lông...” của "Văn Chương Việt" phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh. Chúng tôi xin phép được đăng lại để gởi đến quí bạn đọc của Hợp Lưu. Xin chân thành cảm ơn “Văn Chương Việt”TCHL


Nguyễn Hữu Hồng Minh - Nhà thơ hiện nay như con sói trụi lông...


nhhm-_chan_dung_1

 Nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh


Cuộc tìm kiếm trong hai mươi năm về hình thức.

Lâu nay, người ta biết đến Nguyễn Hữu Hồng Minh với vai trò là một nhà thơ. Tôi lấy làm lạ khi ở lần này, anh ra mắt văn xuôi.


- Khởi đầu của tôi là văn xuôi. Tôi từng được giải ba trong cuộc thi Văn học tuổi xanh (Cuộc thi của báo Tiền Phong – PV) năm 1990 và giải nhất trong một cuộc thi truyện ngắn do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đà Nẵng tổ chức. Ngày đó ông Hoàng Tuấn Anh (Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch hiện nay - PV) còn làm bí thư tỉnh đoàn đã trao cho tôi giải thưởng đó vào năm 1992. Với Văn học tuổi xanh, cũng có khá nhiều tên tuổi bước ra từ cuộc thi này. Cuốn này là cả một quá trình hai mươi năm của tôi đấy!


Anh muốn nói điều gì trong Ổ thiên đường


- Nói sơ về cuốn này thì hai mươi năm mà tôi mới in được là một sự thất bại. Một nhà văn bình thường một năm phải in ra được một cuốn hay hai ba cuốn nhưng với tôi thì khó quá. Khó ở chỗ tôi luôn muốn tìm một hình thức để nói tiếng nói của mình nên đôi khi tôi thấy mình lạc lõng. Mình càng muốn nói rõ ràng ra thì lại thấy càng gò bó. Mình muốn nói giọng nói của mình. Tôi nghĩ mình là một tội đồ hơn là một nghệ sĩ. Người ta chấp nhận viết sai rồi sửa sai, cứ viết đi rồi ngày mai mình hoàn thiện dần nhưng tôi thì không làm được như vậy. Mình đi tìm sự hoàn thiện rồi nó bị đưa đi vào hoang mang. Con đường mình đi quá mơ hồ. Tôi nghĩ cuốn sách này những người làm nghề, những người viết truyện ngắn nên đọc. Tôi nghĩ tôi chia sẻ với những người đang làm văn xuôi. Đó là sự tìm kiếm trong hai mươi năm về một hình thức mới. Tôi nghĩ những người viết văn xuôi sẽ có nhiều bổ ích khi đọc nó bởi nó là cuộc tìm kiếm trong hai mươi năm của tôi về hình thức. Tôi nói thế nào về văn xuôi thì trong này có rất rõ. Đó là những hình thức mới, những sáng tạo mới. Tôi hy vọng cuốn này tốt và có cái gì đó để đọc.


nhhm-o_thien_duong-content

Thêm nữa, với Ổ thiên đường, tôi nghĩ đây là một sự mới mẻ của công tác kiểm duyệt. Mọi thể nghiệm của tôi về văn xuôi nằm trong này hết. Những vấn đề tôi nói về chính trị, xã hội, về thế giới viết. Trong này có hai truyện Nhai nhựa và Vẽ bùa mà đeo tôi tính viết thành tiểu thuyết nhưng chưa xong nên thành như hai truyện vừa. Tôi nghĩ cuốn này ra sẽ tạo cho tôi cảm hứng để viết tiếp. Nói chung, cuốn sách này làm tôi thấy hài lòng. Còn sắp tới nó có gập gềnh gì không thì tôi chưa biết được nhưng trong cuồn này có nhiều thể nghiệm mới lắm!


Anh hình dung đường kinh tế của cuốn sách ra sao?


- Tôi nghĩ cuốn này bán được. Một số bạn bè tôi bảo chỉ cần cuốn sách mang tên Nguyễn Hữu Hồng Minh thì sẽ bán được nhiều. Tôi nghĩ bên Đinh Tỵ (đơn vị liên kết xuất bản với NXB Văn học) cũng từ điều đó mà họ ra cuốn này. Trong văn học có những các cứ, tức là những nhà văn, nhà thơ họ hình thành được thế giới của họ nên nhiều khi tác phẩm không hấp dẫn nhưng cái tên của họ hấp dẫn. Sự hấp dẫn do trong một thời gian dài cái tên ấy bị vấn đề gì đó, bị nghi kỵ gì đó nên sẽ tạo ra sự tò mò. Nhiều bạn bè tôi cũng nói, thực sự họ cũng muốn xem thằng Hồng Minh viết những gì sau những “dấu vết” gì đó.


Có vẻ, anh bắt đầu chịu thỏa hiệp?


- Tôi cho đây là cuốn sách rất cố gắng của nhà xuất bản. Có thể, người biên tập cuốn này sẽ thấy rằng thằng Minh cũng dở thôi chứ chẳng có gì ghê gớm. Nó cũng chỉ như thế thôi. Nhưng người ta lại nghĩ một tác giả nào đấy ở trong bóng tối sau khi đã trải qua một vài sự cố, tai nạn nào đó trong nghề nghiệp thì sẽ đưa những tên tuổi đó vào hai tình huống, thứ nhất là người ta có vấn đề thật, có cái gì đó mới mẻ thật, thứ hai là người ta giải tỏa được. Cuốn này ra thì Nguyễn Hữu Hồng Minh hết trơn rồi. Thế là được.


Cuộc đời luôn có sự độ lượng 


Tôi biết là anh người khá cực đoan trong sự nghiệp viết lách. Cái cực đoan của một kẻ vắt kiệt mình cho cái mới và ít chịu thỏa hiệp với đời sống, với những áng văn thơ đèm đẹp đang nhan nhãn ngoài kia. Để cuối cùng, chính cái mới đè nát cuộc đời anh…


- Cái thế giới văn nghệ của lớp bọn tôi bị mắc kẹt trong cái ý mà bạn nói. Trong bối cảnh của thời điểm đó, còn quá nhiều hạn chế như văn hóa đọc chưa cao, rồi việc đào tạo cũng chưa được như bây giờ. Chúng tôi bị mắc kẹt trong đó đấy.


Bạn nói rất đúng, cái tôi của người viết nó cứ bị cọc cạch trong đó, văn hóa không đến đâu, ngoại ngữ cũng ấm a ấm ớ…Bản thân nó cũng thấy chán nản chính nó. Có rất nhiều cuốn sách của bạn bè mà tôi không đọc được vì những suy nghĩ già cỗi, mệt mỏi nhưng họ cũng không thể làm khác được, đến đó là hết rồi.


Anh nhắc về những sự cố, về tai nạn nào đó trong sự nghiệp. Tôi muốn biết cảm giác của anh trong những ngày mưa gió ấy?

- Tôi nghĩ những gì mà người ta đã biết mà mình nói lại cũng dở đi.


vo_chong_nha_tho_nhhminh

 Vợ chồng nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh & Nguyệt Phạm


Tôi vẫn muốn anh chia sẻ tý về cuộc sống của anh trong thời điểm đó.


- Bạn biết cả hai vợ chồng tôi đấy, gia đình chúng tôi bị thử thách rất nhiều thứ. Nguyệt (nhà thơ Nguyệt Phạm, vợ của Nguyễn Hữu Hồng Minh – PV) muốn tự vẫn mấy lần. Vợ tôi bức xúc vì lúc cô ấy sinh con tôi vẫn lang thang, công việc, tiền bạc không có. Anh Nguyễn Công Khế mang tôi về Thanh Niên nhưng có ký hợp đồng gì đâu, cứ thả tôi sống lay lắt như thế, cuộc sống của tôi khi ấy rất kinh hoàng. Mình chỉ như một thứ vớ vẩn. Tôi như một thằng đàn ông khốn nạn khi vợ sinh mà tôi không có đồng bạc nào hết.


Tôi thấy thế này, có vẻ như cái “tai nạn” của anh nó không gây hậu quả tức thì mà âm ỉ, kéo dài suốt những tháng năm sau đó?


- Chính xác. Những tai nạn trong văn chương nhìn bề ngoài tưởng đơn giản nhưng bên trong kinh khủng lắm. Tất nhiên ở cuộc đời luôn có những sự độ lượng. Mình được giúp đỡ từ những nơi khác, những nơi mà mình không ngờ đến.


Thơ không hay nhưng nhà thơ ngày càng hung dữ...


Thế còn với thơ hiện nay thì sao? Thưa anh!


- Cái đích cuối cùng của văn nghệ vẫn là sự sáng tạo ngôn ngữ, hình ảnh nhưng đời sống của văn học hôm nay bị báo chí xé vụn hết. Hầu hết các nhà văn, nhà thơ hiện nay đều chạy theo luật chơi của báo chí. Báo chí hiện nay chỉ đăng những gì dễ đọc và vừa với khuôn khổ của họ thôi, có nhiều thứ rất hay không “hạp” với họ. Tôi thấy một số tài năng chỉ viết những điều lảm nhảm, nếu gọi văn chương là không đúng.


Anh có vẻ bi quan?


- Tôi không bi quan nhưng chẳng thấy điều gì sáng sủa. Tôi nhìn nhận một cách nghiêm túc tất cả những tác phẩm trong luồng hay ngoài luồng, xuất bản chính thức hay không chính thức thì tính văn học vẫn chưa được như mong muốn của độc giả. Tôi cảm giác các thi sĩ đi tìm kiếm cái vật vã thì nhiều chứ chưa đưa ra được một điều gì đó tích cực.


Theo anh thì vì sao thơ ở ta lại rơi vào tình cảnh như thế?


- Đó là vì văn hóa đọc, văn hóa đọc hiện tại đang có những mâu thuẫn ghê gớm. Những gì đụng đến màu mè, diêm dúa, đụng đến thi ca, là làm dáng thì người ta loại trừ hết. Ở đây có hai vấn đề, trước hết là có một thời gian thơ của ta quá dở, theo thời gian nó suy kiệt vì người ta không còn tin vào các nhà thơ nữa. Bạn đọc không cần thơ nữa và thơ tự chết đi. Rồi các tờ báo người ta muốn lấy các trang thơ để đi làm quảng cáo. Nhưng cơ bản là bạn đọc không còn chịu nổi chuyện màu mè, vớ vẩn của nhà thơ trong khi những vấn đề thời sự anh lại không đụng đến. Thứ nữa là cần một trang mới thật sự thì thơ mới trở lại được với độc giả. Tôi thấy đời sống của anh nhà thơ buồn cười lắm, gần như là không có nhuận bút và không có gì cả. Nhà thơ chẳng có gì để tồn tại cả.


Hay bi kịch của thi ca đương đại là sự thiếu hụt tài năng?


- Tài năng thì không thiếu. Trước đây nhà thơ là những người đẹp như con đại bàng, như con phượng hoàng vậy còn nhà thơ hiện nay lại chuyển sang trạng thái hung dữ. Các nhà thơ hiện nay giống như những con chó sói trụi lông đi kiếm ăn vậy. Trông hung dữ lắm. Bởi vì là họ không còn đất để sống.


Anh ví dụ xem…


- Nhiều chứ! Nhưng tôi chỉ nói như vậy là được rồi (Cười). Khi không còn đất sống, không còn tri kỷ nữa, họ trở nên hung dữ. Nhưng có hung dữ thì thơ họ cũng không hay. Nói gì thì nói thơ vẫn cần có sự điềm tĩnh. Nó là cái barie giữa tri thức và sự điềm tĩnh. Thơ không phải là cái áo mà nó cần sự sâu lắng. Thời đại hiện nay người ta đi quá nhanh, người ta chưa chuẩn bị cho mình một khoảng lặng. Cho nên bi kịch của nhà thơ hiện tại làm thơ không hay nhưng họ ngày càng hung dữ. Họ phải đi kiếm ăn, họ bị rã đàn.


Lời anh nói khiến tôi có cảm giác như các thi sĩ ở ta hiện nay đang gặm nhấm, cào cấu hay nói vui vẻ tý là đang ăn thịt chính mình hơn là đi tìm kiếm, khám phá dăm điều mới mẻ nào đó cho thi ca?


- Gần như là như vậy. Đó cũng là một cách nói. Còn một điều nữa là nhiều tác phẩm hiện nay vẫn còn mang tính làm dáng, đọc xong rồi chẳng thấy có gì cả. Các nhà thơ cứ nghĩ điều đó là ngon hơn tất cả, tức là nhấm nháp mà. Nhưng với những hương vị họ đưa ra cũng nhạt thếch và chả có gì mới mẻ cả.


Anh có nhầm lẫn không? Theo chỗ tôi được biết là hiện nay, trong giới văn chương có một phong trào xuất bản tự do mà lý do theo họ là bởi họ mới quá, trong khi đó các nhà xuất bản ở ta thì cũ kỹ, không theo kịp với thời đại?


- Có những quan điểm văn học lợi dụng chuyện kiểm duyệt, một số khó khăn, một số rào cản không đi kịp xã hội như cách đọc, cách xử lý văn bản…để nâng “phông” mình lên. Tôi cũng đọc rất nhiều cái đó nhưng tôi chẳng thấy nó có gì mới cả. Thế nên trong cuốn này tôi có viết truyện vừa là Vẽ bùa mà đeo đấy. Họ cứ tưởng mình là ghê gớm nhưng thực sự chẳng là gì hết. Trở lại với tâm thế người viết, tôi nghĩ người viết thực sự phải bản lĩnh. Người ta phải viết tác phẩm trong bóng tối còn chuyện có đưa ra được hay không hoàn toàn lại là một câu chuyện khác. Nó hoàn toàn chẳng ăn nhập gì vào đây cả. Hiện nay người viết dường như họ còn nôn nóng và hay lợi dụng.


Bài thơ đưa tên tuổi Nguyễn Hữu Hồng Minh lên đỉnh cao nhưng cũng đẩy đời anh vào bóng tối trong một quãng thời gian khá dài.



LỔ THỦNG LỊCH SỬ


Nhiều khi hắn thấy dương vật hắn đang ở Sàigòn,

Đầu hắn ở Hà Nội

Và tay chân thì rơi rụng đâu đó ở Sóc Trăng

Buổi sáng ở miền Trung, trưa ở miền Nam,

Chiều ở miền Bắc, tối ở miền Tây

Ly cà phê nhìn ra tháp Rùa đắng như máu hắn

Cơn điên rồ chùa Mã Tộc, ngày tháng bạc Kênh Xáng

Những người đàn bà Miên, ôi vóc dáng màu da muộn phiền biết bao nhiêu!

Những sợi khói như những cái thòng lọng dụ hắn treo cổ

Nhiều khi trong mơ thấy mình đã chết. Xác thối, diều cắt quạ tha. Hắn khoái trá cho điều ấy!


Linh hồn hắn treo đâu đó trên một cọng lông háng của em gái Hải Phòng làm điếm ở Trung Quốc

Lảm nhảm ở Vĩnh Long, bợ đít ở Cần Thơ, dạng háng ở Cà Mau,

Cạo mặt ở Bạc Liêu, quắn như điên ở Hà Khẩu, động cỡn ở Sa Pa, say ở Lào Cai

Miệng còn kêu Đặng Thiều Quang, hãy chết đi Quang!

Chửi rủa ở Huế, cúng bái ở Quảng Bình, bắc cặc đái ở Mỹ Sơn và đi ỉa ở Hội An

Đụ trên sông Thu và bú lồn trên sông Hương

Khạc nhổ trên sông Gianh, rượt đuổi chém nhau trên sông Hàn

Khinh bỉ nòi Việt trên sông Hồng, miệt thị giống Hoa trên sông Nậm Thị


Hắn cắt mọi khoanh đời dấu vào tác phẩm

Những suy nghĩ non tơ đã kịp mọc tóc trong hộp sọ rắn như đá của hắn

Bản chất hắn là Cộng sản, là Cộng sản!

Hắn cười cợt méo mó như một lỗ thủng của lịch sử

Hoảng loạn và kinh sợ khi hắn phát hiện ra mình vẫn sống mà làm việc với những xác chết

Đi đứng ngoằn nghèo như ma trơi, linh hồn quỉ nhập tràng luôn dụ khị hắn làm những trò mê cuồng và quái đản

Hắn muốn làm tình với Nguyễn Thị Thu Huệ - Hắn tàn bạo điều đó

Hắn muốn hiếp Lê Thị Mỹ Ý - Hắn thèm muốn điều đó

Hắn không nứng trước Phan Thị Vàng Anh - Hắn khẳng định điều đó

Hắn yêu Ly Hoàng Ly – Hắn mãi tôn thờ điều đó

Hắn sợ hãi lỗ nẻ của Vi Thùy Linh - Hắn khiếp hãi điều đó

Nhân loại chui ra từ háng - Hắn quả quyết điều đó

Dân tộc Việt là một dân tộc mê lồn - Hắn xác tín điều đó


Nhưng khi hắn cần dương vật thì hắn biết bỏ quên ở Sài gòn

Hắn cần đầu thì mới hay vứt ở Hà Nội

Hắn cần khua khoắng chân tay thì đã rụng rơi đâu đó ở Cà Mau

Trong giấc mơ hắn không rõ hắn đã nói điều gì với Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang

Dạng háng! Hãy dạng háng!

Hắn kêu lên với những tiếng của lỗ đít...


NHHM

Hà Cao (thực hiện)


NGUỒN:

http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=16965





Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1289)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1060)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1497)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1337)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1609)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2022)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16204)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15219)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15578)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1288)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1497)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2022)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4202)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5989)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5413)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5992)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1337)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1889)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1831)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1608)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1604)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1636)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12376)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28644)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35164)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35018)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9886)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12012)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1060)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1497)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2022)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2497)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7034)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6472)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8408)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.