- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGUYỄN DU VỚI NGƯỜI ĐẸP DƯƠNG QUÝ PHI

08 Tháng Mười 20219:37 CH(Xem: 32173)


 tien-phong-duongquyphi1-987

 

 

NGUYỄN DU VỚI NGƯỜI ĐẸP DƯƠNG QUÝ PHI

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

Để trả lời một bà TS. văn chương đang làm dậy sóng công luận vì miệt thị  “phái đẹp”:

 


Trong toàn bộ thơ văn chữ Hán, chữ Nôm của Đại thi hào Nguyễn Du, có một kiểu/ loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt được ông thể hiện với cảm hứng thi ca và nghiệm sinh sâu sắc - đó là những người phụ nữ Tài - Sắc mà số phận bất hạnh, những “má hồng phận mỏng”, những giai nhân bạc mệnh, “hồng nhan đa truân”, phải chịu số phận “Tài Mệnh tương đố” với lời nguyền ác nghiệt: “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”… Cần khẳng định ngay một điều là, cái vẻ đẹp bí ẩn, quyến rũ, cuốn hút, thấm đẫm hồn cốt phương Đông kèm theo tài hoa hiếm có của họ, với Nguyễn Du là “chất ngọc quý” của đời, như một giá trị mang tính nhân bản - dù họ ở tầng lớp con hầu, kỹ nữ dưới đáy xã hội, hay ở bậc nữ hoàng, phi tử cao vời… Đó là những “nàng Kiều” Việt Nam: cô ca nữ trong “Long Thành cầm giả ca”, cô ca nữ trong “Điếu La Thành ca giả”, cô ca nữ trong “Ngô gia cựu đệ ca cơ”; là những “nàng Kiều” Trung Hoa: nàng Tiểu Thanh trong “Độc tiểu thanh ký”, hai bà vợ vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh (con gái vua Nghiêu) trong “Thương Ngô tức sự”, “Thương Ngô mộ vũ”, “Thương Ngô Trúc Chi ca, kỳ tam”, vợ con Lưu Thời Cửu, Thái Diễm Văn Cơ, Trác Văn Quân trong “Tam liệt miếu”, chị em Đại Kiều - Tiểu Kiều trong “Đồng Tước đài”, Dương Ngọc Hoàn trong “Dương phi cố lý”… Có thể nói, họ là những “nguyên mẫu”, là sự gợi ý, là nguồn cảm xúc và chất liệu đặc biệt để ông tạo ra nhân vật Kiều trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” bất hủ.

Theo chúng tôi, trong một lần “Bắc hành” qua Trường An, trong thân phận “tấm thân côi cút sống trôi nổi giữa vòng trời đất” (Lục xích phù sinh thiên địa trung- Mạn hứng 2), Nguyễn Du đã viết các bài thơ: “Mạn hứng 1,2”, “Dương phi cố lý”, “Bùi Tấn công mộ”, “Phân Kinh Thạch Đài”. Các địa danh trong những bài thơ trên không nằm trong chặng “Bắc sứ”. Nhưng xưa nay, các học giả không biết đặt chúng vào giai đoạn nào trong cuộc đời của nhà thơ. Các ông Bùi Kỷ, Lê Thước, Đào Duy Anh tuy xếp bài “Dương phi cố lý” vào tập “Bắc hành tạp lục” cũng cho rằng: Nguyễn Du cùng sứ đoàn trên đường lúc đi cũng như lúc về không đi qua Thiểm Tây, và không thể đến làng cũ của Dương Quý phi. Ông Trương Chính băn khoăn: “Trên đường đi sứ, nhà thơ không lên Thiểm Tây. Chưa rõ tại sao bài thơ này lại sắp xếp vào chỗ này?” (tức bài số 42, Bắc hành tạp lục)(1). Ông Nguyễn Văn Hoàn nêu ý kiến: Nguyễn Du không phải nhất định phải “đối cảnh sinh tình” mà có thể “ngưỡng vọng” từ bất kỳ nơi nào đó mà vịnh sử(2). Như vậy, phải chăng vì quan niệm Nguyễn Du chỉ có một lần “Bắc hành”, các nhà nghiên cứu lão thành đều nhất loạt cho rằng: nhiều bài thơ của Nguyễn Du viết về các địa danh lịch sử, nhân vật lịch sử Trung Quốc đều rất có thể làm theo kiểu “trướng vọng” từ xa? Sự thật thế nào, chúng tôi xin được phép bàn trong một bài khác.

Về mối tình sử tạo nên bao giai thoại có kết cục thảm khốc của Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi (Ngọc Hoàn, Thái Chân) đã có hàng trăm bài viết miêu tả, bình luận từ xưa tới nay, nhiều lần được đưa lên sân khấu và màn ảnh lớn - nhỏ. Đường Minh Hoàng là vị hoàng đế thứ 6 của nhà Đường đã đưa triều đại này đạt tới đỉnh cao thịnh trị. Ông còn là một vị hoàng đế có tâm hồn nghệ sĩ tài hoa, làm thơ, soạn ca nhạc và điệu vũ. Còn Dương Quý phi là một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa, ái phi số một của Đường Huyền Tông, là người rất lãng mạn, thông minh lanh lợi, đàn hát hay, nhảy múa giỏi, nổi danh với điệu múa "Nghê thường vũ y khúc". Bà cũng là người không tham quyền thế. Vẻ đẹp, chuyện tình và số phận của bà có lẽ hơn ai hết điển hình cho cái quy luật trớ trêu: “hồng nhan bạc mệnh”. Năm 757, sau 2 năm Dương Quý phi bị quan quân nhà Đường giết chết trong loạn An Sử, khi Đường Túc Tông dẹp xong loạn, Thái Thượng Hoàng Đường Minh Hoàng cho người xây lại mộ cho quý phi (mộ gió). Hiện tại mộ của Dương Quý phi ở tỉnh Thiểm Tây, cách thành phố Tây An 60 km (xưa là Tràng An, kinh đô nhà Đường), trở thành di sản văn hoá cấp tỉnh, một điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

Mối tình của Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi là cảm hứng cho rất nhiều tác giả văn chương Trung Hoa suốt hơn nghìn năm, nổi bật nhất là Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn, v.v. Bạch Cư Dị viết “Trường hận ca” tuyệt tác: Xin kết nguyện chim trời liền cánh/ Xin làm cây cành nhánh liền nhau/ Thấm chi trời đất dài lâu/ Giận này dằng dặc dễ hầu có nguôi… Ba nghìn cung nữ bao người/ Mà lòng yêu dấu riêng nơi một nàng (Tản Đà dịch). Lý Bạch có ba bài “Thanh bình điệu” ca tụng sắc đẹp của Ngọc Hoàn: Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng/ Gió xuân dìu dặt giọt sương trong/ Ví chăng non ngọc không nhìn thấy/ Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông (Ngô Tất Tố dịch). Dương Quý phi cũng trở thành đề tài cho văn học, hội họa, âm nhạc từ xưa tại các nước Á Đông như Nhật Bản, Cao Ly, Việt Nam, v.v.

Bài thơ “Dương phi cố lý” của Nguyễn Du xưa nay ít được nói đến, hay chỉ được điểm sơ qua trong các bài nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Du hay về thơ chữ Hán Nguyễn Du (Trừ một bài rất dài và uyên bác của GS-TS. Trần Ngọc Ninh, song có điều, hình như ông chỉ mượn bài thơ này để minh chứng cho những quan điểm mỹ học, triết học của các tác giả phương Tây).(3)

(4)






西


DƯƠNG PHI CỐ LÝ


Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,

Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến,

Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình.

Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,

Đông phong thành hạ bất thăng tình.


Dịch nghĩa

QUÊ CŨ DƯƠNG PHI


Mây núi lơ thơ, bờ sông hoa tươi sáng

Đây là nơi người ta nói rằng Dương phi đã sinh.

Bởi tại cả triều đình đều là người đứng im như ngựa gỗ

Khiến cho nghìn đời còn đổ oan cho người đẹp tội làm nghiêng thành

Cung Nam Nội cỏ cây hiu hắt, cỏ bồng mọc khắp

Đồng Tây Giao tịch mịch, gò đống đã san bằng 

Tìm đâu cho thấy những cánh hồng tan tác

Dưới thành gió đông thổi, khiến lòng ngậm ngùi không kể xiết


Dịch thơ:


Mây rừng hoa bến cảnh xinh xinh,

Nghe nói Dương phi đất ấy sinh.

Ngán nỗi cả triều đều lập trượng,

Oan thay đổ tội đến khuynh thành.

Cỏ cây Nam Nội đà man mác,

Gò đống Tây Giao cũng vắng tanh.

Tìm mảnh hoa tàn đâu chẳng thấy

Dưới thành gió thoảng xiết bao tình.

(Lê Thước - Trương Chính dịch)


Toàn bộ bài thơ đã được tác giả dùng một bút pháp độc đáo của văn chương trung đại để xử lý thời gian nghệ thuật: đó là phép “nghịch tự” (tự thuật đảo ngược) - từ hoàn cảnh hiện tại trở về quá khứ, rồi từ quá khứ trở về hiện tại để suy ngẫm, cảm xúc; bằng cách đó, thời gian như có độ lùi đáng kể, và như thế, không gian và sự suy tưởng được mở rộng trong tâm trí tác giả lẫn người đọc.

Liên 1. Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,/ Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh. Mây núi thưa thớt, hoa bên bờ sông rực rỡ -  Nghe nói rằng Dương phi đã sinh ở đất này…


Quê Dương phi ở làng Bồ Châu, huyện Vĩnh Nhạc, nay thuộc thành phố Tây An - tỉnh Thiểm Tây - một trong 4 kinh đô lớn của Trung Quốc, từng trải qua 13 triều đại. Tây An cũng là điểm cuối của con đường tơ lụa huyền thoại Trung Hoa, nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp; nơi có cung điện Hoa Thanh Trì do Huyền Tông xây dựng nhằm chiều chuộng người tình. Khi Nguyễn Du tới đây, cung A Phòng nguy nga nhà Tần đã từng bị đốt cháy hàng tháng trời, các cung nhà Hán, nhà Tùy, nhà Đường cũng chỉ còn nền gạch; cuối thời nhà Đường, kinh đô dời xuống Lạc Dương. Cảnh vật cố đô Trường An qua nhiều thế kỷ thăng trầm của các triều đại đã trở nên tiêu điều, hoa dại bên sông sáng rực lên giữa chốn núi sông thưa thớt vắng vẻ như làm nền cho lời truyền tụng mơ hồ “nghe nói” (kiến thuyết), lại càng làm tăng thêm sự tiêu điều, hoang vu vốn có.

Liên 2. Từ hiện tại ấy, tác giả dẫn người đọc quay trở về quá khứ, và lập tức đi vào ngay trung tâm sự kiện lịch sử, vào cốt lõi sự thật một cách khái quát và cũng rất cụ thể. Trong khi Nguyễn Du xót thương, bào chữa cho Dương Quý phi, ông đã “xâu táo” luôn những kẻ mày râu hèn hạ bằng thái độ miệt thị của mình: Tự thị cử triều không lập trượng/ Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành - Bởi tại cả triều đình đều là kẻ đứng im như ngựa gỗ - Khiến cho nghìn đời còn đổ oan cho người đẹp tội làm nghiêng thành!


Sách sử cho biết: Năm 755 An Lộc Sơn khởi loạn, chiếm kinh đô Trường An, thề quyết chiếm cho được Dương Quý phi, Đường Minh Hoàng đã đem nàng chạy sang đất Thục. Đến Mã Ngôi, ba quân nổi giận, không chịu đi tiếp, bàn nhau giết anh trai của Dương Quý phi là Dương Quốc Trung và ép vua giết Dương phi, vì cho rằng anh em nàng chính là nguyên nhân của mối loạn này. Vua năn nỉ ba quân tha cho Dương Quý phi. Quân sĩ tung hô vạn tuế nhưng không chịu đi tiếp. Các quan đại thần hết sức khuyên nhà vua nên dẹp bỏ tình riêng để chiều lòng ba quân, bằng không giặc đuổi đến nơi thì khó toàn mạng. Vua đành chịu, chỉ đứng yên mà khóc nhìn Dương Quý phi bị thắt cổ trên cây liễu trước sân chùa. Bấy giờ nàng mới 37 tuổi. (Trong một bộ phim điện ảnh của đạo diễn Trương Nghệ Mưu, các nhà làm phim đã cho Dương Quý phi uống thuốc độc tự tử, và chết trong vòng tay người tình sau một cuộc “mây mưa đánh đổ đá vàng”!)  


Tác giả dùng hình ảnh Không lập trượng (tức tám con ngựa phải đứng im trong hàng gậy lúc thiết triều theo phép tắc nhà Đường) để miêu tả thực sinh động và chính xác cái sự thật: cả một lũ triều thần ngu muội, bất tài, tham sống sợ chết mà buộc một người đẹp vô tội phải chết oan uổng! Khổ nỗi, ở đất nước ấy, từ xưa một định kiến ác nghiệt đã in hằn trong óc cả người dân thường: Loạn phỉ giáng tự nhiên, sinh ư phụ nhân - Loạn chẳng phải giáng từ trên trời xuống mà sinh ra từ đàn bà ( Kinh Thi, bài Chiêm ngưỡng).


Trong việc miêu tả chứa đựng sự mỉa mai, khinh miệt, phẫn nộ ấy dường có cả quan niệm về chân lý lịch sử của tác giả: Đường Huyền Tông mới là người phải chịu trách nhiệm trực tiếp và lớn nhất về loạn An Sử. Sau nữa, một hoàng đế vì muốn được sống sót mà vất bỏ người yêu cho số phận, không thể bảo vệ được người phụ nữ của mình, bất lực trước bọn quần thần đòi giết người mình yêu thương, thì liệu có xứng đáng với tình yêu và sự gửi gắm tính mệnh, sự đón chờ hạnh phúc của người đàn bà mà Bạch Cư Dị hết lời ngợi ca: Hồi mâu nhất tiếu bách mị sinh/ Lục cung phấn đại vô nhan sắc - Nàng đưa mắt mỉm cười, trăm vẻ đẹp hiện ra - Các phi tần trong sáu cung đều thành không nhan sắc (Trường hận ca)?

Liên 3. Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến/ Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình - Cung Nam Nội cỏ cây hiu hắt, cỏ bồng mọc khắp - Đồng Tây Giao tịch mịch, gò đống đã san bằng. 


Nam Nội là nơi Đường Minh Hoàng cho xây cung Hưng Khánh huy hoàng để cùng thưởng ngoạn với Dương Phi - nơi có suối nước nóng nhân tạo và đài ngắm trăng do các đạo sĩ dựng lên tạo ra một cung Quảng Hàn dưới trần, nay chỉ còn dấu vết ở cỏ cây xưa thưa thớt nơi nền móng, và cỏ bồng mọc hoang cao ngất bốn bề.


Còn ở trên cánh đồng Mã Ngôi tịch mịch tựa nghĩa địa ngoài cửa Tây (Tây Giao) của kinh đô Trường An, nhà thơ như còn nghe văng vẳng tiếng reo hò thú vật của binh lính và sự “ngậm miệng ăn tiền” đớn hèn của cả triều thần buộc Dương phi phải chết làm “lễ tế thần” cho những kẻ khát máu… Tất cả nay cũng đã bị san bằng không còn một vết tích (Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình). Và trong sự tịch mịch kia, chắc hẳn Nguyễn Du đã nhớ tới Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn - những nhà thơ đã xót thương, đồng cảm sâu sắc cho người đàn bà đẹp bất hạnh. Lý Thương Ẩn, tác giả thời vãn Đường với bài thơ “Mã ngôi” nổi tiếng đã “luận” về cái sự kiện khiến địa danh nhỏ bé này bước vào sử sách: Thử nhật lục quân đồng trú mã/ Đương thì thất tịch tiếu Khiên Ngưu - Ngày hôm nay sáu quân nhất tề dừng ngựa - Đêm hôm ấy, đêm thất tịch cười sao Khiên ngưu… Khi An Lộc Sơn phá vỡ Đồng Quan, Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý phi chạy vào Tứ Xuyên - đất Thục thì xảy binh biến: lục quân - đội quân của thiên tử đều dừng ngựa, giết Dương Quốc Trung, đòi vua trị cả Dương Quý Phi vì họ cho rằng đó là nguyên nhân của ly loạn, vua đành sai thái giám Cao Lực sĩ thắt cổ ái phi để yên lòng quân sĩ. Kết cục đó ở Mã Ngôi thực đối lập tương phản với với lời thề đêm thất tịch ở Điện Trường Sinh: “Trên trời nguyện làm chim liền cành, dưới đất nguyện làm cây liền cành”, đêm ấy, Đường Minh Hoàng mỉm cười ghé vào tai Dương Qúy phi: “Đêm nay sao ngưu Lang - Chức Nữ gặp nhau không biết vui thú đến thế nào! Đáng tiếc hợp ít ly nhiều, sao bằng hai ta đêm ngày đoàn tụ”; còn nàng ngậm ngùi nói: “Cõi đời hoan lạc rồi có lúc tan, sao bằng Ngưu Lang - Chức Nữ tuy lâu ngày mới gặp nhau nhưng mỗi năm còn được đoàn tụ một lần”, và “nói xong nức nở, lệ nhỏ như mưa” (Minh Hoàng tạp lục)(5). Trong bài “Mã ngôi” này, hai câu kết là một lời chất vấn: Như hà tứ kỷ vi thiên tử/ Bất cập Lư gia hữu Mạc Sầu - Cớ sao đã làm thiên tử đến bốn chục năm trời - Mà không bằng chàng họ Lư có nàng Mạc Sầu? Chua chát thay, hơn 45 năm (tứ kỷ) ở ngôi vị thiên tử mà không giữ nổi mạng người vợ tuyệt thế giai nhân, chẳng bằng mối tình sắt son chung thủy của đôi vợ chồng bình dân hạnh phúc đời Hán cách đó tám thế kỷ!


Liên 4. Hai câu cuối đóng lại bài thơ đồng thời mở ra trực diện toàn bộ nỗi niềm  tiếc thương của nhà thơ đối với một cuộc đời tài hoa nhan sắc mà bạc mệnh, mang âm hưởng thi ca của cả một đời sáng tạo chỉ coi chữ Tình là thiết yếu, là giá trị cao cả, là lẽ tồn tại chính: Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ/ Đông phong thành hạ bất thăng tình - Tìm đâu cho thấy những cánh hồng tan tác - Dưới thành gió đông thổi, khiến lòng ngậm ngùi không kể xiết… Nỗi buồn thương mênh mông đó của Nguyễn lại thêm một lần bước vào “mối hận Kim Cổ” (cổ kim hận sự) trong một trái tim luôn rớm máu, ngay cả những lúc thân phận ông phiêu dạt “chân không bén rễ mặc gió bay như ngọn cỏ bồng” (Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng - Mạn hứng 2)…

Có thể đem bài thơ này làm thao tác “chồng văn bản”(6) với bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” mà Nguyễn Du viết bên Tây Hồ - Giang Nam trong một lần “Bắc hành”, thương cho một kỳ nữ vào lúc Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư - Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang, mà tàn hồng - mảnh hoa tàn ở quê cũ Dương phi cũng chính là Chi phấn hữu thần liên tử - Son phấn có linh hồn chắc phải xót chuyện xảy ra sau khi chết… Hoặc “chồng văn bản” với bài “Điếu La Thành ca giả” viết ở Nghệ An khóc một người đẹp vắn số: Nhất chi nùng diễm há Bồng Doanh/ Xuân sắc yên nhiên động lục thành/ Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh/ Trủng trung ưng tự hối phù sinh - Như cánh hoa thắm từ cõi tiên xuống - Sắc đẹp uyển chuyển làm rung động cả sáu thành - Thiên hạ ai kẻ thương người bạc mệnh? - Dưới mồ, chắc cũng hối hận cho kiếp phù sinh…

Thế là, chúng ta chợt hiểu tâm sự chung của Đại thi hào trước những số phận tài hoa bạc mệnh - cái điều tạo nên sự độc đáo trong thi tài của ông: Cổ kim hận sự thiên nan vấn/ Phong vận kỳ oan ngã tự cư - Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời - Ta tự coi như người cùng một hội, một thuyền với nàng là kẻ vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng (Độc Tiểu Thanh ký).

Thái độ của Nguyễn Du trong “Dương phi cố lý” cũng chính là thái độ của Lý Thương Ẩn, của Bạch Cư Dị (câu đầu tiên của “Trường hận ca” là lời phê phán khá quyết liệt bản chất hiếu sắc coi khinh vận nước của bậc “Thiên tử”: Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc - Vua Hán, tức Đường Minh Hoàng trọng sắc đẹp, luôn nghĩ đến người làm nghiêng nước); và của Lỗ Tấn sau này trong thiên tạp văn “A Kim”: “Tôi không tin những chuyện như Chiêu Quân xuất tái có thể làm cho nhà Hán yên… cũng không tin Dương phi làm nhà Đường loạn lạc. Tôi cho rằng trong xã hội nam quyền thì phụ nữ quyết không thể có một sức mạnh lớn lao như vậy được, nước mất hay còn, người đàn ông phải gánh lấy trách nhiệm. Nhưng trước nay các nhà văn nam giới đại để đều đem tội bại vong đổ lên đầu nữ giới, đó thật là những anh đàn ông tồi, không đáng giá một đồng xu” (Trương Chính dịch)(7) .

***


Bài “Dương phi cố lý” của Nguyễn Du cũng khá điển hình cho thể thơ luật thi thất ngôn sử dụng thủ pháp lược bỏ đại từ nhân xưng làm chủ ngữ, dùng điển cố hoặc sự việc chọn lọc để tạo nên “sự tương giao giữa các chủ thể” hòa hợp với nhân vật trữ tình là tác giả(8). Bài thơ chỉ có 8 câu song lại đủ sức nối vào/ bổ sung cho cảm hứng “trường hận” của các văn - thi sĩ Trung Hoa nhiều thế kỷ đối với một mối tình đẹp mà kết cục đầy bi thảm; là tiếng nói của người “có con mắt nhìn thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân); và nó góp phần tạo nên “hợp âm chủ” cho cả một hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du - đó là tiếng khóc lớn cho bao nỗi “đoạn trường” của thập loại chúng sinh - trước hết là của bậc nữ lưu tài sắc - được tập đại thành trong kiệt tác “Truyện Kiều”.

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

_______

1. “Thơ chữ Hán Nguyễn Du”, Lê Thước - Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp. NXB Văn học, HN, 2012 (In lại theo bản 1965).

2. “Vấn đề văn bản và tâm thế đi sứ của Nguyễn Du trong Bắc hành tạp lục” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12 năm 2013, tr.23).

3. “Vị trí và ý nghĩa của bài thơ Dương phi cố lý của Nguyễn Du” - Trần Ngọc Ninh (California, Mỹ) - http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/4832-vi-tri-va-y-nghia-cua-bai-tho-duong-phi-co-ly-cua-nguyen-du.aspx

4. Dẫn theo “Nguyễn Du - Toàn tập”, tập 2, Mai Quốc Liên - Vũ Tuân Sán dịch nghĩa, giải thích. NXB Văn học HN, 2015

5. Theo “Thơ văn cổ Trung Hoa - mảnh đất quen mà lạ” - Nguyễn Khắc phi, NXB Giáo dục, HN, 1998, tr.160.

6. Phương pháp chồng văn bản của C. Mauron: “chồng lên nhau những bài thơ và tìm ra những liên tưởng, những ẩn dụ được lặp đi lặp lại như một ám ảnh” (“Phân tâm học và Phê bình văn học”. Liễu Trương: NXB Phụ nữ, HN, 2011, tr.157). Xem thêm: “Đại thi hào Nguyễn Du: Huyền thoại cá nhân về một hành trình sáng tạo nghệ thuật” - tạp chí KIỀU HỌC số 1

7.“Thơ văn cổ Trung Hoa - mảnh đất quen mà lạ”… Sđd, tr.164

8. “Về thi pháp thơ Đường”. Frangc,ois Cheng (Nguyễn Khắc Phi dịch) NXB Đà Nẵng, 1997, tr.110

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 253)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 230)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 423)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 371)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 507)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 630)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1109)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2048)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 630)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17721)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16770)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 422)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 507)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2048)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2565)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 370)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2436)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2791)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1109)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1651)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2425)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 253)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 230)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2272)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3100)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14424)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30493)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36775)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12192)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13534)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3962)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6000)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5476)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6042)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6688)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9002)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8296)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11235)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.