- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,564,216

Vi Thùy Linh, Nhục Cảm Sáng Tạo

13 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 19534)

Vi Thùy Linh là nhà thơ của tình yêu. Trong tập Đồng tử, có chỗ Linh đã muốn thoát khỏi tình yêu để làm thơ khác, Linh muốn làm thơ trí tuệ, thơ nhân sinh, nhưng mọi cố gắng dường như đều đưa Linh về với khát vọng tình yêu, như thể tất cả mọi con đường đều dẫn về La Mã. Tình yêu là khởi điểm trong thơ Vi Thuỳ Linh, tình yêu là nguồn sáng tạo, là địa điểm xuất phát đẩy chữ đầu thai trong một cuộc đời mới. Mỗi chữ của Linh là một đứa con, là một khai từ nở tung thành thơ, những câu thơ như những lời kinh cầu, ứa máu:

Hoa mẫu đơn e lệ nở
Khai mạc đêm từ Linh
Những đứa bé ùa về chào đời
Bắt đầu vẽ chân dung Mẹ

Trong bóng tối mới tinh, vẫn bài ca hoang dã
Tôi ứa máu những câu thơ cầu siêu
Rách cằm ngã đêm đơn độc
Khe khẽ hoa Thùy Linh nở

(...)

Làm đoá Linh mẫu đơn
Nở tận cùng đến chết

Sinh năm 1980 là bài khai từ cho tập Đồng Tử, mang tính chất khai hoa, nở nhụy, và cũng là một cách mở trải hành trình sáng tạo bằng tình mẹ. Bởi: hoa mẫu đơn e lệ nở/ khai mạc đêm từ Linh: chính là lúc người mẹ mở cửa mình cho Linh vào đời. Hai hình ảnh mẫu đơn và từ Linh tuyệt hay: mẫu là mẹ, cho nên mẫu đơn vừa là tên hoa, vừa là mẹ cô đơn; mẫu đơn lại còn có nghiã đơn sơ là mẹ, hệt như Florence, vừa là hoa, vừa là người con gái, vừa là thành phố, vừa là thành phố đầy hoa (như Sartre đã từng phân tích). Rồi đến hai chữ từ Linh, từ là bắt đầu, vậy khai mạc đêm từ Linh là từ đây bắt đầu đêm Linh; đêm bắt đầu từ Linh, cũng là đêm linh bắt đầu; đêm thiêng bắt đầu. Nhưng từ còn có nghiã là chữ, vậy câu thơ khai mạc đêm từ Linh còn có nghiã là khai mạc đêm chữ của Linh; Linh khai mạc đêm chữ. Mà từ cũng là lời, cho nên khai mạc đêm từ Linh còn có nghiã là lời Linh bắt đầu từ đây, là những đứa con tinh thần của Linh ra đời từ đây.

Đêm người mẹ sinh ra Linh, cũng là đêm của Linh. Đêm mà những con chữ tuôn ra vẽ chân dung mẹ, cũng là đêm Linh bắt đầu khai sinh cho chữ, cho thơ Linh... Một câu thơ thật đơn giản nhưng có thể bóc ra nhiều tầng ý nghiã, nhiều lớp hình ảnh, nhờ hai chữ mẫu đơn và từ Linh. Tất nhiên hai chữ mẫu đơn và từ Linh này không thể dịch được. Bởi nếu chọn nghĩa này thì mất nghiã kia (cũng như Florence) và cũng không thể tìm được một chữ tương đương trong tiếng Pháp. Chúng ta thử đọc đoạn dịch của Cao Việt Dũng:

Timidement la pivoine éclot
Ouvrir la nuit, à partir de Linh
Les enfants qui demandent à naitre
Commencent à peindre leurs mères

Dịch từng chữ không sai. Nhưng những câu tiếng Pháp không còn lung linh ý nghiã như câu thơ tiếng Việt. Chữ mẫu đơn chuyển thành pivoine, không sai nghĩa, nhưng pivoine chỉ còn vẻn vẹn là đoá hoa, và chỉ là hoa mà thôi. Chữ từ khi chuyển thành à partir de, vẫn đúng, nhưng nó chỉ là một liên từ, tức là một cái gạch nối, không hơn không kém. Bốn câu thơ (dịch) trên bị đứt thành hai khúc:

- Hoa mẫu đơn nở/ Mở cửa vào đêm, từ Linh

- Những đứa bé đòi chào đời/ Bắt đầu vẽ chân dung mẹ.

Hai khúc này không có gì liên lạc với nhau. Bởi vì chữ mẫu đơn trong tiếng Việt không chỉ là hoa, mà còn là mẹ, nhờ chữ mẫu. Và vì là mẹ, cho nên khi nở ra, mẫu đơn mới sinh con, mới có những đứa bé chào đời. Chữ từ trong tiếng Việt, không chỉ là cái gạch nối, mà nó còn có nghiã là chữ, là lời; vì thế từ chính là đứa con của Linh, là chữ của Linh: từ Linh.

Ta thử đọc lại câu thơ Việt một lần nữa: Hoa mẫu đơn e lệ nở / Khai mạc đêm từ Linh / Những đứa bé ùa về chào đời / Bắt đầu vẽ chân dung Mẹ / Trong bóng tối mới tinh, vẫn bài ca hoang dã / Tôi ứa máu những câu thơ cầu siêu / Rách cằm ngã đêm đơn độc / Khe khẽ hoa Thùy Linh nở ... Làm đoá Linh mẫu đơn / Nở tận cùng đến chết

Những câu thơ trên đây đã vẽ chân dung một đời. Đời Linh. Linh sinh ra từ đoá mẫu đơn, rồi từ Linh, mới có thơ Linh, thơ Linh vẽ chân dung Linh: một đời mẫu đơn, ứa máu cho thơ đến... chết. Tất cả những điều đó, có thể Linh đã không chủ ý viết ra, nhưng những chữ của Linh nói lên như thế, đó là vô thức sáng tạo.

Nhưng bài thơ Sinh năm 1980 không phải chỉ có thế, còn có những đoạn Linh đã muốn thoát ra ngoài tình yêu, để viết về những chủ đề khác, về thế giới luân chuyển, về cõi nhân sinh, như trích đoạn sau đây:

(...) Đỉnh yêu độc đạo
Thơ chất con đường lửa
Phóng sinh ký ức ngàn năm bất lực
Xoá bỏ ức chế yếm thế luân chuyển 

Hoà huyết di truyền đại ngàn - biển cả
Tôi tự tin dòng máu chủng tộc
Cất tiếng của tôi
Theo ý muốn của tôi

Không kiềm chế (...)

Ta thấy ngay sự khác biệt giữa tự nhiên và khiên cưỡng, những lời trên lạc loài trong thơ Linh, chúng vụng về, khẩu hiệu, chúng sừng sộ bên cạnh đoá Thùy Linh đang nở. Những lời cường điệu như thế rất hại cho thơ, nhiều chữ chưa kịp tan trong dung môi nghệ thuật. Tập Đồng Tử bị chia đôi như thế: phần lớn những bài thơ hay nằm trong phần III, viết về tình yêu. Những đoạn thơ trí tuệ của Linh có nhiều câu không tự nhiên, dùng những chữ lớn mà rỗng. Có những câu thơ rất hay, bị lạc trong rừng rậm, um tùm những câu tầm thường như "hối hả khai hóa miền cằn cỗi để hồi quang trinh bạch, hối hả ôm chặt ngưòi đàn ông mong đợi", hoặc cường điệu như "đỉnh yêu độc đạo", "thơ chất con đường lửa", đôi khi mang ý tưởng cực đoan như "tôi tự tin dòng máu chủng tộc", chủng tộc thì có gì đáng nói ở đây? Sự suy tôn chủng tộc luôn luôn đưa con người đến những vực thẳm không lường được.

Đó cũng là nhược điểm chung của một số nhà thơ trẻ có tài, những poète-né, bẩm sinh, như Vi Thuỳ Linh, như Lynh Bacardi... nhưng chưa biết hoặc chưa kịp nhặt những câu thơ hay của mình ra khỏi dòng lũ ban đầu.

Hoàng Cầm, Lê Đạt đều đã kinh nghiệm thấy dòng lũ đầu ta cứ ghi, ghi hết, nhưng sau phải "travailler" lại tức là phải sửa, phải gạn lọc và tuyển chọn những câu nào hay nhất, những câu nào xứng đáng là thơ, mới giữ lại. Thời kỳ gạn lọc này mới thật vất vả, nó chứng tỏ sự nhậy cảm của người nghệ sĩ qua sự tự phán tác phẩm của mình. Bởi dù tài tình đến đâu, tất cả những gì viết ra, chưa chắc đã là văn, là thơ, mà còn phải phiên lọc lại qua giác quan nghệ thuật nữa.

Trở về với thơ Vi Thùy Linh, những câu thơ hay của Linh đều có tình, đều nặng tình, đều trữ tình, đều được tạo nên từ tình, một thứ tình cảm lãng mạn da thịt, đến cuồng si. Tình yêu trong thơ Linh là một thứ tình yêu không bao giờ đạt đích, một thứ tình chưa tìm tới bến, mà càng lao vào, càng mù mịt đơn côi. Tình yêu trong thơ Linh là thứ tình chưa thỏa, và chẳng bao giờ được thoả. Là sự phiêu lưu không bến, là liều lĩnh, là đi bể không kim chỉ nam:

Một mình trên thuyền với cánh buồm đỏ như trái tim căng trong lồng ngực

Vừa làm thuyền trưởng vừa là thủy thủ
Người không biết bơi liều mạng ra khơi ...
Kim la bàn theo hướng linh giác...
Hải âu lượn trong mắt biếc
Anh phía tâm ước của em
Thuyền dâng đỉnh sóng

(trích bài Say nắng).

Như thế, hướng Linh đi là hướng Anh, chữ Anh bao giờ Linh cũng viết hoa và giải thích đó là hướng tâm ước của em. Những chuyến đi của Linh là những chuyến căng buồm ra khơi của một kẻ liều mạng không biết bơi mà cứ lao mình vào biển cả.

Đường thơ là đường đời. Chẳng gần gụi cũng biết Vi Thùy Linh, người con gái ấy liều lĩnh, bản năng, tha thiết, là ốc đảo cô đơn, là con thuyền lao bừa lên đỉnh sóng.

Từ sự ra đi bất cần định hướng ấy, miễn có ảo ảnh là Anh, người con gái ấy đã tạo ra những câu thơ xuất thần, như:

Cắn giập cuống chiều
Bốn bề gió thốc
Nắng đen mặt người
Đất như ngừng thở
Khóc cười mệnh bạc
Em vẫn tìm Anh
Tìm trong bóng đêm
Tìm ngày rát nắng
Hơi thở cũng lạnh
Mặt trời mặt trời...
Ngày thì nhật thực
Đêm thì nguyệt thực
Sông thành sa mạc
Anh thì hư vô
Em quên tất cả
Quên cả tên mình
Quên cả tuổi mình
Quên cả lối đi
Chỉ còn nhớ Anh
Nam mô a di đà...

(trích Nhật thực).

Sự xông vào Anh gây sửng sốt và ái ngại. Một hình ảnh lạ lùng: "Cắn giập cuống chiều". Đừng lầm là cắn giập cuống chiếu ( J’écrase des dents les brins de natte) như Dương Tường dịch. Tất cả sức mạnh của câu thơ nằm trong chữ giập và tất cả bao la của câu thơ nằm trong chữ chiều, táo bạo khác thường. Chữ chiều đã dựng nên tầm vóc câu thơ và nhà thơ: nếu cắn giập cuống chiếu chỉ là hành động tầm thường, nhỏ nhoi của người con gái hờn dỗi, thì cắn giập cuống chiều là ý thức siêu hình, đưa nàng vào với thời gian và không gian, làm cho nỗi nhớ, nỗi thống khổ trở thành bao la bất tận. Làm sao cắn được chiều, lại còn cuống chiều nữa, một hình ảnh siêu thực tuyệt đẹp chưa từng thấy. Rồi từ chữ chiều phù thủy ấy, bài thơ đi thật nhanh, như những lời niệm Phật, nhưng không niệm với tốc độ ni cô mà là tốc độ của gió, của lốc, của lũ, dồn dập bão táp. Lời thơ đi vào không gian, đến với vũ trụ, làm đen mặt trời, nhật nguyệt hoang loạn, huyền ảo, chúng ta đọc lại lần nữa, đọc thật nhanh: Cắn giập cuống chiều / Bốn bề gió thốc / Nắng đen mặt người / Đất như ngừng thở / Khóc cười mệnh bạc / Em vẫn tìm Anh / Tìm trong bóng đêm / Tìm ngày rát nắng / Hơi thở cũng lạnh / Mặt trời mặt trời.../ Ngày thì nhật thực / Đêm thì nguyệt thực / Sông thành sa mạc / Anh thì hư vô / Em quên tất cả / Quên cả tên mình / Quên cả tuổi mình / Quên cả lối đi / Chỉ còn nhớ Anh / Nam mô a di đà...

Nếu Nhật thực là trạng thái khủng hoảng vì yêu, đụng đến tâm Phật, đến độ nhật nguyệt phải hoảng sợ thối lui, tất cả đều chạy, đều biến mất đi, đất trời ngưng thở, thiên nhiên biến dạng, con người hư vô, con người mất trí... thì bài Cất giấu bày ra một bối cảnh tĩnh lặng, câm nín, tất cả đều tồn tại trong trạng thái vô âm, đau xót đến bàng hoàng:

...Anh đi xiên qua em- bóng nghiêng đơn độc
Những mùa tuyết buông mình vì sự trong trắng của em
Đàn chim di thê mải miết tìm phương ấm
Em một mình với khu vườn câm

Câm tiếng hoa- tiếng chim hót sương rơi- tiếng lũ sâu cựa mình trong lá- bầy giun hành quân giữa các luồng rễ -những quả trứng thằn lằn vất vưởng -tiếng quả đang chín lệch mùa

Tất cả bị câm khi em giam tiếng khóc sau cánh môi cắn chặt...

Em như mùa thu đi
Lá vàng theo lối tóc
Anh mong đến Xuân gần nhất
Mưa mọc theo theo đường cây
Khu vườn không bao giờ câm tiếng nữa...
Hãy giấu em vào cơ thể Anh!..

(Cất giấu).

Nỗi đau cất giấu âm thầm trong tâm não, là những giọt nước mắt không rơi ngoài tim mình như lời thơ Thanh Tâm Tuyền. Đây là lời gọi của Lolita đầy nước mắt: Hãy giấu em vào cơ thể Anh! Đây là cõi tĩnh lặng bão tố: em giam tiếng khóc sau cánh môi gắn chặt. Những chữ giam, chữ giấu, thật đắt giá, chúng lũy thừa đớn đau, lũy thừa tuổi thơ, chúng làm nổi bật toàn bộ cái không gian tuyệt vọng, không gian bị nhốt, không gian bị câm, cỏ cây muôn vật á khẩu. Trong không gian tật nguyền ấy chỉ còn lại một mình Lolita ngồi im, lẩm nhẩm đếm thầm trong đầu: em một mình với khu vườn câm/ câm tiếng hoa / tiếng chim hót/ sương rơi/ tiếng lũ sâu cựa mình trong lá / bầy giun hành quân giữa các luồng rễ/ những quả trứng thằn lằn vất vưởng/ tiếng quả đang chín lệch mùa/ tất cả bị câm khi em giam tiếng khóc sau cánh môi gắn chặt/ hãy giấu em vào cơ thể anh... Hoạt cảnh câm này là một bản nhạc buồn huyền bí, nhạc vô âm, nhạc không lời, nhạc thầm của tiếng sâu cựa mình, của tiếng quả chín lệch mùa, của tiếng giun hành quân, nhạc tâm linh đã đạt đến cực điểm nhức nhối: vì tiếng khóc bị giam, cho nên nó mới tiết ra những tiếng đau bên trong, tiếng đau thầm nín, như thế. Thơ Linh đặc biệt vì có những tiếng câm như vậy. Bài Solo có một tiếng câm kinh hoàng khác, trong một hoàn cảnh khác:

"Tiếng ú ớ làm tôi ớn lạnh
Sao người câm không cam phận bặt âm?"

Tiếng ú ớ của người câm đã đành là tạo trong ta sự thương cảm, nhưng chính câu hỏi: sao người câm không cam phận bặt âm? mới làm ta ớn lạnh tâm hồn. Sự cam phận im lặng của người câm là tự nhiên, nó đã trở thành luật; nhưng chính chữ sao ở đầu câu đã làm cho cái luật vững như bàn thạch ấy bị đặt dấu hỏi. Chữ sao ấy vừa là niềm tuyệt vọng tối hậu, vừa là sự cam phận cuối cùng: cam phận bặt âm; nhưng nó cũng khơi nên niềm hy vọng bởi còn có người dám đặt câu hỏi về cái luật oan khiên ấy. Trong không khí hiện tại mà Linh và các bạn cầm bút trẻ đang sống, câu hỏi này vừa quyết liệt, vừa là cội rễ của tất cả những câu hỏi khác về nhân quyền, về sự cam phận nhắm mắt đưa chân, về sự phục tùng vô điều kiện.

Rồi sau đó Linh viết:

"Ngày ướm đêm giục em tận hiến
Chảy sâu vào em nguồn nóng thiêng liêng
Nàng gọi đôi từ căn phòng đơn độc
Mưa ấm lên bầy chim về lại
Cánh rừng dẻ nẩy hạt từ tâm
Bầy đom đóm cầu may trời sao sáng
Người câm vẫn ú ớ kinh hoàng...
Em giấu anh toàn bộ nước mắt mình
Còn lại tất cả em và tình yêu-Anh thu nạp
Tình yêu cứu vớt chúng ta khỏi đau thương, đớn hèn và tha hoá
Cả thành phố bỗng lộng lẫy nhiệm màu như bài thơ đá trắng
Không solo... 

Tiếng tình trong tâm người đàn bà trẻ này là những tiếng đau thống thiết, tiếng đau như đến từ thế kỷ trước, chất lãng mạn tràn đầy, nhưng cái đau này không platonique, không yêu chay, đau chay, như trong thơ lãng mạn, mà là cái đau của thịt da bị hối thúc, bị đòi đoạn, bị khẩn trương, cấp thiết:

Đỡ lấy em, khắp trần gian những chuỗi nước mắt
Vẫn tìm Anh suốt dọc thanh xuân những tinh mơ những chiều lạnh lẽo
Vẫn tìm Anh giấc em hoảng hốt...
Những ngón tay chìa khóa mở chiêm bao
Những ngón tay cóng buốt cào vào cằn cỗi...
Những con chữ nẩy hạt dưới da
Những con chữ hòa máu em vào Anh
Khao khát mở đường cong hợp cẩn
Một ngày ra đi như Anh
Nhiều năm ra đi như Anh
Làn môi thành làn nước...
Chúng ta trằn trọc đếm đêm
Chúng ta nuốt khan tiếng rên...
Chúng ta nối vào nhau, bí ẩn và hoang lộng.

(Trích Mùa tình)

Cái đau tình yêu đã giao hợp với cái đau sáng tạo, trong một cuộc làm tình thống khổ chưa bao giờ thấy: Những ngón tay chìa khóa mở chiêm bao/ Những ngón tay cóng buốt cào vào cằn cỗi... Những con chữ nẩy hạt dưới da / Những con chữ hòa máu em vào Anh / Khao khát mở đường cong hợp cẩn. Và cái đêm hợp cẩn này kỳ lạ, kinh hoàng: nó là sự giao thoa giữa khoái lạc hợp cẩn và sự đớn đau rách da rách thịt của người mẹ lúc lâm bồn, khai sinh con. Con-Chữ. Cho đến nay, chưa có nhà thơ Việt nào đã tạo được những chiều kích sâu xa đến thế về sự khai nhụy, nở hoa trong tình yêu và sáng tạo. (Chú thích: câu đầu, chính của Linh là: Những ngón tay chìa khoá tự mở chiêm bao, chúng tôi thấy chữ tự không cần thiết và làm nặng câu thơ, nên đã mạn phép Linh tạm bỏ chữ tự đi).

Thơ tình của Linh, do đó, không chỉ là thơ tình, ngay từ bài đầu trong tập Đồng tử (sinh năm 1980) đã là bản tuyên ngôn: thơ là sự hợp cẩn giữa tình yêu và sáng tạo, trong thống khổ và hạnh phúc. Linh còn làm đổi giống những biểu tượng vĩnh cửu: người ta thường gọi Em là nàng thơ. Bây giờ chàng thơ của Linh là Anh, và Sáng tạo là một cuộc làm tình thống khổ đầy nước mắt:

Ước gì nước mắt tạnh!
Ước gì em dệt Anh (Valentine)

Còn lời ước nào đớn đau hơn Ước gì nước mắt tạnh! Còn cứu cánh nào tinh túy và lớn lao hơn Ước gì em dệt Anh! Đó là cứu cánh sáng tạo: Anh, chính là chàng thơ, chính là nguồn sáng tạo của Linh, Vi Thuỳ. Anh do Linh sáng tạo ra, nhưng Anh cũng là mục đích cuối cùng mà Linh chưa đạt tới. Anh là cái gì không bao giờ Linh đạt tới, bởi nếu Linh đạt tới thì sẽ chấm dứt. Nếu Linh đạt tới mục đích sáng tạo, thì Linh sẽ không làm thơ nữa, Linh không sáng tạo nữa. Cho nên suốt đời Anh sẽ làm kim chỉ nam, gợi Linh toát ra những lời thơ đầy nhục cảm:

Cô đặc em đêm đen
Cóng đường môi thở.

Anh là niềm yêu không bao giờ thoả, là nhục cảm cô đọng, nhục cảm bị dằn lại, cóng lại, bị nén xuống, nhưng không cam phận bặt âm:

Chúng ta trằn trọc đếm đêm
Chúng ta nuốt khan tiếng rên (Mùa tình).

Linh, Lolita khờ dại, hung hãn xông vào Anh trong tư thế chiếm đoạt vô thức. Linh tạo ra nhục cảm sáng tạo mà tình và chữ, nhục dục và ngôn ngữ hoà tan trong động thức tình yêu. Nhục cảm sáng tạo từ Linh, sẽ còn ngây thơ, quẫy động, đầy nước mắt, mãnh liệt không chịu nhượng bộ bất cứ một áp lực đạo đức hay chính trị nào. 

Thụy Khuê
Tháng 5/2006

 
(trích bài Sinh năm 1980).
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 20215:36 CH(Xem: 492)
Cứ mỗi lần được đi trên sông Hồng, tôi lại mê mải nhìn sang hai bên làng xóm trù phú, và cố tìm những luỹ tre làng đang bị mất dần đi… Thế mà, suốt bao đời nay, luỹ tre làng là một trong những biểu hiện quen thuộc nhất, sinh động nhất của châu thổ Bắc bộ. Nhà thơ dân dã Nguyễn Duy từng thốt lên: Thân gầy guộc, lá mong manh Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi!
02 Tháng Bảy 20216:30 CH(Xem: 643)
Giữa những ngày nóng nực tháng 6 này, giữa cơn "địa chấn" của lòng người trước chủ quyền Đất Nước bị xâm phạm trắng trợn từ nhiều năm nay, tôi đã bỗng nhớ đến một bài thơ yêu nước Tây Ban Nha do chính nhà văn Lưu Trọng Lư đọc cho nghe, cách đây gần ba chục năm, trong căn buồng của nhà văn đối diện phía sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
30 Tháng Sáu 20211:14 SA(Xem: 672)
Kết thúc ba ngày hội thảo từ 11 đến 13 tháng 6 vừa qua tại Cornwall thuộc miền nam Anh Quốc, Nhóm G7 – một tổ chức gồm bẩy nước dân chủ có nền kinh tế phát triển lớn nhất là Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mỹ, Anh và Gia Nã Đại – cùng đồng ý tham gia vào một đề xướng đầy tham vọng, đó là hỗ trợ dự án giúp các quốc gia nghèo có nhu cầu phát triển xây dựng hạ tầng cơ sở trên toàn thế giới.
28 Tháng Sáu 202112:51 CH(Xem: 807)
1957 một tạp chí có tên Bách Khoa do hai ôngHuỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh sáng lập, xuất bản mỗi tháng hai kỳ, với quan niệm là: “Diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề Chính trị, Kinh tế, Văn hoá, Xã hội.” Nguồn tài chánh ban đầu của Bách Khoa là do đóng góp của một nhóm 30 người, gồm những nhà giáo, nhà báo, chuyên viên hay công tư chức cao cấp thời bấy giờ; mỗi người góp 1.000 đồng (lương tháng hàng giám đốc lúc đó khoảng 5.000 đồng) , tổng cộng được 29.500 đồng, một số tiền phải nói là khá lớn (theo TS Phạm Đỗ Chí, thì 1 US$ = 35 VN$ và số tiền ấy tương đương với hơn 20 lạng vàng theo thời giá 1957 lúc bấy giờ).
03 Tháng Sáu 202110:29 CH(Xem: 924)
Kịch bản tuồng "Liệu đố" (chữa bệnh ghen) có thể nói là một kịch bản văn học khá kỳ lạ. Khoác cái vỏ lụng thụng của những điển tích cổ, thơ Đường, Kinh thi..., nhưng kịch bản được viết ra từ trên một thế kỷ này tận cốt lõi lại là sự sống dân gian Việt, và điều đặc biệt nhất là chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại trong nội dung tâm lý cũng như về hình thức biểu hiện. Tôi xin mạn phép được minh chứng điều này bằng chính văn bản vở tuồng "Liệu đố" mà tôi có được trong tay nhờ các nhà nghiên cứu dịch thuật Hán Nôm của Trời Văn Bình Định (“Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ” - Nxb Sân khấu, 2011).
16 Tháng Năm 20219:48 CH(Xem: 1281)
Ngày 5/5, TAND tỉnh Hoà Bình đã tuyên án 16 năm tù cho chị Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư. Trước đó, người con trai khác của chị, Trịnh Bá Phương bị công an chuyển từ trại giam vào viện tâm thần. Sự đàn áp khắc nghiệt của lãnh đạo ĐCS đối với gia đình chị, vô tình lại giúp tôi cảm nhận được cái “sức sống mãnh liệt” của những nông dân này. Và như Ls Đặng Đình Mạnh, tôi cũng rơi nước mắt khi đọc những chia sẻ của anh:"Chứng kiến sự đanh thép, bất khuất ... của họ tại tòa, mất tự chủ, tôi chảy nước mắt vì xấu hổ".
15 Tháng Năm 20214:04 CH(Xem: 1311)
"Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ." (NTV)
26 Tháng Tư 20215:05 CH(Xem: 1261)
Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư. {Bây giờ} Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.
17 Tháng Tư 202112:36 SA(Xem: 1327)
Trong cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, của Trần Mai Hạnh (đăng nhiều kỳ trên tuần báo Văn Nghệ từ số 12 ra ngày 18.3.2000), tác giả tưởng tượng ra cuộc đối thoại như sau giữa Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 và viên Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà nẵng: “An Phran-xít xộc vào giữa lúc Trưởng đang hối thúc đám tay chân thân tín tiêu hủy tài liệu. Thấy An Phran-xít, Trưởng không trịnh trọng bước tới bắt tay như mọi khi mà chỉ cất tiếng chào: - Xin chào Ngài Tổng lãnh sự! Tôi tưởng Ngài đã ra đi. - Sân bay hỗn loạn. Không một máy bay nào lên xuống được. Người của tôi đi chưa hết. Không một ai giúp tôi. Tôi phải can thiệp và tụi lính của ngài đã xông vào hành hung tôi.
15 Tháng Tư 202112:16 SA(Xem: 1179)
Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» ..., tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào.