- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KHÁNH TRƯỜNG (1948-2024)

09 Tháng Giêng 202511:36 SA(Xem: 16102)
KhanhTruong0
Khánh Trường tháng 5-1990 tại phòng tranh

 

 

KHÁNH TRƯỜNG (1948-2024)

  

 

 

Đôi dòng tiểu sử

Họa sĩ, nhà văn, nhà báo, Khánh Trường tên thật là Nguyễn Khánh Trường, sinh ngày 8-4-1948, tại xã Khánh Thọ, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chính quán Nam Định. Qua đời ngày 29-12-2024 tại Fountain Valley, California, Hoa Kỳ.

Bút hiệu khác: Kim Thi, Nguyễn Thị Giáng Châu. Năm sinh đích thực là 1947, Khánh Trường chào đời khi cha mẹ chạy tản cư, không nhớ rõ ngày tháng, khi đi học, mới làm giấy khai sinh, ghi ngày 8-4-1948. Con ông Nguyễn Viết Hậu (1913-1986), họa sĩ, quê Nam Định và bà Hà Thị Chân (1920-1953) quê Lai Châu. Khánh Trường là anh cả của ba người em: Nguyễn Thị Minh Thi, Nguyễn Khánh Thọ (đã qua đời), Nguyễn Khánh Thịnh, hiện sống tại Đà Nẵng.

Từ 1953 đến 1959, Khánh Trường học tiểu học tại xã Hải Châu (Đà Nẵng). Năm 1960, vào trung học Phan Thanh Giản (Đà Nẵng); bốn năm sau, bỏ học, đi giang hồ, lưu lạc khắp miền Nam Việt Nam. Năm 1968, đi lính, vào binh chủng nhảy dù trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1973, bị thương được giải ngũ. 1986, vượt biển sang Phi Luật Tân. 1987 định cư tại California.

Năm 1970 Khánh Trường gặp Bùi Dương Thanh Lê, sinh viên Văn khoa, tại Sài Gòn, sống chung, có ba con: Nguyễn Khánh Tùng (1972) Nguyễn Minh Tân (1973) và Nguyễn Thị Giáng Châu (1975). Năm 1984, sinh con gái Nguyễn Thị Khánh Ly với Huỳnh Thị Ngọc Yến. Năm 1987, gặp Thạch Thu Oanh tại trại tị nạn, sống chung đến ngày nay, sinh con gái Nguyễn Khánh An (1990)[1]    

Khánh Trường là họa sĩ tự học. Đã triển lãm cá nhân và tập thể tại Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân, Pháp, Đức, Mỹ. Đã trình bày nhiều bìa sách cho các nhà xuất bản ở hải ngoại: Sống Mới, Xuân Thu, Đại Nam, Văn Nghệ, Văn Mới…

Khánh Trường sáng lập, điều hành, chủ biên tập san văn học nghệ thuật biên khảo Hợp Lưu. Số 1 ra tháng 10-1991, trực tiếp trông coi từ 1991 đến 2002. Sau hơn mười năm làm việc cật lực, tới số 66 (tháng 8-9/2002), Khánh Trường bị bạo bệnh (ba lần tai biến mạch máu não và bị ung thư thực quản), phải giao tờ báo lại cho Đặng Hiền.

Tác phẩm đã xuất bản:

Thơ: Đoản Thi Khánh Trường (Sống Mới, Hoa Kỳ, 1987). Truyện ngắn: Có Yêu Em Không? (Tân Thư, 1990, tái bản 1997), Chỗ Tiếp Giáp Với Cánh Đồng (Tân Thư, 1991), Chung Cuộc (Tân Thư, 1997), Truyện Ngắn Khánh Trường (2 tập) (Nhân Ảnh, 2016). Tuyển tập:  20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975-1995, soạn chung với Trương Đình Luân, Cao Xuân Huy (Đại Nam, 1995). Tác Giả, Tác Phẩm, viết chung với nhiều tác giả khác (Thế Giới Lưu Vong, 1988). Hội họa: Khanh truong Paintings, sách tranh (Nhân Ảnh, 2018).

Khánh Trường viết về mình: "sinh ra, lớn lên, đi học, đi giang hồ, đi làm...du dãng (...) Nghề chính: không có. Nghề phụ: thập cẩm. Một cuộc đời trôi nổi hư hỏng và tầm thường, nhợt nhạt đến chính chủ nhân cũng phải thở dài!"[2]. Một "nhận định" về mình như thế, hiếm và lạ. Con người "tầm thường, nhợt nhạt" và vũ bão này, có những câu thơ thâm trầm, sâu  lắng:  

"Đá cao vách dựng im ngồi

Nghe thinh không vọng mấy hồi chuông xưa

Tay run đốt mẩu thuốc thừa

Khói bay hồn đắng nửa trưa ngậm ngùi".

Khánh Trường bắt đầu cuộc đời nghệ sĩ bằng thơ: cô đơn, tha thiết trong thơ. Đa tài. Rồi Khánh Trường vẽ, viết văn. Nhưng trước hết phải kể tới Khánh Trường của Hợp Lưu.

 

 

KhanhTruong1
Từ trái sang: Lê Tất Luyện, Mai Thảo, Thụy Khuê, Khánh Trường, tháng 5/1990

 

 

Khánh Trường sáng lập Hợp Lưu

Tháng 5 năm 1990, chúng tôi sang Quận Cam, nhà văn Mai Thảo dẫn đến thăm và giới thiệu với một họa sĩ, mà chúng tôi chưa quen: Khánh Trường. Mai Thảo cho biết Khánh Trường dự định ra một tập san văn học, đăng những tác phẩm ở trong và ngoài nước, và cần được giúp đỡ. Đó chính là Mai Thảo: ông ghét cộng sản, vì cái chết của Vũ Hoàng Chương và bản thân ông bị truy lùng trong gần hai năm, trước khi vượt biển, thoát. Ông không đọc tác phẩm trong nước, nhưng «đứa nào» làm chuyện hòa giải, giao lưu, ông ủng hộ; «đứa nào» bị đánh, ông tận tình bênh vực và giúp đỡ. Ở Mai Thảo là hai chữ Tự do đúng nghiã mà nhiều người Việt không hiểu, dù họ sang Mỹ để tìm «tự do». Bên cạnh Mai Thảo, Nhật Tiến cũng công khai ủng hộ Khánh Trường. Lập trường giao lưu của Nhật Tiến ai cũng rõ. Đó là hai nhà văn đàn anh, đứng đằng sau Hợp Lưu, trụ đỡ Khánh Trường trong những ngày sóng gió. Phía chống Hợp Lưu, cũng không thiếu những cây đa cây đề. Mai Thảo sang Paris cùng với Khánh Trường, để ra mắt Hợp Lưu số 1.   

Hợp Lưu số 1, ra đời tháng 10-1991. Chủ biên Khánh Trường viết:

«Hợp Lưu mở rộng cửa đón nhận những sáng tác mới. Chúng tôi sẽ phá vỡ mọi biên cương, mọi định kiến, mọi ràng buộc, mọi điều «cấm kỵ», cập nhật và theo kịp, theo sát những trào lưu mới của văn hóa nhân loại»[3]

Nói thì ngông vậy, nhưng Hợp Lưu số 1 còn nghèo, phần lớn đăng lại những bài viết của các tác giả trong nước mà Khánh Trường ẩu, không xin phép hoặc không thể xin phép. Tuy nhiên cũng có hai bài mới: Những bông cẩm chướng dại của Trần Vũ, với một bút pháp khác với những truyện ngắn đầu tay, và Những bàn tay trên cao, báo hiệu tính cách thiền sư của Phan Tấn Hải.

Trong ba số đầu, một mình Khánh Trường làm chủ biên, nghiã là xoay xở, vừa xin bài, vừa đánh máy, xin tiền in và mua tem gửi đi. Có hai khuôn mặt Mạnh Thường Quân nổi trội: Đỗ Kh. và Trương Vũ.

Từ số 4 (tháng 4-1992), thêm Phạm Việt Cường, Tổng thư ký, Phan Tấn Hải, trị sự. Phạm Việt Cường làm được 4 số thì bỏ. Kể từ số 8 (Xuân Quý Dậu, 1993, số đặc biệt Văn Cao), chỉ còn Khánh Trường và Phan Tấn Hải điều hành tờ Hợp Lưu trong 4 năm, từ 1993 đến 1997. Kể từ số 36 (tháng 8-9/1997) Phan Tấn Hải bận việc rút ra, chỉ còn lại Khánh Trường.

Tới số 66 (tháng 8 và 9 năm 2002), Khánh Trường, vì lý do sức khoẻ như đã nói ở trên, trao Hợp Lưu lại cho Đặng Hiền, có Trần Vũ ở Paris giúp đỡ, nhưng trên trang đầu, vẫn ghi tên Khánh Trường, chủ nhiệm, Phùng Nguyễn, chủ bút, Đặng Hiền, tổng thư ký[4].

Thực sự Trần Vũ đã bắt tay vào việc từ số 67 (tháng 10-11/2002), nhưng đến số 77 (tháng 6-7/ 2004) mới chính thức đứng tên chủ biên. Đặng Hiền vẫn làm tổng thư ký.    

Hợp Lưu số 67, là một bước ngoặt. Để đánh dấu chặng đường 12 năm hoạt động của Hợp Lưu với Khánh Trường, Trần Vũ viết bài Trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại, ghi lại rất chi tiết hành trình của Hợp Lưu trong bối cảnh xã hội và chính trị của cộng đồng người Việt hải ngoại thập nhiên 1990-2000. Cực kỳ khó khăn nhưng thành quả rõ rệt: Sau 12 năm hoạt động, Hợp Lưu đã kết hợp được hầu hết những nhà văn không thành kiến trong và ngoài nước, trên cùng một diễn đàn. Bài viết kỷ niệm 12 năm Hợp Lưu của Trần Vũ[5], trừ vài sai sót nhỏ, là một tài liệu đáng tin cậy cho những người viết văn học sử sau này. Phần chính của bài này được trích dẫn in trên mạng Văn Việt, điạ chỉ:

 https://vanviet.info/tu-lieu/12-nam-tap-ch-hop-luu/

 

HL số 67, Đỗ Kh. trong bài «Khinh binh số một và ngón tay thứ sáu»[6] có mấy điểm đáng chú ý:

- Khánh Trường là Khinh binh số 1. Văn học hải ngoại trong có Hợp Lưu là ngón tay thứ sáu.

- Người ta phê bình: «mày giao lưu chỉ có một chiều, mày đăng bài trong nước mà trong nước nó có đăng bài mày đâu

- Thành quả: quy tụ được ở trên diễn đàn này một lực lượng văn học mới ở hải ngoại, dò dẫm mà tiến sau lưng khinh binh số 1 Khánh Trường. Nhưng lớn hơn nữa, là tờ tạp chí đã nhận dạng và phản ánh đúng đắn văn học Việt Nam trong thập niên vừa qua, ở một vị trí độc lập và ít bị chi phối hơn những tạp chí văn học trong nước (hay những tạp chí văn học khác ở bên ngoài).  

- Kết quả: Nhờ Khánh Trường, chúng tôi (trở lại tập thể «những người viết ở nước ngoài sau 75») khi nhìn lại 12 năm cũng đã có một quá khứ của chính mình...».

 

HL số 67, Phạm Xuân Nguyên, từ trong nước, đặt câu hỏi: Hợp Lưu là gì? Và tự trả lời:

«Đối với lắm người ta trong nước. Báo chí văn chương người Việt hải ngoại cơ hồ chỉ như là Hợp Lưu. Nó in dày trang. Nó gáy bề thế. Nó vẻ sang trọng. Nó được nhắc đến luôn. Một số tờ khác ra trước nó nhưng không mấy vang động đến trong nước, chỉ biệt lập và khuôn lại ở phạm vi hải ngoại...

Đối với lắm người ta trong nước, văn chương người Việt hải ngoại cơ hồ như chỉ là văn chương Hợp Lưu. Đọc nó gặp đủ mặt người viết khắp Mỹ Âu Úc, thấy đủ tâm tính giọng điệu văn chương, của những người xa nước đã lâu hay vừa rời nước, nếm đủ vị thanh đục tục phàm của mọi thi thố văn chương tự do bày tỏ thể hiện...

Đối với lắm người ta trong nước. Hợp Lưu là một sân chơi vừa vui vừa sợ. Có khi họ tự vào chơi. Có khi họ bị kéo vào. Trước còn e dè phấp phỏng ngó trước trông sau sợ còi thổi, cờ phất... »[7] Tóm tắt «tình hình» như thế, không thể nào... chính xác hơn.

 

Số 68 (12/2002 và 1/2003) và số 69 (tháng 2 và 3/2003), Trần Vũ tổ chức Chủ đề Yêu, Phạm Xuân Nguyên «hưởng ứng, chuyển lời mời tham dự đến toàn quốc».

Chủ đề Yêu đánh dấu sự kiện nhà văn trong và ngoài nước viết chung một đề tài, với 26 tác giả:

Hợp Lưu số 68, với: Đỗ Kh., Phạm Hải Anh, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Mai Ninh, Nam Dao, Trần Thị NgH., Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Hà, Dã Tượng[8] và Trần Vũ.

Hợp Lưu số 69 với: Đặng Thơ Thơ, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hoà Trước, Thuận, Trần Tiễn Cao Đăng, Miêng, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Lệ Hằng, Trân Sa, Thùy Dương, Phùng Nguyễn, Trần Mộng Tú và Nguyễn Thị Thanh Bình (HL số 70).

Bài mở Chủ đề của Trần Vũ (HL 68) và bài đóng Chủ đề của Trương Vũ (HL 69), tổng kết nội dung tất cả các tác phẩm đóng góp, chứng tỏ sự vững mạnh và đa dạng của Hợp Lưu, sau 12 năm hiện diện.

Từ khi Trần Vũ thay Khánh Trường làm chủ bút, Đặng Hiền, tổng thư ký, Hợp Lưu đã thay đổi rất nhiều: trẻ trung và xông xáo hơn. Một tài năng lớn chưa được trong nước nhận diện là Nguyễn Bình Phương, được giới thiệu trên Hợp Lưu, trở thành hiện tượng văn  học. Thời kỳ này, có hai nhà văn đầy triển vọng: Đặng Thơ Thơ và Đỗ Hoàng Diệu. Vi Thùy Linh xác định vị trí thi ca của mình.

Có thể nói, một số nhà văn tuy đã có tác phẩm in ở trong nước như Đỗ Hoàng Diệu, Vi Thùy Linh... nhưng từ khi tác phẩm của họ được giới thiệu trên Hợp Lưu, sự công nhận mới là toàn diện.

Sau ba năm tận tụy làm chủ bút, tìm kiếm những nhân tài mới, tới số 83 (tháng 6-7/2005), Trần Vũ rút lui, trao lại cho Nguyên Hương và Đặng Thơ Thơ phụ trách, nhưng chẳng bao lâu, chỉ còn lại một mình Đặng Hiền. Số người viết và người đọc đều đi xuống. Đặng Hiền cầm cự trong mấy năm để giữ vững bản chất của tờ bào, cuối cùng phải đưa Hợp Lưu lên mạng sau số 117, là tờ báo giấy Hợp Lưu cuối cùng (tháng 3/2013). Đặng Hiền là nhà thơ và họa sĩ, ngoài công việc trị sự, còn trình bày nội dung và bìa báo với những tác phẩm hội hoạ tuyệt đẹp…

 

Hợp Lưu ra đời sau Văn của Mai Thảo (1982), Văn Học của Nguyễn Mộng Giác (1986), và trước khi Viên Linh cho tục bản tờ Khởi Hành (1996), đã ra đời ở trong nước từ năm 1969. 

Văn có bề thế của Mai Thảo. Văn Học có uy tín của Nguyễn Mộng Giác, là người anh đầu đàn, với bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động, bắt đầu viết từ trong trại tị nạn, cùng với thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Văn Nghệ, hoạt động từ những năm 1985, 1986...in toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê và Võ Phiến, làm nền móng cho một con đường văn chương mới.

Trong ba năm, từ 1986 đến 1988, Nguyễn Mộng Giác đã thành công trong việc xây dựng một nền văn học hải ngoại, đặc biệt với ba khuôn mặt nổi trội, văn phong và tư tưởng hoàn toàn mới lạ: Võ Đình, nhà văn, họa sĩ, viết bài đầu tiên Cũng thư gửi bạn từ khi có tờ Văn Học Nghệ Thuật số 1 của Võ Phiến (tháng 2-1985), Đỗ Kh. xuất hiện lần đầu trên Văn học số 28 (tháng 5-1988) với truyện ngắn: Gaston (Alimad) Nhi, và Trần Vũ, trên Văn Học số 42 (tháng 7-1989), với truyện ngắn Ngôi nhà sau lưng văn miếu, đánh dấu ba phong cách hiện đại đặc biệt khác lạ của văn chương Việt Nam:

Võ Đình phân thân, tâm, họa của con người ly hương biệt xứ.

Đỗ Kh. đi khắp địa cầu, muốn bốc người Việt ra khỏi căn bệnh kỳ thị chủng tộc mãn tính.

Trần Vũ tạo phong cách tự do sáng tạo xuyên quá khứ và lịch sử, không tự chế bất cứ điều gì. Từ năm 1988, Nguyễn Mộng Giác vì lý do gia đình, không còn đích thực làm chủ biên, nhưng vẫn đứng sau. Tới năm 2003, Nguyễn Mộng Giác, bị ung thư, quyết định đóng cửa tờ Văn Học, Cao Xuân Huy một mình đứng ra lãnh trách nhiệm đến năm 2008, thì bị ung thư mắt, phải ngừng, hai năm sau qua đời (2010).

Khi Hợp Lưu của Khánh Trường ra đời năm 1991, tạp chí Văn Học, vẫn theo đúng đường lối của Nguyễn Mộng Giác, trở nên thủ cựu, vì không in các tác giả trong nước. Tuy vậy, chỉ mấy năm sau, chủ trương hòa hợp dân tộc của Hợp Lưu đã lây lan trên các báo khác, và có thể nói, nhờ Hợp Lưu mà văn học trong và ngoài nước gặp nhau, chập lại thành một dòng chung văn học Việt Nam, đặc biệt với những số chủ đề:

Văn Cao, số 8 (tháng 12-92, và tháng1-93), Mai Thảo số 16 ( 4-5/1994), Hoàng Xuân Hãn số 29 (6-7/1996), Phan Khôi số 33 (2-3/1997), Tạ Trọng Hiệp số 34 (4-5/1997), Bùi Giáng số 44 (12/1998-1/1999), Trịnh Công Sơn số 59 (6-7/2001), Chủ đề Yêu số 68 (12/2002-1/2003) và số 69 (2-3/2003), Nguyễn Tuân số 75 (2-3/2004), Nhân Văn Giai Phẩm số 81(2-3/2005), Bình Nguyên Lộc số 88 (4-5/2006), Lê Đạt số 89 (6-7/2006), Những người viết trẻ số 91(10-11/2006), Nguyễn Hữu Đang số 94 (4-5/2007), Nguyễn Huy Tưởng số 96 (9-10/2007), Mai Thảo (1927-1998) số 100 (5-6/2008), Khái Hưng, số 104 (3-4/2009), Cao Xuân Huy số 113 (3-4/2011). Nhiều chủ đề trở thành mẫu mực nghiên cứu

Mặc dầu vậy, nói dí dỏm như Đỗ Kh. văn học hải ngoại (đối với người trong nước) vẫn chỉ là ngón tay thứ sáu, dư thừa. Đúng thế, ngón tay thứ sáu này, đến nay vẫn còn bị coi thường, có khi người ta chỉ gọi xách mé là văn hải ngoại, mà không cấp cho chữ học hay chữ chương, thậm chí có vị đã nghĩ nên cầm dao giải phẫu cắt phăng cái của thừa này đi cho gọn. Nhưng trước khi cắt, có lẽ nên đọc thử, ít nhất một cuốn sách Xứ sấm sét của Võ Đình, hay Cây gậy làm mưa của Đỗ Kh. (Trần Vũ đã in ở trong nước) xem họ đứng ở chỗ nào, trên cái đài văn chương mới mẻ của thế giới được người Việt tôn thờ hiện nay? Nhất là cái văn hải ngoại này đã cướp đi tới ba chủ biên làm không công, bằng bệnh ung thư, vậy hẳn nó phải có gì dữ dằn, độc lắm?

Khánh Trường, nhà văn

Rồi một ngày nào đó, người ta sẽ phải làm công việc tổng kết những tác phẩm viết về cuộc chiến hai mươi năm, mà đến nay người Việt vẫn còn né tránh cái tên, sẽ tìm thấy những khác biệt sâu xa giữa những ngòi bút Bắc-Nam, hải ngoại-trong nước về cùng một đề tài. Biết đâu từ những khác biệt ấy, người ta có thể lần hồi vẽ lại được một thứ chân dung chiến tranh gần với sự thực hơn, gần với con người hơn những tấm bích chương phóng đại, tô màu, đã từng được dán trên tường, trên đường, khắp nơi, thời bình cũng như thời chiến.

Khánh Trường, Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong, ba người lính và cũng là ba «chiến sĩ văn chương» đã từng trách nhiệm hai tờ tạp chí văn học lớn nhất ở hải ngoại: Khánh Trường với Hợp Lưu và Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong, với tờ Văn học.

Ba người lính này, còn là những tác giả viết về chiến tranh mà người đọc sẽ có ngày phải tìm đến, khi muốn nhận diện bộ mặt đích thực của chiến tranh, tìm hiểu những lũy tích đạn bom trên cơ thể và tâm linh những người sống sót. Cao Xuân Huy với Tháng ba gẫy súng, Hoàng Khởi Phong với Ngày N+.

Những truyện ngắn của Khánh Trường, được in trong ba tập: Có Yêu Em Không (1990), Chỗ Tiếp Giáp Với Cánh Đồng (1991), Chung Cuộc (1997).

Có Yêu Em Không khai mào thứ bạo lực dục tình như tinh chất nhào nặn tác phẩm. Dục tình  xuất hiện trong hầu hết những truyện ngắn của Khánh Trường. Mưa Đêm là cuộc cãi vã của cặp nhân tình: cô gái điếm và gã lính bại trận, tử thương, là màn ẩu đả giữa sống và chết, giữa người và ma, là cuộc giao tranh và giao hoan giữa mộng và thực, giữa hồn và xác, là trận ác chiến giữa những thực tại tối tăm nhất của con người.

Bí Mật Của Rừng Già giao lưu thú tính và nhân tính trong lòng một tên thảo khấu cuồng sát, đàn em Pol Pot. Biến Cố Trong Rừng Tràm đặt câu hỏi về những tội ác khủng khiếp đã có thể xảy ra cho những kẻ vượt biên kiệt lực, cùng đường. Những Mảnh Đạn là đoản khúc yêu đương xuyên cõi âm dương, là trái mìn nổ chậm trong thân xác và vong linh những người còn sống mà đã chết. Chỗ Tiếp Giáp Với Cánh Đồng dấy lên khát vọng yêu thương của những trẻ tật nguyền, hậu quả của những bội tình, bội ước. Những Thảm Cỏ Nát Trong Khu Rừng Hoang mổ xẻ khía cạnh bạo tàn của một thứ luân lý, đạo đức thời trung cổ. Và Chung Cuộc viết về sự gặp gỡ của hai thân phận bị cuộc đời sa thải.

Khánh Trường là trường hợp phản kháng thường trực trong văn cũng như trong đời. Văn Khánh Trường là thứ văn chống lại văn chương, chống lại sự thơ mộng hoá của tất cả những loại văn bản, bài hát, bài thơ ve vãn chiến tranh, để tìm đến sự thực trần trụi nhất:

 

«Nửa đêm, một trái pháo vu vơ rơi ngay hầm chỉ huy. Kh. chia ba với thằng tà lọt và tên lính truyền tin quả đạn. Khi đào hầm lên, phải cố gắng lắm bọn lính mới gom được một đống thịt xương trộn lẫn cùng đất cát. Phần Kh., tôi chỉ nhận ra hắn nhờ chiếc thẻ bài và hai cái hoa mai trên cổ áo. Cái chết đúng như lời một bài hát, chết thật tình cờ... Chết thật tình cờ! Phải, nhưng nhất định không nằm chết như mơ! Các ngài nghệ sĩ đôi khi lãng mạn một cách tàn nhẫn. Các ngài chẳng biết mẹ gì trận địa, thậm chí có ngài chưa từng thấy mặt ngang mũi dọc cây M16 nó ra làm sao? Trái M26 nó tròn méo thế nào so với trái MK3? Nên trí tưởng tượng của các ngài đôi khi làm bọn lính tráng chúng tôi những muốn văng tục. Chết như mơ! Đụ mẹ, bảy năm trong một đơn vị tác chiến thực thụ, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cái chết như mơ! Chỉ có chết tan xương nát thịt, như Kh., chết cụt đầu cụt tay, chết cháy đen giống cây than hầm, chết banh ngực lòi phèo lòi phổi, chết phơi bụng đổ ruột cứt dái lòng thòng... như bao nhiêu thằng lính lớn lính nhỏ. Chết như mơ. Đụ mẹ, nói phét cũng vừa thôi.»[9]

 

Giữa mùi tử khí, giữa những xú uế, dòi bọ uất lên nơi những xác chết đã thối rữa chương sình, phả ra một tình bạn dai dẳng không dứt, một tình bạn chết người, một thứ tình bạn đỉa đói, nó theo con người vào cõi chết và cứ sống dai, sống dài sau cái chết. Người ta thường thấy những đối thoại giữa lính sống và lính chết, những cãi lộn, đanh đá cá cầy giữa gái điếm sống với những gã tình nhân lính đã chết toi chết tiệt từ kiếp nảo kiếp nào.

Khánh Trường là kẻ ngược dòng. Kẻ đi lột những mặt nạ. Khi người ta khóc thương quê hương, nhớ nhung lãng mạn, ca tụng tình yêu, ca tụng cái chết sĩ khí anh hùng thì Khánh Trường lăng nhục thứ văn chương điếm đàng, lừa thầy, gạt bạn. Khi người ta ca tụng những cao cả của sự vượt biên, vượt biển tìm tự do, như lẽ sống của con người, thì Khánh Trường nói hụych toẹt cái lý do vượt biên kỳ cục của những kẻ giống mình: "Tôi ra đi chẳng phải vì căm thù chế độ, vì bị kềm kẹp khủng bố, mà chỉ vì bị quyến rũ bởi những tấm hình màu, những thùng quà đầy ắp, những tape nhạc, những băng vidéo, những xếp đô la dày cộm của bà con bạn bè bên Mỹ gửi về."

Khánh Trường đi vào văn chương như một lính dù cảm tử, không sợ súng. Chính vì vậy mà anh viết những dòng chữ không tô hồng, không bọc điều, bọc đường. Chúng phả ra những sự thực quái đản, chúng gột sạch những son phấn hoá trang, chúng lột trần những áo quần loè loẹt, mà người ta đã điểm trang, trước khi tung ra vũ trường dư luận.
Khánh Trường vừa viết vừa chửi thề văn chương chữ nghĩa, vừa viết vừa nhổ bọt vào đạo đức luân lý. Vừa viết vừa hiếp dâm những thứ tình lãng mạn lý tưởng.

Người ta làm văn nghệ với những vai vế, chức sắc; khinh binh Khánh Trường, không bằng cấp, không quá khứ văn chương, nhẩy vào văn đàn như một tên du đãng cướp diễn đàn của các vị đại ca.

Người ta làm văn chương với những sứ mệnh, những nhiệm vụ cao cả, Khánh Trường kẻ phi số mệnh, phi đường lối, khơi khơi đi vào văn chương như một gã say rượu, loạng quạng chân nam đá chân xiêu, bạ mồm bạ miệng, điếc không sợ súng.

Nhưng sáng tác nào là không phát xuất từ những điếc đui dò dẫm?

Trách nhiệm tờ Hợp Lưu, đã là «bạt mạng» lắm rồi, ngòi bút của Khánh Trường lại ngược dòng, chiếu đèn pha vào một cộng đồng văn chương có những nét bảo thủ, thích rập theo những khuôn mẫu có sẵn. Ở thời điểm mà những người làm văn ở hải ngoại còn đang lâm ly khóc thương cho một "quá khứ vàng son", cho những "lý tưởng tự do" chưa đạt đích, những "buổi mai về xây dựng lại màu cờ"... thì Khánh Trường lù lù xuất hiện với cái tôi lính tráng, cái tôi rượu chè, cái tôi du đãng, mở miệng là chửi thề, «hùng» thì ít mà «hèn» thì nhiều.

 

Để rồi, nhiều năm sau trên đất Mỹ, trên "thiên đường mới", anh nhận thấy "sự bơ vơ cùng cực của mình, trên một xứ sở sống gần 15 năm, sao vẫn như kẻ lạ."

Thế giới của khinh binh Khánh Trường là thế giới của những kẻ ngoại đạo, tà đạo, ngược nước, ngạo nghễ, nghênh ngang, du côn, sống còm, chết bỏ, đối chất với một thế giới chính thống, khép kín trong những công thức cảm tình, những nhớ nhung vờ vĩnh, những thiên đường giả hiệu của những kẻ không tuần chay nào là không có nước mắt.

Tàn nhẫn nhưng thành thật đến độ phũ phàng, những nhân vật của Khánh Trường, không có tên. Chúng thường mang những danh xưng như: con đĩ, hắn, thằng cha, người đàn bà, thằng nhỏ, con nhỏ... Nếu có tôi thì cũng là cái tôi tàn mạt, vừa dâm, vừa ác, vừa hèn.

Những nhân vật của Khánh Trường coi thường tội lỗi, xỉ nhục đạo đức, một thái độ giới hạn giữa có luân và vô luân.

Thái độ đó bởi đâu? Phát sinh từ cái gì? Nếu không phải là từ những xác chết? Từ những trái phá phàng phũ ngoan cố chớp mắt đã xé nát những thằng bạn du thủ du thực đang ăn tục nói phét với nhau, bỗng lăn đùng ra, đứa mất đầu, đứa mất chân, đứa lòi ruột, bên cạnh những đống thịt bầy nhầy vụn nát của những thằng chết bằm.

Những truyện ngắn hay nhất của Khánh Trường đều xoay quanh "cái đó". Và từ "cái đó" nẩy sinh thái độ ngạo mạn, thái độ dửng dưng, đưa đến bạo lực, bạo tình.

Ở Khánh Trường là những thái quá. Là hiện tượng chiến tranh nổ chậm trên thể xác và tâm linh sau ngày đình chiến.

Những trái phá đó bị bỏ rơi, bỏ quên, tích tụ lại trong các hạch, các tuyến, các não thùy của người sống sót, và bất cứ lúc nào cũng có thể hồi sinh, mưng mủ, chạy cùng cơ thể như những chân rết nọc độc ung thư, như những trái mìn nổ chậm mà chắc.

Nhân vật của Khánh Trường là những kẻ dù lành mạnh thể xác, cũng tàn tật tâm linh, nam hay nữ, già hay trẻ, ít nhiều họ đều đã bị dính vào mìn cá nhân, mang những mảnh đạn chiến tranh trong cơ thể. Những truyện ngắn Có Yêu Em Không, Bí Mật Của Rừng Già, Biến Cố Trong Rừng Tràm,... đều có dấu vết của tạc đạn, của bạo tàn, của thần chết, của giết chóc, dẫn đến quẫn trí, dục tình và bạo lực. Nhưng trên tất cả các hung hãn bạo lực ấy, bao giờ cũng le lói chút tình người. Chỉ một chút thôi. Đủ cho thấy cái tình người nhỏ nhoi và khan hiếm ấy nếu cứ bị cưỡng hiếp lâu dài thì sẽ có ngày tuyệt kiếp.

Khánh Trường là một tác giả cần dán nhãn hiệu cấm trẻ em dưới mười tám tuổi. Có những khốc bạo thái quá. Có những màn sex sỗ sàng. Có những triết lý dài dòng không cần thiết.
Nhưng nếu muốn thám hiểm bộ mặt thực của chiến tranh, thì không thể bỏ qua tác phẩm của Khánh Trường. Bạo lực hóa thân thành những chân rết ung thư khuấy độc môi trường và đầu độc hạnh phúc.

Khánh Trường không muốn nhìn rõ biên giới giữa hai cực thiện ác, đạo đức và vô luân, nhân tính và thú tính. Sau mỗi hy sinh cho cuộc chiến đôi bên, người ta đọc diễn văn, cài huân chương, phủ poncho, phủ cờ, và tuyên dương công trạng. Đứng sau bàn thờ tổ quốc, Khánh Trường táy máy gỡ micro giật cờ, lật poncho để lộ những nét phế tàn hùng hãi trên thân thể những tử thi nằm trong mồ liệt sĩ, dưới đài hoa chiến thắng.

 

Paris tháng 5/1997-1/2025.

Thụy Khuê

 



[1]              Đó là tài liệu do tôi nhờ Khánh Trường soạn và gửi cho tôi năm 2018 để làm Từ Điển Văn Học. Trên cáo phó, có thêm tên hai người con gái nữa, là Trường Hảo và Trường Mỹ, con riêng của chị Thạch Thu Oanh. TK.

[2]           Chung Cuộc, Khánh Trường, Nxb Tân Thư, 1997, trang 170.

[3]           Thư toà soạn, Khánh Trường, Hơp Lưu số 1, trang 3.

[4]           Được 4 số: 66, 67, 68, 69 thì tên Phùng Nguyễn rút tên, chỉ còn lại Đặng Hiền.

[5]              Trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại, Trần Vũ, HL số 67, tháng 10-11/ 2002, trang 23-60.

[6]           Khinh binh số một và ngón tay thứ sáu, Đỗ Kh, HL số 67, tháng 10-11/ 2002, trang 61-64.

[7]              Hợp Lưu là gì? Phạm Xuân Nguyên, HL số 67, tháng 10-11/ 2002, trang 65.

[8]           Dã Tượng là bút hiệu khác của Nam Dao.

[9]              Có yêu em không, Khánh Trường, Nxb Tân Thư, 1990, trang 187.



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 223)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 674)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 703)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1479)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1340)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17223)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16271)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16746)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 702)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1485)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2230)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1260)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 674)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1475)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1339)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 223)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3045)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2943)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3413)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2116)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13922)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30048)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36107)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11572)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13048)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2838)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4002)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3984)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4496)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5034)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8283)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7665)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10617)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.