- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐUỔI THEO BÓNG NẮNG

23 Tháng Tư 201910:21 CH(Xem: 44997)



BAT NHAN
Bát nhang - ảnh Internet



Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh. Sau này, đất chật người đông, những cặp vợ chồng trẻ tuổi, nghèo khó như cha mẹ tôi ra đó tìm mảnh đất cắm dùi. Rất nhiều ngôi mộ liệt sĩ chưa biết tên được cha tôi làm lễ, quy tập thành một nghĩa trang riêng do chính bà con xóm núi hương khói. Chuyện gia đình, ngôi làng nhỏ bé của tôi là những nỗi đau thương nối dài không hồi kết. Tôi lớn lên giữa bốn bề sim mua lau sậy điểm xuyết những nấm mồ cỏ xanh ngắt vây quanh. Từ nhỏ, tôi luôn có những giấc mơ kỳ lạ, trùng lặp. Tôi mơ thấy một cô bé trạc tuổi mình, tóc tết đuôi sam mặc chiếc áo hoa đứng bên cửa sổ cười cười, đôi bàn tay nhỏ xinh đưa lên vẫy vẫy. Có lần lại thấy cô bé ấy đứng thẫn thờ mở to cặp mắt đọng nước gọi mẹ, gọi anh rồi đưa tay quệt ngang dòng nước mắt…

Những đêm cha ôm tôi trong lòng, đung đưa cánh võng, tôi thủ thỉ kể lại giấc mơ của mình. Cha bần thần nhớ lại: “Hồi cô Hà nhà mình mất, cũng trạc tuổi con bây giờ. Đó là buổi sáng tựu trường đầy nắng, từ hôm trước bà nội gom tiền bán chum vại mua cho cô chiếc áo hoa dưới chợ phiên. Cô đến trường trong tà áo mới nhưng vẫn tung tăng chân đất. Buổi trưa ấy, khi cả nhà đang theo thuyền đổ hàng trên thượng nguồn thì nghe tin bom Mỹ dội xuống trường làng. Tất cả thầy cô, học trò có mặt vào sáng tựu trường hầu hết đều vùi xác trong bom đạn. Cha về được đến làng, xuống trường tìm cô, chỉ nhận ra cô nhờ manh áo hoa ban sáng rách tả tơi lẫn giữa đống đổ nát hoang tàn. Tiếng kêu khóc, than van u uất cả vùng quê”.

Đó là ngày đại tang khắp miền quê nghèo khó bên dòng sông Mã. Tấm bia đá với dòng chữ đầu tiên “Thù này nhớ mãi không quên” tạc cùng ngày tháng năm và số người chết vì bom Mỹ được dựng lên ngay mỏm núi đầu làng tôi.

“Ngày 27 tháng 9 năm 1969, vào hồi 8 giờ sáng, đế quốc Mỹ đã cho nhiều tốp máy bay từ biển lao vào đánh phá. Sau những chớp lửa xanh lè là tiếng nổ ran, tiếng la hét kêu cứu từ các lán học sinh, ngõ xóm. Giặc Mỹ ném xuống quê hương ta 4 quả bom bi mẹ, chứa 1.280 quả bom bi con làm 68 người chết, trong đó có 44 em học sinh cấp 1, 70 người bị thương. Cán bộ, nhân dân các địa phương lân cận phải góp vải, hòm, ván hỗ trợ mai táng”.

Hàng loạt thi thể oan khuất lần lượt qua các cuộc mai táng ở bãi sông thành dãy dài những nấm mồ trông ra dòng nước cuộn trôi thao thiết. Đau thương chồng chất đau thương. Nhiều năm sau đó, chỉ bởi một giấc mơ của bà nội tôi thường xuyên thấy cô Hà trở về cười nói, khoe vừa chạy chơi từ bờ sông lên, gió còn thổi rung rinh mái tóc mà bà ngỏ ý với cả gia đình cứ để phần mộ của cô gần sông cho cô còn nghe trai gái làng hò sông Mã, nghe tiếng kẻng ông thuyền chài khua cá giữa đêm khuya và tiếng bước chân bộ đội hành quân về làng. Hài cốt của cô không được cải táng lên đồi cao như bao phần mộ của những người xấu số trong làng. Rồi trận lũ đỉnh điểm năm ấy đã san phẳng bến sông, gò bãi. Nước rút, nhìn lớp bùn bồi dày loang loáng phù sa, cả làng đều kinh ngạc, thất thần, bất lực khi gia đình tôi không thể tìm được phần mộ của cô Hà. Nước mắt bà tôi gần như khô cạn, tròng mắt cũng lòa dần cho đến lúc nhìn mọi thứ chỉ đỏ đục, lờ mờ một màu nước lũ.

***


Nhâm nói, trong gia đình, chỉ anh và một người anh họ tin rằng người bác ruột bị bệnh viện kết luận mắc chứng tâm thần. Nhưng trong tình yêu với vợ vẫn hoàn toàn tỉnh táo, vẹn nguyên. Tình yêu ông dành cho người đàn bà nhiều lần bỏ mình ra đi là thứ duy nhất, sau cuối còn tồn tại. Mấy người con gái, cháu chắt của ông gọi điện liên tục cho Nhâm để thông báo rằng, từ khi bác gái trở về, bác trai ngoài 80 tuổi vẫn cặm cụi giặt đồ cho vợ, cẩn trọng mắc lên dây phơi, cứ thế đứng hàng giờ nhìn áo quần nhỏ nước xuống sân, ráo khô và bay trong gió. Nắng đến đâu ông chống gậy ra sân dịch chuyển đám áo quần theo bóng sáng. ÔNg chờ đợi vợ ròng rã mấy chục năm trời thì việc chờ nắng đâu thấm tháp gì.

Bác của Nhâm từng là bộ đội, sau chiến tranh theo ngành sư phạm, thành thầy giáo dạy Vật lý ở trường cấp ba một huyện miền núi. Nhờ năng lực tốt, bác được cử đi học nước ngoài. Không ai hiểu chuyện gì đã xảy trong suốt vài năm ông xa vợ con họ mạc đi tu nghiệp, chỉ biết ông trở về với trạng thái sức khỏe, tâm lý bất thường, bỏ cả trường lớp, ở nhà làm bạn với khói bếp, bóng đêm. Ông gọi tất cả những ai nhòm ngó, trêu chọc, khuyên giải, can ngăn mình đều là “bọn tâm lý chiến”. Thuở nhỏ, Nhâm rất thích được bố mẹ đưa đi khỏi Hà Nội lên vùng tản cư thăm gia đình bác. Thực ra, với người lớn, đó là những cuộc trông nom, dò la bệnh tình rất căng thẳng. Nhâm chỉ thấy thú vị. Bác anh vẫn ngày đêm chế tạo ống nhòm bằng cách tự nấu thủy tinh, thất bại lại cắt hàng loạt bóng điện hỏng trong nhà làm kính lồi, kính lõm, nung chảy nhựa đường để gắn kết các chi tiết với nhau. Nhà bác ngổn ngang ống nhòm, có chiếc ống nhòm dài cả mét. Ông trìu mến gọi tên chúng là Quá Khứ, Tương Lai, Tình Yêu, Ký Ức… Nhâm và lũ trẻ đưa mắt vào đó, tầm nhìn xa đến cả cây số. Quá khứ tương lai đâu chẳng biết, ban ngày bọn trẻ nhòm vào thấy rõ những bóng người trên đê khom lưng thồ hàng xuống dưới xuôi bán đổi, ban đêm ghếch ống nhòm thấy trăng sao, dải ngân hà, cả chòm sao hình ông Thần Nông khom lưng tát nước. Thỉnh thoảng, ông lên cơn co giật, luôn miệng hú hét lệnh cho lũ trẻ: “Vào nhà ngay kẻo “bọn tâm lý chiến” nó nhằm thẳng vào mình. Không thấy mít ngoài vườn nó cũng cầm gậy đập cho rụng đi à!. Không thấy nó ném đá tảng vào giữa sân nhà à?”… Sau này, ngay cả việc bác dâu Nhâm bỏ đi, ham mê cờ bạc, bán sạch đất đai nhà cửa… với bác trai cũng chỉ là âm mưu của “bọn tâm lý chiến”. Ông luôn tưởng tượng về một thế lực nào đó đẩy vợ mình đi xa. Còn tình yêu họ giành cho nhau vẫn là nguyên vẹn.

“Những lúc tỉnh táo, bác anh luôn nói, nếu bác gái trở về, bác sẽ tha thứ hết mặc hai đứa con gái được ăn học đàng hoàng mà không hiểu chuyện, kệ lũ cháu chắt cứ nhấp nhẳng trách móc, tủi hờn. Ở cái phố núi nhỏ bé quanh co ấy, chuyện phức tạp trong một gia đình dưới xuôi lên tản cư như nhà bác cả vùng đều xôn xao. Người ta đồn đại, sau nhiều năm tháng đằng đẵng đợi chờ, hy sinh tuổi xuân, người đàn bà ấy đã không còn đủ kiên nhẫn sống bên người chồng tâm thần. Bà bỏ nhà đi theo người đàn ông khác, ngập chìm vào những cuộc đỏ đen. Có người về xuôi tận mắt trông thấy. Sự thể thế nào không rõ, nhưng việc bà hai lần trở về bán hai căn nhà của gia đình là có thật. Từ một căn nhà lớn mặt đường, bà bán đi mang theo toàn bộ tiền bạc có được. Họ hàng dưới xuôi thương hoàn cảnh ba bố con éo le, chia nhau nuôi giúp hai đứa con gái đang tuổi ăn tuổi lớn, gom góp tiền mua cho bác trai một căn nhà nhỏ hơn nằm sâu trong con ngõ. Sau thời gian mất hút, bà lại trở về tìm đủ cách bán tiếp căn nhà. Cuối cùng, một người họ hàng thân gần đành cắt một phần mảnh đất của gia đình, dựng căn nhà nhỏ để bác trai có chỗ trú mưa trú nắng. Nhà chật nhưng càng lúc càng nhiều ống nhòm. Người ta bảo, chứng tỏ bác ngày càng điên nặng. Gia đình anh đưa bác xuống trại tâm thần chỉ ngày một ngày hai lại tìm cách trốn về. Ngày qua ngày, bác gắn từng con mắt vào những chiếc ống nhòm nói rằng nhìn trong đó đôi khi thấy vợ với một bầy trẻ nhỏ ngày xưa. Anh luôn tự hỏi chính mình, nếu bác là người điên thực sự, lòng bao dung chờ đợi có đến mức cao cả, tôn thờ thế không?”, Nhâm nói với tôi trong buổi chiều đã cạn.

***


Làng tôi có ông Thư cụt, chuyên “cầm cái” đám lô đề cờ bạc khét tiếng cả vùng. Ông xóc đĩa bằng chính cái cùi tay cụt. Ông khoe, lúc nào cũng có lựu đạn bên mình, ai hỗn hào ông “xung phong” một tiếng là cháy rụi. Vợ con, thiên hạ đều biết đó chỉ là những quả lựu đạn giả được đẽo gọt, mài giũa, sơn màu như thật. Ông nửa giấu nửa khoe đeo sát mạng sườn. Lạ thay, mỗi lúc ông lên cơn điên loạn, dọa “rút chốt” thì mọi người đều chạy thục mạng. Chạy vì thoáng gặp hai đốm lửa đỏ ối lan dần trong đôi mắt ông. Dân cờ bạc đồn thổi, cái cùi tay cụt của ông điều khiển được hai đồng xu âm dương trong đó. Ông lên voi xuống chó cũng bởi cái nghề đen bạc rủi may. Riêng lũ con lít nhít chẳng được học hành gì, chúng luôn có câu cửa miệng: “Cụt như ông Thư nhà tao còn kiếm được bộn tiền, cần gì học”.

Có lần cha tôi kể, thực ra ông bị thương trong tình huống rất oái oăm. Nhập ngũ chẳng bao lâu, trong lúc huấn luyện, ông quan sát người chỉ huy làm động tác chậm mô phỏng quá trình ném một quả lựu đạn, đến khi thực hành bằng lựu đạn diễn tập, đầu óc bấn loạn thế nào, ông vẫn y nguyên động tác chậm ấy. Quả lựu đạn ông vừa rút chốt còn nắm chặt trong tay mới kịp vòng ra sau lưng đã “đoàng” một tiếng, nửa cánh tay nát bét ròng ròng máu tươi. Đồng đội cùng chiến đấu không ai nỡ kể lể câu chuyện ấy. Nhưng sau này, mỗi lúc ông dọa “xung phong” vẫn có người nói hờn nói mát. Với người lính như cha tôi, mất mát nào cũng đều là máu xương chiến trận. Ông thường nói, cũng có thể vì nỗi tự mặc cảm mà ông Thư chẳng thế nào đứng dậy sống tiếp cuộc đời tử tế. Ông là con trai độc nhất trong gia đình khá giả, noi gương thanh niên làng viết đơn bằng máu lên đường nhập ngũ. Ngày ông trở về, người ác miệng rêu rao: “Họ nhà ấy đến đời thằng Thư là mạt vận!”.

Từ ngày người đàn bà xa lạ kia về làng tôi, lao vào cuộc đỏ đen, ông Thư  cược theo và thắng lớn, gỡ gạc vốn liếng đã mất, mấy đứa con không học hành gì rủng rỉnh tiền chơi khăng đánh đáo và ăn kẹo bột bạc phếch môi. Đó cũng lần đầu tiên người làng tôi tận mắt thấy một người đàn bà ngồi chiếu bạc. Người ta bảo họa có điên mới thế. Bằng không là kiếp trời đày. Vậy mà ông Thư ngang nhiên tuyên bố sẽ lấy người đàn bà ấy làm lẽ. Người vợ quanh năm nín nhịn chỉ biết lén chùi nước mắt thuận theo. Từ bấy, bên chiếu bạc, cạnh cánh tay cụt thêm một cánh tay lành.

“Bà lo chuyện nhà mình đi, quan tâm gì cái thứ đàn bà thiên hạ lăng loàn ấy”, cha tôi trách mẹ sau cuộc họp gia đình vẫn đang ngồi bên bể nước nói chuyện nhà ông Thư với các cô, các bác trong họ mạc. Bà nội tôi vừa mở cuộc họp gia đình bàn chuyện tìm lại phần mộ thất lạc của cô Hà. Bà một mực nói rằng có thể hài cốt của cô vẫn ở quanh quất bến sông mà chưa xuôi theo dòng nước. Một lần đi lễ chùa, bà tình cờ gặp được người tự xưng là nhà ngoại cảm. Lời nói của họ trùng những gì bà thắt ruột nghĩ về đứa con gái út xấu số. Người ta hứa giúp gia đình lễ lạt, kêu cầu để tìm hài cốt của cô. Câu chuyện ấy khuấy đảo cuộc sống, tâm tư trong đại gia đình tôi. Chín người mười ý nhưng tất cả cùng kết luận cứ phải “vái tứ phương”.

Ngày thầy ngoại cảm làm lễ bên bờ sông, già trẻ gái trai làng tôi không ai vắng mặt. Sau một hồi xì xụp khấn vái, người ấy vung cây gậy trúc buộc lụa trắng khoanh tròn khoảnh đất có những cụm cỏ mần trầu xanh um đang mặc sức bò lan. Các anh họ tôi trực tiếp đào xới. Bỗng cả đám đông kêu lên thất kinh, phá vỡ không khí im ắng nín thở bao trùm khi nghe tiếng ai đó hô: “Có cốt”, “Là cốt trẻ con”, “Dùng tay đi, nhẹ nhẹ thôi kẻo vụn vỡ hết”... Đám người đứng vây quanh quỳ sụp xuống chắp tay vái lạy liên hồi, đan xen thêm tiếng kêu khóc, rền rĩ, nấc nghẹn. Bà nội tôi rên rẩm đầy tức tưởi: “Mẹ biết con chết oan khuất nên thiêng lắm mà!”.

***


Tôi quen Nhâm khi anh về làng tôi tìm người bác dâu nhiều năm bỏ nhà đi biệt. Buổi chiều ấy, anh đứng ngay phía sau tôi, lúc tôi thắp hương lên ngôi mộ mới cất đề tên cô Hà. Bác dâu Nhâm đã có bến đỗ mới, bà khước từ cuộc trở về với người chồng mắc chứng bệnh tâm thần. Nhâm nói, thời gian, bi kịch chồng chất bi kịch khiến tâm tính bà thay đổi, không còn là người phụ nữ chung tình, nhẫn nhịn ngày xưa. Tôi và Nhâm ngồi trên đồi cao, dõi mắt nhìn xuống dòng sông Mã.

Khi câu chuyện trở nên gần gụi như giữa chúng tôi được nối chung một mối tâm giao, Nhâm nói từng lời rủ rỉ.

“Từ ngày bác dâu bỏ đi, họ hàng nhà anh thay nhau lên chăm nom bác trai. Có lần, đến phiên cha anh lên ở cùng bác, ông giật nảy mình khi vừa sáng dậy đã gặp dáng người lừng lững của bác bước ra từ căn bếp toàn khói. Bác mặc chiếc quần lụa đen nhức của vợ, tần ngần trông ra ngoài nắng. Nắng lọt qua giàn cây, hắt bóng vào bác, màu đen nhức của chiếc quần đàn bà bỗng rực lên. Cha anh nhắc nhở khuyên can, con cháu bác buông lời cáu gắt, bác rơm rớm nước mắt đi thay quần, gấp chiếc quần của vợ lại, để ngay ngắn chỗ mình vẫn ngả lưng. Bác bắt đầu thở than: “Chung quanh tôi toàn bọn “tâm lý chiến”. Chả trách bà ấy đi mãi chẳng về”.

“Người nhà anh kể lại, khi bác mới nhập ngũ vẫn đều đặn thư từ về. Bẵng một thời gian không dòng tin, cả khu phố tang tóc khi giấy báo tử liên tiếp gửi về từng nhà. Ngày nào ông bà anh cũng đứng trên gác ngóng người đưa thư. Chỉ nhìn dáng bộ của họ đứng trước những cửa nhà là biết tin mừng hay tin dữ. “Thư nhé!”. Lời thông báo ngắn gọn từ người bưu tá vào một tối muộn lúc cả nhà đang bên mâm cơm đủ làm tất cả rộn ràng. Đáng tiếc, đó không phải thư của bác. Một lá thư có nội dung đề gửi từ chiến trường nơi bác đang chiến đấu, báo tin bác đào ngũ, bác là một kẻ hèn hạ, bán nước, bất lương... Chừng ấy cặp mắt hết nhìn xoáy vào bức thư lại ngước trông ban thờ tổ tiên với năm di ảnh liệt sĩ trong dòng họ. Đó là nỗi đau, nỗi nhục không gì gột rửa nổi. Ông nội anh lăn đùng, đột quỵ và qua đời không lâu sau đó. Lúc hấp hối, ông vẫn đinh ninh: “Nó không thể là thằng phản bội! Là cha nó, tôi hiểu chứ! Trời ơi!”. Hòa bình lặp lại, bác anh trở về trong bộ quân phục bạc màu. Có cả xe đưa tới tận nhà. Hai anh bộ đội đi cùng khoe từ đầu phố: “Bà con ơi! ra đón anh hùng”. Bác lập nhiều chiến công, chế tác cả vũ khí, ứng dụng đạn dược trong nhiều trận đánh. Còn lá thư nặc danh kia chỉ là một trong những trò “tâm lý chiến” của kẻ thù. Người đầu tiên bác gọi là ông anh. Chân dung người ruột thịt đầu tiên bác thấy cũng chính là tấm ảnh của ông trên ban thờ nghi ngút khói nhang”.

Tôi nói với Nhâm, từ nhỏ tôi đã luôn nghĩ về bóng nắng, như mảnh áo hoa chập chờn trở đi trở lại trong mơ. Bóng nắng ấy lan tỏa trong tôi cho đến tận bây giờ. Tôi luôn thấy cô bé đứng bên cửa sổ chìa tay về phía mình, chúng tôi nắm lấy tay nhau đuổi theo bóng nắng, chui qua những dây phơi áo quần, chỉ trỏ giàn hoa mướp vàng ươm, đuổi bắt ra đến tận bờ sông cát lấm chân phẳng mịn. Cô bé ấy lướt đôi chân nhỏ xinh trên mặt sóng, ra đến giữa dòng sông thì vẫy tay chào… Có lần, cũng cô bé ấy, toàn thân ngập chìm trong nước, bàn tay bé nhỏ huơ lên khoảng không...

Cũng chính Nhâm khi nghe chuyện gia đình tôi đã nói với tôi khi ấy mới là cô học sinh cấp hai rằng nên tiến hành xét nghiệm ADN cho bộ hài cốt mà cả gia đình tôi tin của cô Hà. Khỏi phải nói bà nội đã nổi cơn uất giận thế nào. Nỗi đau, linh cảm bấy lâu của người mẹ mất con khiến bà chỉ còn tin vào những giấc mơ cũng như cuộc gặp gỡ tình cờ với người xưng là nhà ngoại cảm. Bà chối bỏ, chì chiết mọi thứ lý lẽ, xác minh thuộc về khoa học. “Khoa học là cái chi chi, chỉ làm người đau thêm đau, người tủi thêm tủi thôi mà”, bà than khóc kêu trời. Tôi đưa Nhâm về gặp cha mình.

“Cán bộ pháp y sẽ lấy mẫu của người đã mất đối chiếu với mẫu của mẹ người đó nếu còn sống. Nếu mẹ mất thì đối chiếu với anh chị em ruột, không còn anh chị em ruột thì lấy mẫu của cháu con chị gái hoặc cháu con em gái. Mẫu của người đã mất không đối chiếu được với bố đẻ, cũng không đối chiếu được với con anh trai hoặc con em trai. Gene theo dòng mẹ gọi là gene ty thể sẽ được truyền qua năm đời còn gene theo dòng bố khi chôn xuống đất sẽ mất”, Nhâm chậm rãi giải thích với cha tôi. Nhiều năm qua, khi công việc đỡ bận rộn, anh theo các đoàn tình nguyện đi quy tập mộ liệt sĩ khắp dọc dài đất nước. Nhâm chứng kiến không ít cuộc nhầm lẫn dai dẳng, buồn đau, không ít người mẹ như bà nội tôi. Rốt cuộc sự thật vẫn phải trả về sự thật. Sau cuộc trò chuyện rất dài, cha đặt tay lên vai Nhâm vỗ chắc nịch: “Ở thời điểm này, tôi tin cậu!”.

***

Tôi hứa với Nhâm xong chuyến công tác miền núi sẽ ghé thăm hai bác của anh. Họ đón tôi từ đầu ngõ. Bác trai dẫn tôi tham quan khối gia tài là những chiếc ống nhòm có tên riêng.

“Cô biết không, uống thuốc đều mà đêm tôi vẫn ngủ chập chờn lắm. Cứ sợ bà ấy đi đâu thêm lần nữa. Ngoài kia, toàn bọn “tâm lý chiến” cả chứ chả đùa! Chúng đánh mình một lần là còn nhiều lần khác”.

“Trong đám con cháu, thằng Nhâm là đưa giống tôi nhất. Niềm tin cũng có di truyền đấy. Không niềm tin, “tâm lý chiến” vào là chết!”, bác của Nhâm nói với tôi bằng dáng điệu có vẻ rất tỉnh táo, tự tin.

Ban đầu, bác dâu anh đẩy về tôi cái nhìn rụt rè cảnh giác, sợ lại phải nghe những lời trách móc như bao ngày tháng sau cuộc trở về bà nhận từ láng giềng, họ mạc, con cháu. Đôi mắt bà trũng sâu nhìn theo bóng chồng đang chạy đua với bóng nắng ngoài dây phơi áo quần. Sự im lặng của tôi khiến bà có thể mở lời. Bà kể, bà quyết định rời khỏi nhà ông Thư không hẳn bởi ông vũ phu tối ngày đánh đập vợ lớn vợ bé hay lũ con chồng hỗn láo mà bà đi sau những đêm trăng sáng bên sông cứ nghe văng vẳng tiếng hò, tiếng bước chân thậm thịch hành quân, cả tiếng cười tiếng khóc... Nửa đêm bà ra miếu cầu an. Nơi đó từng tồn tại ngôi chùa lớn, nhiều lần bị bom Mỹ dội chỉ còn nền gạch đổ nát và những bức tượng đá bị chém khúc ngổn ngang. Sau chiến tranh, dân làng phục dựng ngôi miếu nhỏ. Trong đêm trăng sáng, gió đông hây hẩy hắt từ mặt sông, bà thấy một cô bé mặc áo hoa ngồi khóc nhờ dẫn về nhà với mẹ. Rất nhiều đêm lặp đi lặp lại như thế. Bà hỏi han, dân làng kể chuyện cô Hà. Họ kể thêm, sau cái chết của cô, trẻ con đến người lớn trong gia đình tôi không mặc áo hoa bao giờ. “Đến một đứa trẻ còn mong về nhà, tôi cớ gì có nhà mà rời bỏ?”, bác dâu Nhâm nghẹn ngào ngước đôi mắt đẫm nước nhìn tôi. Bà khóc nhiều như cái đêm gục bên nền chùa đổ.

***

Kết quả giám định ADN cho thấy, mẫu xương cốt dưới ngôi mộ đang đề tên cô Hà không có quan hệ huyết thống với gia đình tôi. “Vậy là nhà mình đã đưa một ngôi mộ vô chủ về thờ phụng hương khói?”, “Thế ông thầy ngoại cảm đó giờ biến đâu rồi”, “Sao trùng hợp thế được, đã bảo là cốt trẻ con mà?”, “Liệu phần mộ cô Hà vẫn ở bãi sông hay trước đây nhà khác đã cải táng nhầm?”… những lời nói thảng thốt như có nước vang lên trong ngôi nhà chật kín người. Bà nội tôi sau đận ngất lên ngất xuống, tỉnh dậy thắp hương lên ban thờ tổ tiên chỉ lặp đi lặp lại một câu hỏi: “Vậy cớ sao từ ngày đưa bộ hài cốt ấy lên đồi cao, mẹ không còn mơ thấy em Hà về nữa?”… Đó là câu hỏi mà cho đến tận bây giờ, chẳng ai có thể giải đáp cho bà được.

Bà nội cùng cả gia đình ra bờ sông lập đàn vái vọng. Bà gọi: “Hà ơi! Con có nằm đâu cũng trên đất quê mình. Bom đạn, chiến tranh làm bao người đến lúc chết không về được quê cha đất tổ. Chắc con cũng gật đầu bằng lòng cho đứa trẻ cùng cảnh lưu lạc như con được nhà ta hương khói. Mộ đắp lên rồi, không ai về nhận, mình không đào xới thêm lần nữa, phải không con? Nhìn cảnh người, tủi kiếp mình, nhưng lòng yêu thương sẽ đưa đường cho con siêu thoát”. Ông Thư cụt và tất cả dân làng tôi chứng kiến toàn bộ câu chuyện đau buồn ấy. Ông chợt quỳ xuống trước dòng sông như tạ tội, rút bên hông quả lựu đạn giả ném đi. Khóe mắt ông nhỏ hai dòng nước.

Khi tôi học hành, lập nghiệp ở xa, cha tôi vẫn giữ thói quen viết thư tay cho con cái mỗi tuần, dù có điện thoại. Cha tôi kể chuyện làng, ông Thư đã bỏ nghề đỏ đen, cùng cha và dân làng hương khói nghĩa trang liệt sĩ, sơn lại tấm bia đá trên mỏm đồi và đón tiếp, chăm lo cho những gia đình ở xa về tìm mộ.

Một ngày, Nhâm trao cho tôi cuốn nhật ký đã bạc màu anh cất giữ suốt hành trình đi tìm bác dâu. Anh nói, anh không phải nhà văn nên chẳng biết bắt đầu từ đâu để kể cho mọi người nghe bao câu chuyện đầy yêu thương, trắc ẩn mà oan khuất. Anh họ của anh, một họa sĩ đã luôn tin vào tình yêu vẹn nguyên của người lính trở về sau cuộc chiến cũng nói, tuy anh là họa sĩ nhưng không thể vẽ được ánh nắng ảo mộng chập chờn trên chiếc dây phơi áo quần đầy ám ảnh hay màu đen nhức nhối của chiếc quần lụa đàn bà lóe lên suốt chuỗi ngày bác anh đợi vợ trở về sau những chuyến đi xa. Lật giở những trang nhật ký của bác ruột Nhâm, mắt tôi nhòa nước.

Tôi vẫn tin vào tình yêu vĩ đại của người phụ nữ đã đợi chờ mình suốt cuộc chiến tranh. Tôi từng nghĩ, nếu có thể trở về, sẽ dành cả cuộc đời còn lại để yêu thương, bù đắp. Dù cố giấu gia đình mọi vết thương chiến trận, cả mảnh đạn găm trong đầu thì nó vẫn lộ ra bằng những cơn điên loạn, những trận đòn roi tôi trút lên cô ấy… Chỉ riêng những chiếc ống nhòm khiến tim tôi đập chậm…

Hà Nội, tháng 7/2018

LỮ THỊ MAI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 487)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 375)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1043)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2499)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16681)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1184)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2976)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2901)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1042)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5142)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7101)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6414)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 485)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 375)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2499)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2341)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 919)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29508)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35651)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2008)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2976)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3295)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7692)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7033)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9698)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.