- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mưa Sàigòn, Mưa Phnom Penh

02 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 61597)

muasaigon-nxtv-content

Cuối cùng, tôi cũng đến Phnom Penh. Phnom Penh của Hậu, Phnom Penh của tôi trong trí tưởng tượng. Tôi đẩy xe hành lý qua hải quan. Tôi chờ đợi những âm thanh náo động bên ngoài như năm nào tôi về phi trường Tân Sơn Nhất. Hai cánh cửa mở ra. Hơi nóng ngột ngạt bốc lên mặt. Tiếng lá cây rì rào xen trong tiếng người nói nhè nhẹ khiến tôi bỡ ngỡ. Phi trường Phnom Penh vắng vẻ như thành phố tỉnh nhỏ. Buổi trưa nắng chói. Những cánh phượng rực rỡ nở trên bầu trời xanh. Chúng tôi ra lề đường chờ xe nhà đến đón.

Frère Anh đến đón chúng tôi bằng bốn chiếc xe tuk tuk. Chúng tôi chất hành lý lên xe. Tôi nhảy lên một chiếc với mấy valise áo quần. Xe nổ máy xình xịch rời phi trường, chạy vào trung tâm thành phố. Người có đông hơn, xe có nhiều hơn chút ít, nhưng vẫn một khung cảnh vắng vẻ của ngoại ô cũ kỹ. Một vài con đường mới được tân trang với nhà lầu và siêu thị lớn. Đế quốc Khmer đã có thời thịnh vượng nhất Đông Nam Á. Trải qua thời kỳ Pháp thuộc, cuộc chiến với Việt Nam, và bị cai trị bởi bọn diệt chủng Pol Pot, vương quốc Khmer dường như vẫn còn mang đầy trong mình những vết thương chưa lành. Tôi ngồi trên xe, ngắm đường phố Phnom Penh lần đầu trong đời, tưởng chừng như đi về một nơi chốn xa xưa trong ký ức.

Xe xuống dốc chạy vòng theo bờ sông thoai thoải. Bến phà hiện ra đột ngột ở cuối con đuờng. Bốn chiếc tuk tuk chạy lên phà, đậu theo thứ tự trước sau. Chúng tôi leo lên tầng hai để tránh khói và tiếng ồn. Gió mát rượi ở tầng hai. Tôi đứng ở đầu phà, nhìn suốt dòng sông soi nắng óng ánh. Từ đây xuôi dòng về nam, nước sẽ chảy về sông Hậu sông Tiền, về Bến Tre Vĩnh Long. Miền Nam của quê hương tôi ở đó. Mảnh đất màu mỡ phù sa tôi chưa từng đặt chân đến. Rừng tràm của Đồng Tháp Mười bạt ngàn như tôi đọc trong sách giáo khoa. Tôi đã đọc Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc và say mê khung cảnh u tịch của rừng U Minh từ đó. Không biết bây giờ có còn rùa nhiều như kiến nữa không? Thằng Cộc đã cưới được con Thôi chưa? Và đất ở gò Ô Heo đã thuần để cho người nghèo trồng xoài mít dừa cau?

Phà nổ máy lạch bạch rời bến. Tôi nhìn mặt nước đục ngầu phù sa, nhớ Hậu. Hậu của Mưa Ở Phnom Penh tôi viết năm nào. Tôi thầm hỏi có phải Hậu của tôi đã từng dầm mình trong dòng sông này? Có phải bờ bên kia, đằng sau dãy nhà lụp xụp, nơi có dề lục bình tần ngần đậu lại là chỗ Hậu đã nhào xuống sau lần đầu tiên bị cưỡng bức? Mặt trời chói lòa làm mắt tôi đổ quáng, cả khoảng không gian rung rinh như nước xao, và tôi tưởng chừng như mình thấy Hậu, bằng xương bằng thịt.

Bến phà bên này sông là dãy bè nuôi cá của người Việt. Bè này tiếp theo bè kia, dập dềnh trên sóng. Đời sống của người dân Việt ở đây cũng lênh đênh như bè. Nước lên nước xuống đưa đẩy buồn phiền. Cả khúc sông lặng tăm, chỉ có tiếng máy phà lạch xạch. Một câu vọng cổ ngân nga tỏa lan trên mặt nước. Chắc chẳng khác gì một khúc sông của quê nhà. Phà cập bến, những đứa bé Việt da đen không thua màu da thổ dân đứng trên bè chỉ chỏ. Tôi đưa tay vẫy vẫy trước khi lên xe, tiếp tục lộ trình vào làng.

Làng nghèo lắm, chỉ cách đô thị một dòng sông mà như hai thế giới cách biệt. Đường làng đất đỏ, bụi tung mù theo từng vòng xe qua. Bốn chiếc tuk tuk chạy rậm rị trên con đường lồi lõm ổ gà ổ trâu. Hầu hết nhà dân ở đây xây theo kiểu nhà sàn để tránh lụt. Sàn dưới để sạp ngồi và nhà bếp; sàn trên để ngủ. Sân nhà nào cũng trang bị vài cái lu để chứa nước mưa. Trẻ con lang thang trên đường, chung với xe đạp, xe thồ, với chó, với voi. Có đứa mặc quần, có đứa chạy tồng ngồng, da mốc meo vì bụi đất. Cách vài quãng đường, tôi lại thấy một quán nước nhỏ, lẹo tẹo vài hộp bánh, cái kẹo. Xe chạy ngang qua ngôi chùa vừa xong giờ kinh. Màu áo sư tăng vàng cam phất phới như những cánh bướm rực rỡ chào đón chúng tôi.

*

Buổi tối đầu tiên ở trường La Salle Po Thum, tôi không thể nào ngủ. Mặt trời xuống rất nhanh ở miền quê. Từ trường, tôi không nhìn thấy sông, nhưng tôi biết, sông ở về phía tay phải của trường, cách vườn chuối độ vài trăm mét. Bên kia sông, lập lòe vài ngọn đèn. Gió mát đã bắt đầu thổi từ lúc mặt trời lặn. Cánh đồng quanh trường xào xạc tựa Đồng cỏ Miên của Trần Vũ. Tôi nghĩ đến những nhân vật của anh, “tôi”, Trình, Côn, Tùng, những người thanh niên Việt Nam thi hành nghĩa vụ quân sự ở Campuchia. Anh Năng, anh họ tôi, cũng trở về từ đồng cỏ Miên hoang dại, da thâm sì vì vi trùng sốt rét. Buổi chiều vào làng tôi đã gặp người bản xứ. Tôi nhìn vào khuôn mặt những thanh niên Khmer, tìm tia lửa ác độc của tên cầm súng đã bắn vào những nhân vật của Trần Vũ, nhưng tôi chỉ thấy người Khmer da đen kịt, hiền lành đến khờ khạo. Tôi chỉ thấy người dân Khmer nhẫn nhục, chịu mất từng tấc đất cho lòng tham bành trướng của lân bang. Những tên cầm súng đó chắc đã chết, đã xuống mồ với bọn Khmer Đỏ.

Mặt trời vừa sụp là tiếng dế và cóc nhái trỗi lên. Không phải bản hòa tấu côn trùng êm đềm ru ngủ mà ầm ĩ đến nhức óc. Tôi thiếp đi được một lát rồi thức giấc lúc gần sáng. Căn phòng mờ. Một chút ánh sáng vàng của đèn neon chiếu vào từ hành lang, hắt lên tường những hình ảnh ma mị. Những cái đầu lâu trắng hếu chồng trên kệ tựa hộp đồ chơi xếp đều. Tôi nhắm chặt mắt. Có tiếng trẻ con ré lên ở góc phòng. Tim tôi đánh thót. Thêm một tiếng khóc thét, một tiếng nữa, một tiếng nữa. Cả căn phòng ngập tiếng kêu gào. Tôi bịt tai. Tôi nhắm mắt. Tay tôi toát mồ hôi. Một rừng âm thanh chợt tắt, chỉ còn những thân xác trẻ thơ phơi bày, đầu dập vào thân cây nát bét. Tôi sợ hãi nhìn những đôi mắt trẻ con chết vẫn còn mở trừng. Bảo tàng diệt chủng Toul Sleng và Cánh Đồng Chết The Killing Fields sẽ còn ám ảnh tôi mãi. Tôi ngồi dậy mở đèn, nhìn đồng hồ tay. Bốn giờ sáng. Bên kia sông, loa phóng thanh của chùa bắt đầu tụng kinh buổi sáng. Bên ngoài có ai đó đã lục đục thức dậy.

Chúng tôi bắt đầu khai giảng các lớp Anh văn mùa hè cho các em nhỏ trong làng lúc một giờ trưa. Mười hai giờ đã thấy chúng lục tục kéo đến. Chung diệp xua. Chúng lễ phép chắp tay cúi đầu chào thầy cô. Tôi cũng chắp tay cúi đầu. Chung diệp xua. Học trò lớn còn mắc cở, nhưng những đứa bé lớp một cứ đu theo tôi. Chúng ân cần nắm tay tôi vào lớp. Học trò và cô giáo để dép ngoài cửa, như thói quen của người Khmer. Tôi nói tiếng Anh, các em nói tiếng Khmer. Mới đầu nói, sau ra hiệu tay chân, cuối cùng là đầu hàng. Thảo, thông dịch giúp cô. Tôi gọi Thảo cầu cứu. Thảo mười hai tuổi, thông thạo cả tiếng Khmer và tiếng Việt. Nhờ Thảo, bọn nhỏ mới hiểu tôi muốn nói gì. Trẻ con học gì cũng nhanh, chỉ vài ngày sau là chúng đã đoán được khoảng bảy mươi phần trăm những câu tiếng Anh thông thường tôi dùng trong lớp học. Chúng cũng biết đi tìm Thảo hoặc thằng Do để nhờ thông dịch khi tôi không hiểu. Sợ học trò Khmer ganh tị, tôi giữ đám trẻ Việt ở lại sau giờ học để nói chuyện riêng với chúng. Thảo, Thi An, Do, Tài, Lai, Phú. Những đứa trẻ Việt sống trong một làng Khmer nghèo khổ, không được công nhận là công dân Khmer. Phần đông người Việt ở đây đều phải làm khai sinh giả, lấy tên Khmer để được đi học, đi làm. Trong lớp học, Thảo là Kunthia, tên Khmer do các Soeur đặt cho để đến trường.

Buổi sáng không dạy học, bọn trẻ dẫn tôi vào làng thăm xóm Việt Nam. Người Việt chiếm khoảng mười phần trăm dân số trong làng. Họ nghèo, như phần đông người Khmer ở đây. Ba của Thảo mời chúng tôi vào nhà. Cái cổng gỗ nhỏ ngăn nhà Thảo và lối đi chung trong xóm. Gia đình Thảo có chín anh chị em. Cả nhà sinh hoạt trong chu vi năm mét vuông. Anh lớn đi làm thợ mộc ngoài Phnom Penh. Hai chị kế làm phục vụ ở quán cơm.

“Rồi cô chú làm gì để sống?”

Tôi hỏi, ái ngại nhìn cảnh nhà xơ xác.

“Đêm thì tui đi lưới cá ngoài sông. Má tụi nhỏ đem bán ngoài chợ làng. Cũng đủ ngày hai bữa.” Ba Thảo trả lời.

Tôi nhìn người đàn ông miền Nam có gương mặt rắn rỏi, muốn hỏi vì sao ông mang gia đình lưu lạc đến làng Po Thum. Vì sao miền Nam màu mỡ, ruộng vườn cò bay thẳng cánh mà ông phải tha phương cầu thực nơi xứ người, dầm mưa dãi nắng cho một ngày vừa đủ hai bữa ăn và chu vi năm mét vuông? Người Việt tị nạn ở Mỹ, ở Canada, ở Pháp làm lương không thua gì công dân của nước họ, còn dành dụm gửi về hàng triệu đô la cho người thân ở Việt Nam. Ba Thảo im lặng nhiều hơn nói. Mắt ông lạc trong vòm khói thuốc. Rõ ràng ông đang nhớ quê. Như tôi. Nhưng hai hôm nữa, tôi sẽ về Sàigòn.

*

Tôi lên chuyến xe buýt Mekong Express xuất bến từ Phnom Penh. Mưa đổ xuống sầm sập khi xe bắt đầu lăn bánh. Tôi ngồi một mình ở hàng ghế đầu, không muốn bắt chuyện với ai. Hành khách trong xe phần nhiều là người Khmer và khách nước ngoài. Tôi đọc vài trang sách rồi lơ mơ ngủ. Xe lao băng băng. Tài xế suýt gây tai nạn mấy lần. Tôi hết tinh thần ngủ, ngồi nhìn những cánh đồng lướt trôi bên ngoài. Sáu giờ rưỡi chiều, xe đến cửa khẩu. Hành khách xuống xe, qua trạm hải quan của Campuchia. Tôi cầm hộ chiếu đến đóng dấu. Mưa hãy còn nặng hạt.

Chúng tôi lại phải xuống xe lần nữa, xách tất cả hành lý khi đi qua cửa khẩu Mộc Bài. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cảm giác gai người khi vào phòng chờ. Bên trong ồn ào như chợ làng. Phòng chờ Mộc Bài không có đến một chiếc ghế để ngồi. Người mới đến dồn nhau vào xếp hàng. Người bên trong lố nhố đứng đợi, một số ngồi bệt trên sàn nhà. Lơ xe đã thu hết hộ chiếu của hành khách đem nộp cho nhân viên hải quan, nên tôi lớ ngớ không biết xếp vào hàng nào. Người đằng sau đẩy tới, người bên hông đẩy qua, tôi cứ bước bừa đến trước quầy kiểm soát. Phòng chờ chật kín người nhưng chỉ có một quầy làm việc. Một tí lại thấy có người bỏ hộ chiếu kẹp tiền lên bàn. Anh nhân viên cứ cắm cúi ghi ghi, chẳng có vẻ gì ngạc nhiên khi thấy hộ chiếu có tiền. Cứ đóng cộp xong vài dấu, anh lại quăng hộ chiếu lên quầy. Hộ chiếu của ai thì người nấy chụp rồi đi qua trạm.

“Quái thai thế không biết, hàng chục xe đến mà chỉ có một người làm! Em bỏ tiền vào, không thì chờ đến tối!”

Một chị khều lưng tôi nói làu bàu. Chẳng hiểu lơ xe của tôi có biết kẹp tiền trong hộ chiếu hay không mà đến cả tiếng đồng hồ sau chúng tôi mới được lên xe vào Việt Nam. 

*

Tôi ngủ một giấc dài sau những ngày lang thang giang hồ. Về nhà các chị, tôi được chăm sóc như ngày còn bé. Gần hai mươi năm tôi mới lại về. Các chị mở trường mẫu giáo từ nhiều năm nay. Ngôi nhà hai tầng lần trước tôi về giờ đã sửa sang để mở thêm lớp. Lớp lá, lớp mầm, lớp chồi. Từ bảy giờ sáng đã nghe tiếng trẻ con nô đùa dưới sân. Tôi nằm nán thêm một lát trong căn phòng có máy điều hòa mát lạnh. Đồng hồ trên bàn ghi nhiệt độ bên ngoài là 85 độ F. Tôi nhìn ra bên ngoài balcon. Dây phơi đã phất phới áo quần. Chị tôi thức sớm. Chị dậy trước khi chuông nhà thờ đổ hồi nhất. Gió sớm đưa nhẹ chùm hoa trắng nhỏ li ti. Balcon nhà chị đầy các loại hoa tôi không biết tên, giống y như những con đường đã đổi tên lạ lẫm tôi đi ngang hôm qua. Đường Nguyễn Thị Thập. Đường Lâm Văn Bền. Qua ô cửa sổ, tôi thấy hai tháp chuông nhà thờ đang xây dở dang, gai kẽm đâm tua tủa lên trời. Chiều qua lúc xuống xe, tôi đã thấy. Ngày nhỏ tôi thường dùng tháp nhà thờ có tượng ông thánh Antôn bồng Chúa Giêsu làm cột mốc. Thấy ông thánh là biết đã về tới nhà. Ngay cả Ngọc Dung đi về mỗi năm từ Malaysia, cũng không tìm ra nhà thờ cũ. Hai đứa căng mắt nhìn mãi. Tài xế taxi quần đi quần lại mấy lần mới đậu xe đúng chỗ. Sự thay đổi quá lớn làm tôi không nhận ra nơi chốn cũ. Nhà thờ xứ đã biến mất. Ngôi nhà thờ gắn liền với chị em tôi cả một thời niên thiếu. Ngôi nhà thờ ông cậu của má tôi đã cùng giáo dân của ông quyên góp xây dựng từ ngày di cư vào Nam. Ba má tôi đã làm lễ kết hôn ở đó. Chị em chúng tôi đã chịu phép bí tích lần đầu, xưng tội, rước lễ, dâng hoa, rước kiệu ở đó. Tôi còn có lần được đóng vai Đức Mẹ trong lễ Giáng Sinh. Tôi quỳ suốt buổi lễ bên chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ. Đã không còn gì cả. Tôi ngơ ngẩn đứng nhìn lịch sử của gia đình trên mảnh đất đầy gạch vụn. Tất cả đã biến mất! Tất cả đã tan tành vì lời nói của một đại gia. Việt Nam giờ lắm đại gia. Đại gia nói ai cũng nghe. Đến linh mục nghe cũng thuận tai. Di tích lịch sử, đền đài, lăng tẩm (huống chi chân dài!) cũng thua túi tiền của đại gia. Đại gia tặng giáo xứ 34 tỷ (tiền cụ Hồ, dĩ nhiên) để xây một thánh đường mới. Khung nhà thờ mới đã được dựng lên. Ông thánh Antôn bồng Chúa Giêsu mấy chục năm ngự trên tháp cao bị hạ bệ xuống đất. May mà còn được con voi sứ trung thành nằm phủ phục dưới chân. Ông thánh và con voi là hai thứ tôi còn nhận ra của năm tháng xưa.

Tôi lấy áo quần đi vào phòng tắm. Từ phòng máy lạnh sang đây chỉ cách một cánh cửa mà không khí đã khác nhiều. Cái nóng nhiệt đới thấm liền vào da thịt. Phòng tắm rộng, có cả bồn tắm viền gạch ngũ sắc. Trần cao có lắp gạch thông gió. Tôi nhìn được một khoảng trời xanh và vạt nắng sớm trong vắt. Sửa sang đợt hai, nhà tắm của các chị đã có hơi hướm ngoại. Bồn tắm xây riêng nên không còn cảnh nền nhà lênh láng nước sau khi tắm. Năm 96 tôi về, từ nhà dân đến phòng tắm khách sạn đều theo một khuôn mẫu. Phòng tắm có hoa sen nhưng không có màn hay kính che. Một người tắm xong là hơi nước mù mịt phủ ướt từ trên tường xuống sàn.

Tôi lau tóc rồi mở cửa ra ngoài. Tiếng búa nện, tiếng cưa rít cùng lúc trỗi dậy. Nhà thầu đang cấp tốc xây nhà thờ theo lệnh cha xứ. Nhân công làm việc từ sáng sớm đến khi mặt trời lặn mới nghỉ. Ban đêm lại có toán nhân công dọn dẹp làm việc. Nhà các chị sát vách nhà thờ nên hứng trọn bụi đất và tiếng ồn. 

“Dậy sớm thế? Chị đi chợ đây, thích ăn gì thì chị mua.”

Chị tôi vẫn thế. Lúc nào cũng chiều chuộng các em. Tôi chẳng thấy thèm món gì ngoài những thứ trái cây nhiệt đới tôi không được ăn ở bên kia. Chị bảo mùa này có thanh long, măng cụt, chôm chôm, mít, na, ổi. Tôi sáng mắt khi nghe đến măng cụt. Ở bên kia cũng có măng cụt. Măng cụt đông lạnh. Trái nào cũng đen cứng như đá, bên trong mềm nhũn, chẳng bao giờ ăn được. Măng cụt, chôm chôm, thanh long nữa, chị. Tôi níu tay chị, tham lam.

Trời nóng quá, từ trên lầu xuống đến nhà bếp lưng tôi đã lấm tấm mồ hôi. Tôi trở lên lầu thay chiếc áo thun mỏng, rộng thùng thình với quần lửng kiểu Cam bốt. Tôi biết mình ăn mặc chẳng giống con giáp nào. Khí hậu nhiệt đới làm chân tay tôi sưng múp. Tôi để mặt trần không son phấn, tóc buộc cao đỉnh đầu.

Tiếng trẻ con ríu rít kéo tôi ra hành lang. Hình như lớp học mới bắt đầu. Hai cô giáo lớp mầm đang cho các em khởi động thể dục buổi sáng. Một, hai, ba, một, hai, ba. Tôi trố mắt nhìn đám trẻ con… Việt cộng. Tôi không thể tin ở mắt mình. Chúng tròn trịa, mũm mĩm, và trắng muốt. Trẻ con Việt Nam giờ không còn đứa nào suy dinh dưỡng à? Đám con tôi ở Mỹ ốm nhách. Đứa thì bị dị ứng thức ăn, đứa thì sợ mập. Mùa hè chúng đi bơi mỗi ngày nên đen như mọi. Bọn ốm đen đó mà về đây so sánh với đám trẻ con múp míp này thì… thua. Việt kiều thua Việt cộng là cái chắc!

Tôi đứng ngẩn nhìn lũ trẻ một lúc rồi chạy vào bếp. Chị tôi đang xếp những hũ yaourt vào tủ lạnh. Trẻ em Việt Nam giờ béo tròn giống con nít Mễ vậy chị? Đứa nào cũng được ăn uống đầy đủ mà. Chị tôi cười, giảng giải. Bây giờ ở thành phố mà tìm được một đứa gầy gầy cũng khó. Cha mẹ thời nay bị hạn chế sinh đẻ. Mỗi gia đình phải dừng ở hai con để nuôi dạy cho tốt!  Cha mẹ nào cũng sợ con mình thấp bé, thua thiệt, nên bao nhiêu tiền đều đổ vào… miệng con. Trẻ con uống sữa thay nước. Bởi thế, chị nói, kinh tế toàn cầu suy sụp, nghành kinh doanh nào cũng xuống, chỉ có ngành sữa là phát triển mạnh. Ở nhà uống sữa, đến trường mẫu giáo cũng uống sữa. Chị bảo mỗi ngày trường phải cho trẻ uống sữa hai lần, ăn yaourt, ăn một bữa trưa có rau có thịt đầy đủ dinh dưỡng và ca-lô. Đứa nào biếng ăn thì cô giáo phải đút cho ăn. Ăn cho hết phần. Chúng nó mà ốm, không đủ cân lượng là cha mẹ kiện ngay.

Chị tôi đi chợ về, rau quả chưa cất đi đã tất tả lo dọn bữa sáng. Tôi cản, chị để em tự lo.

“Bao nhiêu năm mới về, cứ ngồi đó, chị dọn cho ăn.” 

Chị bày bánh cuốn nhân thịt còn nóng lên bàn, và cả dĩa trái cây đầy ắp. Tôi lùa vài gắp bánh cuốn, rồi nhắm dĩa trái cây. Măng cụt chín mềm, vỏ màu tím thẫm. Tôi dùng dao cắt một đường vòng quanh rồi tách vỏ ra làm hai. Những múi măng cụt trắng nõn, sắp đều đặn. Tôi ngoạm đầy một miệng. Măng cụt ngọt lịm, thơm mát. Chị tôi cắt thanh long thành từng miếng bày ra dĩa. Bên trong lớp vỏ đỏ, thanh long màu trắng ngọc điểm hạt đen lấm tấm. Ôi, cây trái nhiệt đới làm tôi mê mẩn!

Một tuần ở Sàigòn tôi đi lơ ngơ như kẻ lạ giữa thành phố, không cảm nhận được gì ngoài tiếng còi xe và tiếng người náo nhiệt. Tôi không còn nhìn ra những gì quen thuộc trong ký ức. Tôi lang thang, dầm mình trong không gian Sàigòn đã mê hoặc tôi ở những giấc mơ đêm. Tôi đi từ vùng ngoại ô Quận 7, nơi tôi ở trước đây, đến trung tâm Sàigòn, chợ Bến Thành, café La Mien có nhạc sống ban đêm ngồi với Ngọc Dung. Nơi đâu cũng người là người, mà toàn là người từ miền Bắc vào. Hôm ghé thăm cô bạn học, hai đứa kéo nhau lên sân thượng. Bạn tôi chỉ cho xem những căn nhà hai ba tầng mới xây. Hết đất rồi, khu nhà mặt tiền bây giờ là của dân miền Bắc vào mua cả. Họ khôn lanh lắm, bao nhiêu đất của Sàigòn họ mua hết. Người Sàigòn nghèo, nên bán đất mặt tiền, chui vào trong ngõ hẻm. Tôi nghĩ mình về Sàigòn để gặp người Sàigòn, giống như về miền Tây để nghe giọng nói ngọt ngào quyến rũ của các thiếu nữ miền Tây, nhưng rặt bên tai một giọng Hà Nội chuẩn mực. Đặc sản của Sàigòn đã biến mất.

“Mình cũng là dân gốc Bắc đây thôi. Tại sao mình… kỳ thị vậy?”

Tôi hỏi Đa khi ngồi ở café Ân Nam. Đa suy nghĩ lâu lắm. Những người Bắc di cư vào Nam năm 54 là những người không thể sống chung với Cộng Sản. Họ mang trong mình dòng máu hào sảng của dân miền Nam. Họ hội nhập nhanh chóng và sống hòa nhã với người miền Nam. Còn người Bắc bây giờ, đã hơn ba mươi năm trôi qua, họ vẫn là người lạ, họ vẫn là kẻ xâm lăng miền Nam. Họ đến để cai trị người miền Nam.

 

Tôi dậy sớm chuẩn bị valise. Cơn mưa từ tối qua vẫn còn lắc rắc. Giàn bông giấy trước nhà rũ rượi. Lá bàng rụng đầy sân. Tôi đứng ở sân thượng nhìn thành phố lần cuối. Sáu giờ tôi gọi taxi Vinasun đến đón ra phi trường. Tôi lên xe, lòng còn lưu luyến chưa muốn rời. Tôi vẫn còn nợ Đa một chầu bánh ngọt ở Givral. Và còn những người bạn cũ tôi chưa kịp gặp. Tôi đóng cửa xe. Chắc hẳn tài xế taxi biết tôi yêu nhạc cũ, nên mở một khúc hát quen thuộc. Trả lại em yêu khung trời đại học/ Con đường Duy Tân cây dài bóng mát/ Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngắt/ Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhòa. Xe chạy qua cầu Quay, đến Khánh Hội, rồi vòng theo bờ sông Sàigòn. Mưa đã ngừng rơi. Nắng sớm vỡ vàng trên mặt nước. Sàigòn ban mai đẹp lạ lùng. Trong lành. Tinh khiết. Tôi nhìn Sàigòn, thảng thốt. Hai giờ nữa, máy bay sẽ cất cánh. Tôi sẽ lại ra đi, xa tất cả. Con đường và những người bạn. Thành phố ban mai và nắng vỡ vàng. Ôi, Sàigòn! Tôi sẽ bỏ Sàigòn ra đi như ba mươi năm về trước. Sàigòn đã bị cưỡng chiếm một cách đau thương. Nước mắt tôi tràn ra. Tôi thương Sàigòn quá! Ơi, Sàigòn của tôi.

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 63208)
T rang đầu chạy tít lớn “Lễ truy điệu các phục quốc quân hy sinh vì Tổ quốc”. Tôi lơ đãng mở các trang trong. Những tấm ảnh đen trắng với khuôn mặt của các phục quốc quân tử trận trong nước cùng với vị thủ lãnh của họ. Một cái ảnh đập vào mắt tôi. Trời! Thịnh đó, ảnh Thịnh... Tôi đọc vội sơ qua những cột tin về cuộc đụng độ cuối cùng trong vùng tam biên. Tô phở bưng ra, tôi chợt không thấy đói, không nuốt gì được.
20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 55494)
K hắp làng trên xóm dưới ai cũng biết chuyện về lão Hống. Lão có đến ba đời vợ, và không biết bao nhiêu người đàn bà đã sống chung chạ, nhưng rốt cuộc bà nào cũng sớm cuốn gói ra đi. Người ta bảo lão là con gà trống chuồng, có lần trong nhà lão chứa vài mụ đàn bà. Kể ra lão cũng tài, một mình cai quản hai mụ trên cùng một chiếc giường mà chẳng hề có chuyện.
20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 51619)
C hồng Phi dậy từ sớm, để phần cho vợ một lồng cơm sẵn trên bàn để cô mang đi ăn trưa ở công ty. Như mọi sáng, cô xé lại khẩu phần ăn của mình là một mẩu bánh mì và ít thức ăn đem sang cho Miki. Rồi mới đi làm. Cũng như thường lệ, nó lại lẽo đẽo chạy theo chiếc xe máy của cô...
20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 54656)
T ôi không phải là người đàn bà luôn chơi trò ú tim để đi tìm một tình yêu đích thực. Tuổi trẻ ai mà chẳng có một tình yêu dù nó có đẹp hay không thì đó vẫn là tình yêu. Tôi đã yêu. Yêu mê mệt. Yêu đắm đuối. Yêu trong cơn hoan lạc của tiếng sét ái tình bậm vào tôi. Tôi đã không thể dứt ra. Và cứ thế tôi trượt dài trong men say tình ái.
20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 59811)
Ngô Tất Tố là một trong những tác gia nổi tiếng nhất của trào lưu hiện thực phê phán trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam. Những năm 30, 40 thế kỷ XX ông đã cho ra đời một loạt tác phẩm như tiểu thuyết Tắt đèn, Lều chõng , phóng sự Việc làng, Tập án cái đình , truyện ký lịch sử Trong rừng Nho, Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám …
20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 58378)
...biểu hiện của chứng vĩ cuồng, một chứng bệnh tâm thần có vẻ vô hại vì quá lắm cũng chỉ góp phần làm phong phú thêm vốn chuyện tiếu lâm, nhưng lại có thể trở thành rất nguy hiểm trong những điều kiện nhất định, khi nó nhiễm vào những người làm nghề viết lách...
19 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 57351)
M ột hiện tượng, tưởng rằng đã chết khi ông Osho tức Bhagwan Shree Rajneesh bị chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ trục xuất về Ấn Độ vào năm 1987, nay đang có những chỉ dấu sống dậy, không phải chỉ trong cộng đồng Oregon, Hoa Kỳ như trước đây mà là trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại và có thể ở cả trong nước qua một số sách do Osho giảng được Sư cô Thích nữ Minh Tâm và hội Osho International Foundation dịch ra Việt ngữ.
18 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 62139)
N hư buổi chiều vàng trong tiểu thuyết Những huyễn mơ làm người hùng áo vest Những chiến mã băng qua sa mạc Ta ra trận nơi không có quân thù
18 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 60632)
Đ ánh một giấc ngủ dài trên đất Mẹ Gối đầu lên mộng mị với quê nhà Trời tháng chạp hoang đường loài chim sẻ Người trở về còn vấy bụi đường xa.
15 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 61700)
N hìn vào một tập san quân đội, trông thấy sức mạnh của quân đội ấy...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7653)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14790)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13637)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14083)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1800)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1998)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2176)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2162)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1323)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2306)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1613)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2161)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1544)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 2345)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2827)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4429)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1278)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1367)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1937)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2435)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10259)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26770)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33325)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33355)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8054)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10399)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1800)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3389)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3342)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3208)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3536)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 5041)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4535)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5910)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.