- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,541,097

Tình Bạn, Làm Nên Bó Hoa Giữa Đời Sống Khốn Cùng

11 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 18126)

Món quà lớn nhất mà tôi có thể nhận được
w-final3-hopluu92-224_0_106x300_1từ người khác là được họ nhìn thấy, được hiểu,
được chạm tay vào người.

Nói đến Du Tử Lê, người ta thường nhắc đến thơ tình. Điều đó cũng đúng, nhưng không đủ. Giữa những cay đắng tình yêu và vùi dập của đời, tình bạn, nhất là thứ tình giữa những người đàn ông, nuôi dưỡng chúng ta. Con đường của mỗi người, đi ra từ cuống rốn vừa lìa, xa xôi vạn dặm. Mỗi người biết: đó là con đường khó khăn , bởi vậy, chúng ta cần những người đồng hành. Tình bạn Du Tử Lê còn là một tình bạn của chiến tranh, ly loạn:

Virginia Satir

Chúng tôi lớn: sông nghìn năm đứt khúc

Thồ nỗi buồn lên núi. Cột mây chơi

Năm mươi tuổi: hai chục năm luân lạc

Những anh hùng, tài tử hóa lem nhem

Đời dẫu nhận hay xua thì cũng vậy

Chúng tôi buồn hơn núi thọ tang sông

(Thơ Ở Một Thời Của Những Người Không Tuổi Trẻ )

 

Đọc thơ anh, những bài nổi tiếng về quê hương, bao giờ cũng có dấu vết của tình bạn đằm thắm thiết tha, trong đó có tình đồng đội. Thơ Đường Trung Hoa và thơ cổ Việt Nam có hai đề tài lớn là thiên nhiên và tình bạn. Khoảng năm mươi năm trở lại đây, các nhà thơ ngày càng ít viết về nó. Vì sao ? Nhiều lắm là nỗi buồn nhớ bạn của Huy Cận man mác, ngậm ngùi, với một chút hoang mang của thời đại lúc bấy giờ, tuy đã bắt đầu biến động nhưng chưa hẳn là nhiễu nhương.

Người ở bên trời, ta ở đây

Chờ mong phương nọ, ngóng phương này

Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm

Vạn lý sầu lên núi tiếp mây

 

Nắng đã xế về bên xứ bạn

Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy

Trông trời bốn phía không nguôi nhớ,

Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.

(Vạn Lý Tình, Huy Cận)

 

Với Du Tử Lê tình bạn mới hơn, thô ráp và cụ thể hơn, vì thế, thật hơn. Khi chưa được gặp anh, đọc những câu thơ sau đây, tôi có cảm giác anh là người rất quý và thương bạn bè, những kẻ cùng trang lứa, cùng chia nhau những ngọt bùi lịch sử .

Ba mươi năm lẻ ai ngờ được

Tao với bay giờ gặp lại đây

Chiến tranh đã dứt nhưng thương tích

Vẫn ở cùng tao, ở với bay

 

Bay đã kinh qua địa ngục đời

từng nhìn binh biến giống trò vui

chiến xa, đại bác bay chơi nổi

bom ném ngang trời cũng được thôi

 

Trận mạc ngày xưa còn chẳng ngán

nhằm nhò chi ít vỉ bia "cua"

cười khan những buổi đi "chà láng"

mà lại buồn so diện "H.O."

 

Nốc rượu nguyên đêm chờ được xỉn

ôi mái trường rêu Chu Văn An

nhiều thằng "thăng" lúc còn hôi sữa

dăm tên đầu bạc kể hung hăng

 

Đạn bom ngốn mất thời trai trẻ

cải tạo khơi khơi năm, mười niên

ra tù mất vợ, con quay mặt

cười gượng ra điều ta vẫn …ngon

(Nhìn Nhau Chợt Thấy Ra Sông Núi)

 

Người xưa nhìn cảnh nhớ người, nhưng Du Tử Lê nhìn người nhớ cảnh. Không phải chỉ có thế, không phải là anh chỉ nhớ, mà là thấy ra. Vì sao? Vì bạn bè anh cũng chính là tâm hồn anh, cũng là hoài niệm, hay hơn thế nữa, là tấm gương thời gian của hiện tại soi vào quá khứ, là tấm gương không gian của nước Mỹ soi thấy Việt Nam.

Thơ là chiếc cầu nối của những tâm hồn cùng thở bầu không khí một thời đại. Qua Du Tử Lê, tình bạn còn là phương tiện tự phát hiện chính mình, con đường dẫn tới nỗi ngạc nhiên của kẻ nhận ra bản thể. Người ta cần có sự dũng cảm và thành thật mới nói được những điều mà anh đã nói trong thơ. Cảm nhận từ trái tim đôi khi khó khăn và khó chịu, thậm chí đau đớn.

Hãy nghe anh kể chuyện đến thăm một người bạn, hồi ở Việt Nam.

Lâu ngày không gặp bạn

Có việc nhờ, nên đi

Nhà bạn xa hun hút

Trong con hẻm âm u

 

Lâu ngày mới gặp nhau

Ta, ngươi cười ha hả

ngươi đi pha cà phê

ta ngồi - nằm trên ghế

 

ngươi quần đùi, áo lá

mặt tối như đêm mưa

bốn mắt ngửa lên trời

lơ mơ trông phát nản

Ngươi hỏi vợ con ta

thừa cơ ta tả oán

vợ con mà nghe ra

chắc chẳng buồn sống nữa

 

lâu ngày không gặp nhau

ngồi gần hết buổi tối

ta về lòng lao xao

cả đêm không ngủ được

(Buổi Tối Ngôi Nhà Diễm Châu)

 

Chữ lao xao của anh, hay quá. Nhiều người cho rằng Du Tử Lê có khuynh hướng tượng trưng và siêu thực, nhưng thật ra giữa các nhà thơ ở miền Nam, thơ anh là một tiếng nói rất hiện thực. Đó là sự phản ảnh đời sống một cách giản dị, không bay bướm, mà vẫn hết sức tài hoa. Khác với những bài thơ của người xưa, viềt về tình bạn trong trạng thái tĩnh, người đọc có thể nhận thấy trong thơ anh một trạng thái rất động. Điều đó có được là nhờ tác giả không chỉ vẽ lại một bức tranh, chủ yếu bằng các danh từ và tĩnh từ, mà còn mô tả các động thái và các biến chuyển tâm lý, với việc sử dụng nhiều động từ trong bài thơ này: đi, cười, pha cà phê, ngồi nằm, ngửa lên trời…

 

Khác với tình yêu, có hạnh phúc cao ngất và đau thương khổ nhục, với những đầy đọa và chia ly, mà sự ra đi của nó để lại bóng tối phủ đầy cuộc đời , tình bạn trong Du Tử Lê ngọt ngào đầy đặn, không khi nào vơi. Anh chạm đến ơn phước, sự thấu hiểu, niềm thanh thản mà tình yêu, và nhục dục, không thể mang lại được. Tình bạn như một dòng sông thu hút về phía mình những dòng suối nhỏ, rồi dẫn ra đại dương không bờ bến, mãi mãi nuôi dưỡng người làm thơ để anh ta lớn lên mà vẫn cứ là mình. Mặc dù chưa từng hỏi Du Tử Lê, tôi đoán rằng anh rất được bạn bè yêu mến. Có điều chưa chắc rằng anh đã biết là bạn bè quanh anh thấy được ở anh nhiều điều rõ hơn là chính anh tự thấy ở mình.

Thấy được ở anh điều gì? Một trái tim mỏng manh yếu đuối. Một tâm hồn chân thật dại khờ? Một người rất cẩn trọng và lịch lãm trong giao tiếp xã hội nhưng thật thà giản dị trong đời sống riêng tư? Một người bạn vừa dễ tính vừa khó tính?

Nhưng sao Du Tử Lê nhớ bạn bè tha thiết đến thế? Tôi để ý dưới nhan đề của các bài thơ thường có sự đề tặng một người bạn hay một người quen nào đó. Khi thì Nguyên Sa. Khi thì Diễm Châu. Khi thì Huy Tưởng. Khi thì một tên tuổi mà người đọc không nhận ra như VT. Đông, G. Hàm, Nguyễn Bá Sanh, Lộc, Thủy, Đăng Khánh, Toàn Bò, Đinh Cường, Ngô Đình Ngân và vân vân… Như một quy luật ở đời, có cho đi thì có nhận lại, mặc dù người cho không hề có dự kiến đó. Có phải vì anh thường nhớ bạn nhiều nên thường có xúc cảm mạnh, có xúc cảm mạnh nên có thơ hay.

Nhớ lại trong đêm nay

nửa đời qua thoáng chốc

bạn bè như lá cây

rụng giữa mùa rất biếc

(Nhớ lại trong đêm nay)

 

Mỗi người đàn ông đều là con của người mẹ, nghĩa là một người nữ. Nhưng tình mẫu tử vẫn không làm cho người đàn ông gần gũi hơn được với phái đẹp . Lìa khỏi bào thai, đứa bé trở thành con trai, rồi người đàn ông, vĩnh viễn cô đơn trong cuộc đời. Họ tìm đến với nhau là phải. Ngẫm nghĩ về tình bạn của nam giới, có nhiều điều thú vị.

I drink too much. My wife threatens separation.

She won’t "nurse" me. She feels "inadequate."

We don’t mix together.

(John Berryman)

 

Vào lúc yếu đuối nhất, người đàn ông thua cuộc đầu hàng. Ở nơi có sự đầu hàng, Thượng đế sẽ đến. Và ngài dắt theo một người đàn ông khác.

Trong thơ, tình bạn còn là ẩn dụ lớn. Qua một người bạn, ta có thể thấy hiện ra một người phụ nữ, hay một thế hệ, hay một quê hương. Hay chính là nhà thơ. Gọi là ẩn dụ, vì khác với nhiều bài thơ khác trong đó tác giả thường dùng chữ "tôi", và nói về mình, những bài viết về bè bạn, nhà thơ thường lùi lại, trở thành cái bóng của bạn mình. Về mặt thẩm mĩ, đây là sự khôn ngoan cần thiết. Ta đọc thấy trong những bài thơ của anh nụ cười tủm tỉm, cái nheo mắt chân tình, sự dễ dãi và phóng khoáng rất đàn ông. Người đọc không cần phải gặp Du Tử Lê ở ngoài đời cũng có thể đọc trong thơ anh, và lại có thể đọc giữa các dòng chữ (between the lines) một cõi tâm tư sâu nặng tình đời.

Tôi thích nhất là bài thơ anh viết về Phạm Nhuận (Montreal, Canada). Sau Tống Biệt Hành của Thâm Tâm và Hành Phương Nam của Nguyễn Bính, tôi chưa thấy bài hành nào có giọng điệu ngân nga, tráng lệ, bi thiết mà lại hàm chứa cảm xúc cụ thể và ngôn ngữ giản dị, trực tiếp và chân thật như vậy.

Ngươi na ký ức về ngang phố

Cất tiếng cười khua rộn núi, sông

Trĩu hai tâm thất mưa năm biển

(riêng biển sau cùng: bạn tứ phương)

 

Ta với ngươi: tiêu! biệt xứ này

Đâu cần quá chén mới nghe say

Hớp chung từng hớp đời dung, tục

Dàn dụa quê nhà: mươi ngón tay

 

Ta biết ngươi quen sống bất cần

Chẳng nghìn tân khách?- cũng vài trăm

Người xưa bại sản vì mê bạn

Ngươi gớm hơn nhiều!- đợ cả con

 

Kẻ sĩ từ lâu lặn hết rồi

Ngươi còn / trơ trọi / bóng / đêm / thôi

Ai không nín thở qua cầu chứ ?

Ngươi vác hoài cây thập giá đời

 

Chí cả nong đầy những vỏ không

Ngươi còn cật vấn chi dòng sông?

Trái tim Quảng Đức xưa không nát

Ngươi nát từ lâu: một tấm lòng

 

Thì ngươi Tạ Tốn khi danh, lợi

Xõa tóc khuya / rừng / gió / hú / khan

Quạnh hiu: vết chém sâu ngang, dọc

Ngựa hất bờm: chê hẹp cánh đồng

 

Áo cơm chuyện nhỏ giờ sao nặng

Đất nước đôi lần cũng nhẹ, tưng

Ồ! Ta hiểu chứ đời co, cụm

Mọi điều hóa giá chỉ ngươi không

 

Hảo hớn ư?- ngươi. Được mấy người

Lỡ niềng quanh cổ nghiệp tay chơi

Đến như giọt rượu không lưu vết

Sống hết ga. Rồi: đi thảnh thơi

 

Mai này thế kỷ sang trang khác

Chẳng có ai thừa hơi hát ngao

Bài ca người vác vây thập giá

Dù, đất còn cho trái ngọt, mù.

(Bài ca người vác thập giá, khai sinh ghi tên, họ: Phạm Nhuận)

Anh Du Tử Lê, có phải là: giữa những tấm gương của bè bạn, anh soi mặt mỗi đêm, giữa những cánh tay thân hữu, anh tự làm mới mình mỗi ngày? Lạ một điều là Du Tử Lê thường chạm đến sự tuyệt vọng khi anh nói về cuộc đời, nhưng tôi lại thấy ở đó, giữa hai dòng chữ của anh, tiếng vang của một niềm hy vọng mơ hồ, hồi hộp, thì thầm bất tận, như tiếng chuông ngân nga giữa những luống hoa. Có phải vì người đàn ông càng tội nghiệp, thì càng đáng yêu, anh ta càng chối bỏ, lại càng thiết tha quay lại. Hay là vì cả một thế hệ của chúng ta đều hoài bão một điều gì mịt mù mà rất thật.

Năm mươi tuổi: chúng tôi không tuổi trẻ

Thiếu quê hương: phế bỏ võ công mình.

 

Tôi nhớ đến cuốn tùy bút Thiếu Quê Hương của Nguyễn Tuân. Nhưng ở Nguyễn Tuân chỉ là nỗi cô đơn của kẻ xa nhà tạm bợ, giang hồ ngắn ngày. Du Tử Lê và bạn bè của anh không được may mắn như thế: họ là những đứa con đẻ rơi của một người mẹ mang thai trong binh lửa. Nhưng tôi vẫn không tin rằng thế hệ của họ không có tương lai, mặc dù có thể không gần, nhưng chưa chắc đã xa. Một tương lai văn hoá và tâm thức.

Tình bạn là một tâm hồn đơn nhất cư ngụ trong hai cơ thể (Aristotle). Nghệ thuật tình bạn vốn là một trong những khía cạnh chủ đạo trong đời sống các nhà thơ xưa, như được thể hiện trong thơ Đường và thơ haiku, ngày nay đã hoàn toàn phai nhạt ở nhiều người. Trong những thời kì đen tối về chính trị, đầy những đàn áp và nghi kỵ, thật dễ hiểu là con người trở nên ít dũng cảm hơn. Nhưng ở nơi nào thiếu sự quả cảm, tình bạn chân thật thường không ghé qua.

Giống thú lớn hiếm hoi dần, tuyệt chủng

Đời sống lưu vong cũng là một nhân tố khác, làm bật gốc rễ của các cộng đồng như phố phường, làng xóm, thôn xã, bà con thân thuộc. Cây tình bạn cần cắm rễ sâu vào đất, và cần thời gian để ra hoa kết trái. Trong vài chục năm qua đời sống đầy thay đổi của người Việt Nam làm cho đất không đủ sâu, tháng năm không đủ chín, lấy đâu ra tình bạn của người xưa? Tôi đã gặp rất nhiều người không có bạn thân, không có nhiều bạn, hay không có bạn nào cả, bất kể họ giàu hay nghèo, sung sướng hay đau khổ, có gia đình hay ở một mình, ở mọi giai tầng của xã hội.Vậy mà đôi khi, một cách lẻ loi, một số người vẫn còn được may mắn ấy. Trong đó có Du Tử Lê. Nhưng thật ra nói cho cùng đó không phải là sự may mắn: một người biết quy tụ xung quanh mình nhiều người bạn là nhờ người đó có một lực quyến rũ đặc biệt. Điều này khác với việc anh ta có một tri kỉ: đôi khi chỉ cần một thôi là đủ, và ở đây sự quyến rũ không có vai trò gì nhiều. Hai kẻ này cần một điều gì đó mà bạn không gọi tên ra được, gần như là một sự tự mình làm trống trải căn nhà của mình, các cánh cửa đều mở hết ra vì nắng gió. Đọc Du Tử Lê, tôi có ấn tượng anh sống rất vui với bạn bè, chia sẻ với họ nhiều điều, nhưng trong thẳm sâu bao giờ cũng cần mẫn chăm chú lắng nghe tiếng bước chân của một người nào đó, một kẻ tri kỉ mà anh đang chờ đợi ở cuối chân tường đời sống, hay bên kia chân trời, và tiếng bước chân nhiều khi chỉ là tiếng lá rơi.

Tôi máng hồn trên lối bạn đi

Ngày sau chưa chắc có ai về

Sáng ra hành lý vào phương khác

Nhớ bạn. Bàn tay thẹo ngón khô

 

Chúng ta không sinh ra giữa bạn bè như sinh ra giữa bà con cha mẹ anh em, chúng ta tạo dựng nên họ, bồi đắp cho họ, nuôi dưỡng họ. Chúng ta mang lại cho bạn bè của mình quà tặng của chúng ta, tấm lòng chân thực đầy tin yêu của chúng ta, kí ức và di sản tinh thần của chúng ta. Du Tử Lê là người biết sống lăn lộn trong bụi bặm của đời người, trong chiến tranh, trong công việc. Chúng ta nhận thức nhau trước hết là qua công việc, điều này đến lượt nó lại biến đổi chúng ta mỗi ngày. Tình bạn không đến từ những bó hoa, chúng đến nhiều hơn từ mồ hôi, từ lao động, từ gian nan suy nghĩ cùng nhau, từ những hy sinh cùng nhau cho mục đích chung. Các nhà phân tâm học tin rằng tình yêu và công việc vốn dĩ có cùng một bản chất. Nếu đúng như thế, tình bạn hay tình huynh đệ cũng phải đến từ công việc hay những thử thách của đời thường. Chiến tranh là một thứ công việc đặc biệt, vì vậy không có gì ngạc nhiên là những người lính xông pha trận mạc thường giàu có tình bạn hơn ai hết.

Gió mưa tôi vẫn về hiên bạn

Chiều hôm ai gọi miết ven sông

Những cây lau dập-bầm-ta-thán

Trông lại, chàm xanh đã nở bông

 

Chúng ta hãy nghe Du Tử Lê nói về một đoạn đời của anh những ngày đầu định cư ở Hoa Kỳ, trong bài viết "Đi với về: cũng một nghĩa như nhau", từ tập "Giờ điểm danh cuối cùng của những cậu học trò trên sáu mươi tuổi", cùng in chung với Hoàng Sỹ, 2006:

"Tôi cũng không cho là "tình cờ", khi Võ Thạnh Đông chia tay tôi, đi "tỵ nạn tình cảm" ở New Orleans…Đặng Thanh Phong "ra riêng", sau vài tháng được hãng Continental Airline, tuyển làm chuyên viên cơ khí, phi trường Los Angeles, Lê Giang Trần cũng tìm đến những khoảng trời cao, rộng để thỏa khí "bình sinh".

Người còn lại, ở với nghiệp báo, ở với tôi lâu nhất, lại chính là chàng "lính thú" thư sinh ngày nào. Trần Duy Đức không chỉ ở với thăng, trầm của tờ Tay Phải, rồi tuần báo Nàng, (mà,) Trần Duy Đức còn ở với những sấp, ngửa, dập, vùi đời riêng, tôi nữa.

Tuy nhiên, cách gì, đó cũng là thời gian hạnh phúc nhất của chúng tôi: Khi Đức còn quá trẻ; và, tôi, tuổi bốn mươi bước tới.

Tôi cũng không cho là "tình cờ", khi có một thời gian khá dài, căn nhà đường Ranchero Way, chỉ còn tôi Đức. Rất nhiều ngày tôi đứng bếp, làm cơm với hai món thịt kho và, trứng tráng…Buổi tối, ngồi dưới chùm đèn nơi chiếc bàn ăn thênh thang, chúng tôi vừa ăn, vừa cố mang lại cho nhau, những câu chuyện, như những lời an ủi (hay tự dỗ dành, phủ dụ,) cảnh đời đìu hiu, chiếc bóng, của nhau. Nhưng, càng cố bao nhiêu, chúng tôi càng thấy rõ hơn chiếc bóng mình, rớt, ngã trên mênh mông vắng, lặng; trên hoang phế, ê chề ghế trống. Những giây, phút không biết nói gì, chúng tôi đối mặt với trái núi im lặng. Cái im lặng trì chiết, đá tảng. Cái im lặng nổi rợn niềm quạnh vắng, heo hút thân phận, cảnh đời…Đôi lúc, tôi tưởng nghe được, hơi thở của nhau. Đôi lúc, tôi tưởng nghe được, cả sự nuốt xuống, nghẹn lại, của những hạt cơm gạch, ngói !?!"

 

Đây cũng là giai đoạn mà Du Tử Lê làm được nhiều bài thơ hay, giàu chất hiện thực. Bên cạnh cuộc sống mất thăng bằng, ngổn ngang trăm mối ở vùng đất lạ, cuộc chiến tranh chấm dứt đã lâu vẫn còn tiếp tục ngân nga tiếng nói của nó giữa những người Việt Nam, vẫn còn là ác mộng của những người ở bên này hay bên kia chiến tuyến. Kẻ trở về từ trò chơi của nó không bao giờ tìm lại được căn nhà xưa của mình, bạn bè cũ, giếng nước đầu hè, con ve nhỏ hót vang trong đám cỏ khâu chân mộ, tự mình là người làm chứng duy nhất cho mình ngày trở lại. Người đàn ông biết rõ hơn ai hết cuộc đời là buồn, sự mất mát là lớn lao, nhưng điều này không hề ngăn họ tiếp tục thực hiện những bổn phận của đời sống, không ngừng tìm đến nhau, tập hợp lại, làm việc cho một tương lai mà họ tin là có thể tốt đẹp hơn.

Hãy ngắt một lá sông
Mọc giữa lòng lũ xiết
Tặng cho núi điềm nhiên
Giữa thác, ghềnh sống, chết 

Hãy ngắt một giọt vui
Đẫm mồ hôi thế sự
Năm chín năm ui ui
Mình ên như lịch sử

(Bài Thân, Tâm: Học Từ Bạn Tôi và Bùi Vĩnh Hưng) 

Nguyễn Đức Tùng
Canada

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Năm 20214:04 CH(Xem: 153)
"Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ." (NTV)
26 Tháng Tư 20215:05 CH(Xem: 610)
Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư. {Bây giờ} Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.
17 Tháng Tư 202112:36 SA(Xem: 823)
Trong cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, của Trần Mai Hạnh (đăng nhiều kỳ trên tuần báo Văn Nghệ từ số 12 ra ngày 18.3.2000), tác giả tưởng tượng ra cuộc đối thoại như sau giữa Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 và viên Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà nẵng: “An Phran-xít xộc vào giữa lúc Trưởng đang hối thúc đám tay chân thân tín tiêu hủy tài liệu. Thấy An Phran-xít, Trưởng không trịnh trọng bước tới bắt tay như mọi khi mà chỉ cất tiếng chào: - Xin chào Ngài Tổng lãnh sự! Tôi tưởng Ngài đã ra đi. - Sân bay hỗn loạn. Không một máy bay nào lên xuống được. Người của tôi đi chưa hết. Không một ai giúp tôi. Tôi phải can thiệp và tụi lính của ngài đã xông vào hành hung tôi.
15 Tháng Tư 202112:16 SA(Xem: 737)
Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» ..., tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào.
29 Tháng Ba 202111:52 CH(Xem: 1108)
JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962 Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.
25 Tháng Ba 202110:32 CH(Xem: 931)
Cách đây hơn hai chục năm, tôi có được xem một bộ phim tài liệu nghệ thuật (nhựa màu 3 cuốn) về chân dung nhạc sĩ Văn Cao, và có một tình tiết khiến tôi bị ám ảnh mãi - không phải vì sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mà bởi sự thiếu "sang trọng" rất phản cảm của nó: những người làm phim đã buộc nhạc sĩ ngồi bên cây đàn piano, giơ cả hai khuỷu tay đập mạnh vào phím đàn như một người mất trí, hoặc căm hận ai đó, và không chỉ một lần! Người nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng tôn trọng phương tiện nghệ thuật của mình, trong thực tế không ai làm như vậy!
09 Tháng Ba 20212:38 CH(Xem: 1345)
Nếu Picasso có mặt, tôi đoan chắc ông sẽ vẽ bức tranh sự thật từ cái lỗ đạn trên vai áo người mẹ Đồng Tâm này. Nếu nghệ sĩ Damien Hirst chứng kiến phiên toà, ông sẽ đem tượng đồng Verity (Sự Thật) từ cảng Ilfracombe xa xôi về đặt giữa lòng Việt Nam. Bởi chỉ nơi này mới có hình ảnh người mẹ bằng xương bằng thịt đứng hai chân trên hàng tá sách luật, tay cầm thanh gươm công lý, bụng mang hình hài Việt Nam.
26 Tháng Giêng 20218:20 CH(Xem: 1681)
Dẫn nhập: Cuộc đời 88 năm của GS Hoàng Tiến Bảo quá phong phú và đa dạng, phải cần tới một cuốn sách mới có thể phác hoạ được một chân dung đầy đủ về Thầy. Đây chỉ là một bài viết ngắn xen lẫn với cả những điều riêng tư, nhân dịp Tưởng niệm 101 Năm ngày Sinh của Thầy. Với tất cả sự thận trọng, người viết mong rằng bài tưởng niệm này, có thể chưa đầy đủ nhưng sẽ không có các chi tiết sai lạc. Cám ơn GS Trần Ngọc Ninh, GS Đào Hữu Anh, cùng các Bạn đồng môn từ các khoá Y khoa Đại học Sài Gòn đã cung cấp cho tư liệu, hình ảnh và cả những thông tin còn nhớ được qua các cuộc nói chuyện trao đổi để có thể hoàn thành bài viết.
23 Tháng Mười Hai 20201:43 SA(Xem: 1607)
Trong không khí se lạnh của mùa Giáng sinh, mùa hồng ân của thiên chúa tôi muốn gởi đến bạn đọc tâm tình của tù nhân lương tâm Trần Hoàng Phúc. Trong cái không gian hẹp của một mùa Noel bị cách ly vì đại dịch, Phúc giống như một vì sao nhỏ lấp lánh trên nền trời đêm kia. Và ước mơ của anh cùng những gì anh nghĩ, những gì anh làm khiến cuộc sống vì anh mà có ý nghĩa.
26 Tháng Mười 202011:50 CH(Xem: 1924)
Phiên toà xử người dân Đồng Tâm cùng cái án tử hình, chung thân dành cho con cháu cụ Kình đã phủ xuống tâm trạng u ám cho tất cả chúng ta. Nhưng sự việc không dừng ở đó, công an đã bắt giam nhà báo Phạm Đoan Trang, đồng tác giả của ấn bản “Báo Cáo Đồng Tâm”. Đây là một ấn phẩm song ngữ Anh-Việt nhằm công bố với dư luận quốc tế về tội ác của lãnh đạo CS trong vụ án tranh chấp đất đai với người dân tại Đồng Tâm.